Một người thầy thuộc thế hệ các nhà nghiên cứu khai sơn phá thạch


Nguyễn Xuân Kính

 1. Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2003, ba giáo sư văn học Đỗ Đức Hiểu (sinh năm 1924), Bùi Văn Nguyên (sinh năm 1918), Đinh Gia Khánh (sinh năm 1924) liên tiếp ra đi. Tháng 5 năm 2003, giáo sư Hoàng Như Mai (1919 – 2013), viết “Lời hoài niệm một thế hệ”, “thế hệ các giảng viên đại học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”(1).

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, người Việt Nam không được đứng trên bục giảng của trường đại học. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, tình hình đổi khác.

Trong kháng chiến chống Pháp, khi nước ta thành lập Trường Sư phạm trung cấp ở Khu Học xá trung ương (đặt tại Quảng Tây, Trung Quốc), thầy Đinh Gia Khánh được điều từ trường Hàn Thuyên (tỉnh Bắc Ninh) đến dạy. Ở trường cũ, thầy dạy Anh văn, nhưng đến trường mới, thiếu thầy dạy văn học Việt Nam, thầy được phân công dạy và với tinh thần trong sáng và vượt khó hồi ấy, thầy đã nhận dạy không chút đắn đo.

Từ năm 1956, giáo sư Đinh Gia Khánh được điều động dạy văn học trung đại (lúc đó gọi là văn học cổ Việt Nam) và văn học dân gian tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Lúc này thầy 32 tuổi, “trở lại đời học trò, tự đào tạo, tự học, học để làm thầy”(2).

Sau gần bốn mươi năm công tác ở trường đại học, năm 1983 giáo sư chuyển biên chế về Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, với trách nhiệm Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa dân gian (được phép xuất bản từ tháng 1 năm 1983) và Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian (được thành lập từ tháng 9 năm 1983).

Năm 1999, thầy nghỉ hưu. Thầy từ trần ngày 7 tháng 5 năm 2003 tại Hà Nội.(3)

 Sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu khoa học của giáo sư Đinh Gia Khánh thể hiện trong ba lĩnh vực:

            + Văn học dân gian;

            + Văn học trung đại Việt Nam;

            + Văn hóa dân gian và văn hóa.

2. “Những công trình khoa học về văn học dân gian của giáo sư Đinh Gia Khánh hầu hết được viết trong khoảng thời gian từ những năm đầu thập niên sáu mươi tới những năm cuối thập niên bẩy mươi của thế kỉ XX. Đó là thời gian diễn ra những sự kiện trọng đại của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, điều có thể thấy trước tiên khi đọc các công trình nghiên cứu ấy là tinh thần công dân, là ý thức chính trị và tính thời sự của công việc nghiên cứu của tác giả. Bầu không khí thời đại thấm đẫm nhiệt tình yêu nước và chủ nghĩa anh hùng in dấu trong các công trình nghiên cứu về văn học dân gian của ông không chỉ biểu hiện trong nội dung các phân tích và bình luận về các sự kiện văn học dân gian cụ thể mà cả trong những suy nghĩ và thực hành về các vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian của ông”(4). Nhận xét vừa nêu của phó giáo sư Chu Xuân Diên, một người vốn là học trò, về sau trở thành đồng nghiệp và người cộng sự không thể thiếu của giáo sư Đinh Gia Khánh là hoàn toàn chính xác. Sau năm 1986, trong không khí cổ vũ đổi mới, có người lên tiếng chê bai tinh thần công dân và ý thức chính trị trong công trình của giáo sư Đinh Gia Khánh. Tuy tôi là kẻ hậu sinh, song tôi cũng đã được sống trong những năm tháng đó và tôi thấy lời chê bai kia là không thỏa đáng.

