Một cách tiếp cận văn chương hiện đại


(Đọc Văn học Việt Nam hiện đại, sáng tạo & tiếp nhận, Tiểu luận – phê bình của Bích Thu, NXB Văn học, 2015)

                                                                                              Bùi Việt Thắng

            Trong trà viết lý luận phê bình sàn sàn tuổi nhau được đào tạo cơ bản như Tôn Phương Lan, Phan Trọng Thưởng, Bùi Việt Thắng, Phạm Quang Trung, Nguyên An, Trần Đăng Suyền, Lý Hoài Thu, thì Bích Thu là một cây bút vừa vững vàng về tri thức vừa xông xáo, mẫn cảm nghề nghiệp. Là người nữ nhưng đáng để phái mày râu “tâm phục khẩu phục” khi nhìn vào danh mục tác phẩm mà chị sở hữu (cả in riêng và in chung). So với Theo dòng văn học (Tiểu luận – phê bình, 1998), lần này Văn học Việt Nam hiện đại, sáng tạo & tiếp nhận được viết trên tinh thần của phê bình “thể loại” và “chân dung”. Cách lựa chọn, hay nói cách khác là cách tiếp cận này, thể hiện sự khôn ngoan của tác giả bởi vì như ai đó nói chí lí “thể loại chọn nhà văn”. Hơn 600 trang sách được bố cục trong hai phần lớn: Phần I / Thể loại – đặc trưng và phát triển, Phần II/ Nhà văn – chân dung và lối viết. Thoạt trông có vẻ như là hai phần độc lập, nhưng đọc kĩ sẽ thấy giữa chúng có sự liên thông, đan cài, bộ phận này soi sáng bộ phận kia, lý thuyết khai mở thực tiễn, thực tiễn kiểm nghiệm lý thuyết.

          Phần I (Thể loại – đặc trưng và phát triển) gồm 10 bài được viết từ năm 2005 đến 2013, thì có đến 5 bài riêng dành cho tiểu thuyết, 3 bài dành cho thể ký, 1 bài về thơ nữ đương đại và 1 bài về văn xuôi của phái đẹp. Không khó tìm câu trả lời cho câu hỏi vì sao Bích Thu quan tâm đến vấn đề thể loại của văn chương đương đại. Nói theo cách của M. Bakhtin thì thể loại là “nhân vật chính của tấn kịch văn học”. Cũng không khó tìm câu trả lời vì sao Bích Thu lại quan tâm tới tiểu thuyết khi chị dựa hẳn vào M. Bakhtin: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình”. Tác giả đã nhiều lần trích dẫn nhà khoa học ngữ văn Nga tài năng này và theo tôi đó là kim chỉ nam cho nghiên cứu thể loại nói chung, tiểu thuyết nói riêng. Bản thân tôi cũng đã dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và đương đại, nhưng vẫn thấy còn nhiều khoảng trống khó lấp đầy nếu không có đồng nghiệp như Bích Thu sát cánh, hỗ trợ và bổ sung những mảng màu cần thiết về bức tranh chung của một thể loại vẫn được coi là “máy cái” của văn chương Việt Nam thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI. Năm tiểu luận đầy đặn và sinh sắc của Phần I khiến văn giới nhận ra cái sở trường sở đoản của tác giả: Tiểu thuyết Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới, Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Khuynh hướng tái nhận thức trong tiểu thuyết Việt Nam đương đạiNgôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Năm bài viết này thể hiện năng lực khái quát trên cơ sở cái nhìn toàn cảnh về tiểu thuyết Việt viết bằng Quốc ngữ, dẫu ra đời muộn nhưng là thể loại có triển vọng lớn lao trong sự khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Càng ngày người ta càng nhận ra cái “thời của tiểu thuyết” đang hiện hữu trên văn đàn Việt đương đại. Năm bài viết này tạo nên “quả đấm thép” của cả tập sách, nó là “căn cước” nghiên cứu, lý luận phê bình văn chương của Bích Thu. Nói như một nhà văn, sau khi được tặng và đọc cuốn sách này, kiểu bài như thế không phải ai cũng viết được, ở nước ta chỉ đếm trên đầu ngón tay! Một lời khen có thể nồng nhiệt, nhưng tôi nghĩ nhiều phần đúng. Tôi nghĩ Bích Thu là một “cập thời vũ” trong phê bình thể loại khi chị viết về tiểu thuyết Việt những năm đầu thế kỉ XXI, về ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại, về khuynh hướng tái nhận thức trong tiểu thuyết Việt hôm nay. Không theo sát văn chương và tiểu thuyết, không có tình yêu văn chương và tiểu thuyết dân tộc, thiết nghĩ cùng lắm là vẽ nên được sơ đồ thể loại trong tiến trình chung của nghệ thuật ngôn từ. Tác giả đã vượt lên yêu cầu tối thiểu để “lặn” sâu vào thể loại tiểu thuyết. Tôi gọi đó là sự mẫn cảm nghề nghiệp, một phẩm tính không phải người làm công tác nghiên cứu, lý luận nào cũng sở hữu. Người ta nói một phẩm tính như thế có thể chủ yếu là Trời cho. Nhưng tôi nghĩ chủ yếu là do đam mê, là do tâm huyết với nghề, và cả do kì khu chữ nghĩa nữa. Năm bài viết này đứng cạnh nhau phác họa ra con đường của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, nhưng không quá nghiêng về lịch sử mà nghiêng về thi pháp thể loại tiểu thuyết vốn có một vai trò lớn: “Có ý nghĩa cơ bản đối với văn học dân tộc” (tr.21). Bài khảo sát về ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã làm phát lộ được ý nghĩa và chức năng của ngôn từ nghệ thuật trong một thể loại rường cột của văn chương dân tộc. Nhận định sau của Bích Thu là có cơ sở thực tiễn: “Từ sau Đổi mới đến nay, đặc tính đối thoại, đa âm trong ngôn ngữ và văn phong tiểu thuyết đã được gia tăng một cách rõ rệt” (tr.102). Nhưng đó không phải là một nhận định thuần lí trí, mà dựa trên sự khảo sát một thực tiễn phong phú của tiểu thuyết Việt từ sau 1986 với sáng tác tiêu biểu của Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận,…Tác giả nhận định thuyết phục: “Trong tiểu thuyết hôm nay, đặc biệt là ở các tiểu thuyết cách tân, sự đa dạng về ngôn ngữ không chỉ bao hàm sự hiện diện đồng thời của các loại lời của người trần thuật, nhân vật và lời gián tiếp tự do (đan xen lời của người trần thuật và lời nhân vật) mà còn là cuộc phiêu lưu thực sự của chủ thể các loại lời ấy trên cùng một văn bản, là sự trao gửi văn bản cho những “người phát ngôn ngoài chủ thể” – như một lối viết đã được “phong cách hóa” (tr.103). Tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang phát triển và chưa định hình, vì thế mà riêng tôi kỳ vọng vào đồng nghiệp của mình sẽ là người theo sát nó, quan sát nó, suy nghĩ thấu đáo về nó trong những công trình mới sẽ ra mắt  độc giả trong tương lai gần và xa.

          Phần II (Nhà văn – chân dung và lối viết) gồm 35 chân dung đồng nghiệp văn chương được Bích Thu viết từ 1999 đến 2013. Có hai kiểu chân dung: một thuộc những nhà cổ điển (như Đạm Phương nữ sử, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Bùi Hiển, Nguyễn Huy Tưởng, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Tế Hanh, Huy Cận, Ngân Giang), một thuộc những người cùng thời  (như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Tuấn Anh, Bùi Việt Thắng, Lý Hoài Thu với tư cách là đồng nghiệp nghiên cứu và các nhà văn như Nguyễn Khải, Hồ Phương, Hữu Mai, Vân Long, Nguyễn Bắc Sơn, Lê Văn Thảo, Lưu Quang Vũ, Dương Kiều Minh,…). Dựng chân dung nhà văn là một thử thách với bất kì người viết nào. Nghiêng về “đời” hay “văn”? Như cách viết của Tô Hoài về đồng nghiệp văn chương trong Cát bụi chân ai là nghiêng về “đời” với cái nhìn cận gần, “phi sử thi hóa”, hồn nhiên nhi nhiên. Không thể đòi hỏi Bích Thu viết như Tô Hoài được. Vì thế độc giả chấp nhận một lối tiếp cận, dựng chân dung “trung tính” kiểu như Phong Lê viết như một niềm say mê, Lê Thị Đức Hạnh lặng lẽ thành danh, Phác thảo Nguyễn Bắc Sơn, Cốt cách thơ Dương Kiều Minh,…Trong phần này viết về các tác giả văn xuôi vẫn là thế mạnh của Bích Thu. Riêng tôi thích bài Phác thảo Nguyễn Bắc Sơn hơn cả vì nhiều lẽ. Trước hết vì Nguyễn Bắc Sơn đang là một nhà văn “ăn khách” với các tiểu thuyết có tiếng vang như Luật đời và cha con, Lửa đắng, Gã Tép Riu. Tôi gọi đó là những cuốn tiểu thuyết chính trị – thế sự. Với cây bút ở tuổi bốn mươi mới trình làng văn này Bích Thu đã nhận ra nẻo lối đi vào văn chương của tác giả là bằng ký ức lương thiện, bằng sự trải nghiệm dày dặn của một người sống vừa lắm đam mê, vừa có ý thức cao độ về lẽ sinh tồn, vừa biết tích lũy kinh nghiệm nghệ thuật qua nhiều năm làm công tác quản lý báo chí. Và quan trọng hơn là tác giả đã chỉ ra cái phẩm tính “đến nơi đến chốn” (hiểu là tận cùng cảm xúc và lí trí) của Nguyễn Bắc Sơn trong sống cũng như viết. Đó là một nét thần thái chộp được của nhà tiểu thuyết mà Bích Thu cảm mến.