 Được giao nhiệm vụ xây dựng và lãnh đạo bộ môn văn học dân gian Việt Nam ở bậc đại học, giáo sư Đinh Gia Khánh có hai mối quan tâm. Thứ nhất, đó là việc xác định bản chất của đối tượng nghiên cứu. Về điều này, ông thể hiện tập trung trong bài viết “Để có thể nắm bắt thực chất của văn học dân gian” (Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977) và chương 3 “Văn hóa dân gian (folklore) là nghệ thuật nguyên hợp” trong cuốn sách Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian (Nxb Khoa học xã hội, 1989). Mối quan tâm thứ hai là nghiên cứu lịch sử văn học dân gian và lịch sử của việc sưu tầm, tìm hiểu văn học dân gian. Mối quan tâm này thể hiện tập trung ở tập 1 của bộ sách Văn học dân gian, hai tập, xuất bản lần đầu 1972 – 1973. So với tập giáo trình đầu tay xuất bản năm 1962, trong bộ giáo trình này, cùng với sự phát triển chung của cả khoa nghiên cứu văn học dân gian nước nhà, giáo sư Đinh Gia Khánh và phó giáo sư Chu Xuân Diên đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Đó là việc lí giải sâu sắc, toàn diện đặc trưng của văn học dân gian, việc trình bày lịch sử sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn học dân gian người Việt theo tiến trình lịch sử bên cạnh việc phân tích nó theo thể loại. Cùng với thời gian, những người đi sau có thể điều chỉnh hoặc bàn lại luận điểm này hay nhận xét kia của bộ sách, nhưng nhìn chung, giáo trình này là một thành tựu khó vượt qua về tính chất hoàn chỉnh và toàn diện; tính chất này thể hiện ở hệ thống các vấn đề, các chương mục, và trong việc phân tích, lí giải từng vấn đề. Về những nội dung nghiên cứu theo lịch sử, phó giáo sư Chu Xuân Diên cho rằng, “những phần khó hơn cả” là do giáo sư Đinh Gia Khánh đảm nhiệm(5).

 Không chỉ xây dựng uy tín khoa học bằng những cuốn sách có tính hệ thống, lập luận thuyết phục, giáo sư Đinh Gia Khánh còn để lại những bài viết sâu sắc, với nhiều khám phá như bài “Nhận xét về đặc điểm của câu mở đầu trong thơ ca dân gian” (1966) những bài khảo cứu in ở đầu các bản dịch Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái.

3. Về văn học trung đại Việt Nam, đúng như phó giáo sư Bùi Duy Tân (1935 – 2009) nhận xét, có thể quy tụ các công trình của thầy Đinh Gia Khánh thành ba cụm. Thứ nhất là các công trình về lịch sử văn học. Thứ hai là các công trình khảo cứu, biên soạn, giới thiệu, dịch, phiên âm tác phẩm Hán Nôm. Thứ ba là các công trình khảo cứu, biên soạn, giới thiệu, dịch, phiên âm tác phẩm Hán Nôm.

 Tìm hiểu cho cụm công trình về lịch sử văn học là Văn học cổ Việt Nam (thế kỉ X – thế kỉ XVII), xuất bản năm 1964, viết cùng phó giáo sư Bùi Duy Tân. Đặc điểm của giáo trình này là lần đầu tiên văn học Hán Nôm được nghiên cứu một cách hệ thống. “Với tập giáo trình từng được dùng đào tạo nhiều khóa sinh viên thời chống Mỹ cứu nước, giáo sư Đinh Gia Khánh là thầy giáo mở lối, dẫn đường cho việc biên soạn giáo trình văn học cổ của Trường Đại học tổng hợp”(6). Hơn mười năm sau, tập giáo trình này về cơ bản được viết lại “với diện mạo và tính chất, tư liệu và kiến giải đổi mới, nâng cao”(7). Đó là giáo trình Văn học Việt Nam (thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII) của ba tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, do giáo sư Đinh Gia Khánh làm chủ biên, gồm hai tập, xuất bản lần đầu 1978 – 1979. Viết lịch sử văn học, thầy Đinh Gia Khánh thường tiếp cận dưới góc độ văn hóa và thường đưa ra một “kết cấu hợp lí cho việc trình bày diện mạo, tính chất đặc thù của một giai đoạn, một thế kỉ văn học”(8).

Trong số các vấn đề văn học mà giáo sư quan tâm có vấn đề quan niệm, đặc trưng, thể loại, nhân vật văn học trung đại. Nếu như bài “Tổng luận” (mở đầu bộ Tổng tập văn học Việt Nam, công bố lần đầu năm 1980) thể hiện trình độ khái quát cao, năng lực bao quát rộng của giáo sư đối với mười thế kỉ văn học viết nước nhà (từ thế kỉ X đến Cách mạng tháng Tám năm 1945) thì các bài viết của giáo sư về bài Nam quốc sơn hà và bài Bình Ngô đại cáo lại thể hiện “tài năng phân tích cụ thể thật sâu xa, tinh tế”(9).

Giáo sư Đinh Gia Khánh còn phiên dịch chú giải, giới thiệu thơ văn chữ Hán như Quân trung từ mệnh tập (của Nguyễn Trãi), một số bài thơ trong Bạch Vân am thi tập (của Nguyễn Bỉnh Khiêm), bốn chương trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp. Giáo sư phiên âm, chú giải, giới thiệu Thiên Nam ngữ lục (một diễn ca lịch sử khuyết danh dài hơn tám ngàn câu thơ Nôm), cùng với giáo sư Nguyễn Lương Ngọc, tập truyện thơ Nôm Lâm tuyền kì ngộ (còn gọi là Bạch Viên Tôn Khác, viết bằng thể thơ Đường luật), cùng giáo sư Nguyễn Ngọc San. Sách Điển cố văn học (xuất bản lần đầu 1977) do giáo sư chủ biên đến nay vẫn là một “công cụ đắc dụng cho việc tra cứu điển cố văn học Nôm”(10).

 Xin được bàn thêm về bộ Tổng tập văn học Việt Nam. Phó giáo sư Bùi Duy Tân viết về công trình tập thể, do giáo sư Đinh Gia Khánh đề xuất và làm Chủ tịch Hội đồng biên tập như sau: “Công trình khởi động từ năm 1978, năm 1980 xuất bản được tập đầu và tập cuối, năm 1998 mới in xong, năm 2000 tái bản thành 42 tập, do hàng trăm học giả biên soạn, hàng vạn tác phẩm được tuyển chọn, mấy vạn trang khổ lớn được in ấn. Bộ sách đồ sộ bậc nhất của thời đại này, thâu tóm mười thế kỉ văn học, mở đầu là bài “Nam quốc sơn hà”, được coi như bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên, qua “Đại cáo bình Ngô”, đến “Tuyên ngôn Độc lập” (2 – 9 – 1945)”(11). Do quá trình khởi động, biên soạn và xuất bản diễn ra trong thời gian dài (từ năm 1978 đến 1998 là 20 năm), quan điểm nhìn nhận và sự đánh giá một số tác gia, hiện tượng văn học có thay đổi. Khi đề cương Tổng tập văn học Việt Nam được xây dựng (trước năm 1980), phong trào Thơ mới và các sáng tác của Vũ Trọng Phụng được đánh giá khác. Sau năm 1986, việc đánh giá các hiện tượng văn học vừa nêu đã thay đổi, và việc thay đổi trong cách đánh giá, nhận định dẫn đến việc phải tăng số tập, số trang so với kế hoạch. Vì thế đã dẫn đến tình trạng có tập có đến quyển A, quyển B, quyển C (về thực chất là ba tập). Không chỉ đơn giản là thay đổi về số lượng, những nhận định trong các tập đã xuất bản ở thời gian đầu còn khác, còn “vênh” với những kiến giải, nhận định ở các tập xuất bản trong thời gian sau. Đây là hạn chế của bộ sách do khách quan đem lại. Đồng nghiệp và công chúng chắc cũng sẽ đánh giá bộ sách thấu tình đạt lí ở điểm này. Bên cạnh đó, có những hạn chế mà giới nghiên cứu khó thông cảm. Ở lần tái bản, trong tập 1, về bài “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, soạn giả vẫn ghi tác giả là Lí Thường Kiệt là không cập nhật tình hình nghiên cứu; ở tập 14, thơ Nguyễn Khuyến bị xếp lẫn vào thơ Tú Xương là điều hết sức đáng tiếc; ở các tập 39, 40, 41 việc xếp luật tục Ê Đê, luật tục Mơ Nông, các sử thi của người Ê Đê, Mơ Nông, Mường;… vào lĩnh vực văn học viết gây ngạc nhiên trong giới nghiên cứu văn học. Họ đều biết rằng văn học dân gian và văn học viết (còn gọi là văn học thành văn) là hai loại hình văn học khác nhau. Tuy rằng trong thực tế, có một số trường hợp mà ở đó ranh giới giữa dân gian và thành văn khó xác định nhưng không phải vì thế mà đánh đồng cả văn học dân gian và văn học viết. Tổng tập văn học Việt Nam là bộ sách về văn học viết, còn luật tục và sử thi là văn học dân gian. Có thể thầy Đinh Gia Khánh không thuyết phục được người có thẩm quyền cao hơn, hoặc do nể nang, ngại va chạm nên để xảy ra tình trạng đưa văn học dân gian vào tổng tập văn học viết. Ai cũng biết, người chủ trì ba tập 39, 40, 41 là vị giáo sư dân tộc học, rất có cá tính, không thuộc giới nghiên cứu văn học. Thầy là Chủ tịch Hội đồng biên tập, chắc thầy đã rất áy náy về việc này.