          Tôi vẫn nghĩ bạn văn của mình có sở trường phê bình văn xuôi, nhưng khi đọc lại cả hai tập tiểu luận – phê bình của Bích Thu chợt nhận ra với thơ, Bích Thu cũng đồng cảm, đồng điệu và viết đều tay (tổng cộng chị đã viết 21 bài về các tác giả thơ, riêng Dương Kiều Minh 2 bài), thậm chí lên tay trong một vài trường hợp. Bài Cốt cách thơ Dương Kiều Minh (viết 2013) theo tôi, phát lộ thêm một Bích Thu khá đồng vọng với bạn thơ. So với bài Dương Kiều Minh viết năm 1995 thì bài sau đậm đà và tinh tế hơn, không phải do nhờ thời gian kiểm nghiệm mà do góc nhìn, do cách tiếp cận mới hơn nên đối tượng được vẽ sinh sắc hơn, thần thái hơn. Bích Thu đã nắm bắt được cái cảm thức thời gian trong thơ Dương Kiều Minh càng về cuối càng rõ, dường như nhà thơ linh cảm thấy cái quỹ thời gian sống của mình không còn rộng dài nên rốt ráo sống và viết hơn: “Có lẽ nhà thơ Dương Kiều Minh đã tiên lượng được một điều gì đó đang “chuyển mùa” trong mình nên lẽ ra tập thơ mang tên Khúc chuyển mùa sẽ ra đời vào năm 2013, thì anh cho in luôn vào Toàn tập thơ Dương Kiều Minh” (…). Trong thơ Dương Kiều Minh khái niệm thời gian chảy trôi theo dòng cảm giác của cái tôi trữ tình. Vì cảm xúc, suy tư của nhà thơ trôi theo dòng cảm giác nên thời gian trong thơ Dương Kiều Minh thường nhòe đi, quá khứ và hiện tại xen lẫn bởi sự đột hiện của những hồi ức, kỉ niệm, hoài tưởng từ dĩ vãng, mờ mờ nhân ảnh. Thế giới tâm linh hiện hữu trong tiếng vọng của cội nguồn, của mẹ, của quá vãng, tuổi ấu thơ xâu chuỗi trong các tập thơ của Dương Kiều Minh càng về sau càng quằn quại, dữ dội và thống thiết. Ở đây thời gian được ý thức như là sự chia xa, tạ từ, vĩnh biệt, không chỉ có ý nghĩa cụ thể mà còn có ý nghĩa tượng trưng” (tr.438). Viết như thế là hơn cả phê bình, là chạm đến tri âm tri kỉ giữa tác giả với nhà thơ.

          Bích Thu là người viết phê bình có văn. Phẩm tính này là quý hiếm không phải ai trong giới cũng sở hữu. Chất văn thể hiện ngay trong các nhan đề gợi sự chú ý của độc giả: Hàn Mặc Tử – đau thương như một kinh nghiệm thẩm mỹ, Bích Khê – thuần túy và tượng trưng, Huy Cận ngọn lửa thiêng không tắt, Cốt cách Dương Kiều Minh, Lê Thị Đức Hạnh lặng lẽ thành danh, Lý Hoài Thu và sự mở đầu ấn tượng,…Nhưng đó chưa phải là căn cốt của chất văn trong phê bình. Văn phê bình của Bích Thu kết hợp được cả hai phẩm tính vững chãi (về lý thuyết) và mềm mại (thẩm định tác phẩm).

          Chỉ có một khiếm khuyết nhỏ: 45 bài tác giả đưa vào trong tập sách gần như là tất cả những gì chị viết được trong vòng 14 năm sau khi ra mắt tập tiểu luận – phê bình thứ nhất, xuất bản năm 1998, nên độ dày của sách đáng nể lên tới 627 trang in. Giá như tác giả lựa chọn kỹ càng hơn, thậm chí mạnh dạn cắt bỏ một số bài thì cuốn sách sẽ có vẻ đẹp gọn ghẽ hơn, sáng sủa hơn, ấn tượng hơn./.

                                                                             Hà Nội, tháng 7 năm 2015

                                                                                      B.V.T

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do tác giả gửi

Leave a Reply