 4. Thầy Đinh Gia Khánh thành thạo tiếng Pháp và tiếng Anh, biết Hán Nôm (sự hiểu biết này chủ yếu do tự học). Ông bao quát cả văn học viết và văn học dân gian, nhiều năm là tổ trưởng tổ văn học viết trung đại và văn học dân gian, đã định hướng nghiên cứu và có ảnh hưởng tích cực đến một đội ngũ những người nghiên cứu và giảng dạy văn học viết, văn học dân gian. Trong số đó, không ít người đã thành công và thành danh như Bùi Duy Tân, Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn,… Thầy không phải là một hiện tượng cá biệt, mà là người tiêu biểu cho một “típ” nhà trí thức, nhà khoa học của một thời kì mà có lẽ lịch sử sẽ không lặp lại. Ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội, giáo sư Bùi Văn Nguyên là người am hiểu Hán học, biết tiếng Pháp, cũng rất nhiều năm là tổ trưởng chuyên môn tổ văn học viết trung đại và văn học dân gian, cũng để lại nhiều cuốn sách, bài viết về cả hai lĩnh vực văn học viết và sáng tác ngôn từ truyền miệng, cũng từng một thời gian giữ trọng trách Tổng Thư kí Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Đó là hai nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu cho lớp người của một thời kì lịch sử nhất định. Ngày nay với sự phân ngành và phát triển của khoa học, các chuyên gia thường thể hiện mình trong lĩnh vực chuyên môn sâu và hẹp hơn; tất nhiên cũng có xu hướng nghiên cứu liên ngành hoặc tổng hợp.

5. Tháng 12 năm 1979, Ban Văn hóa dân gian (tiền thân của Viện Nghiên cứu văn hóa hiện nay), trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập và tháng 2 năm 1980 giáo sư Đinh Gia Khánh được cử làm Trưởng ban (kiêm nhiệm) tổ chức này.

Sau mười năm ra đời của Ban Văn hóa dân gian, chuyên luận Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian của thầy được Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố. Trong mười năm ấy, giới nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam đã đạt những thành tựu bước đầu trong việc sưu tầm tư liệu, trong việc nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó, giới nghiên cứu văn hóa dân gian đã có bước tiến với một trình độ nhất định về lí luận và phương pháp luận. Yêu cầu khách quan của khoa học cũng như sự chín muồi của nó đòi hỏi và cho phép ra đời những công trình có giá trị tổng kết. Tuy với nhan đề khiêm tốn, nhưng về thực chất, cuốn sách của thầy đã vươn tới sự khái quát cao, đặt nền móng cho sự phát triển của ngành folklore học Việt Nam. Cuốn sách vừa đúc kết những vấn đề cơ bản, vừa gợi mở để chúng ta tiếp tục suy nghĩ về những vấn đề mà tác giả chưa có điều kiện đi sâu hoặc chưa phân tích hết tất cả các khía cạnh tinh vi, cụ thể của chúng. Tính chất nguyên hợp có phải là thuộc tính của tất cả các thể loại văn hóa dân gian hay không, mức độ đậm nhạt của nó thể hiện trong các thành tố của văn hóa dân gian như thế nào? Đặc trưng của văn hóa dân gian hiện đại là gì? Thi pháp của nó có gì kế tục và những gì đổi mới khác với truyền thống? Đó là những điều mà giới nghiên cứu cần tiếp tục trao đổi.

 Cùng với chuyên luận Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, với những bài đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian: “Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian” (1983, số 1), “Văn hóa dân gian hay folklore là gì?” (1983, số 1, số 2), “Vị trí của nghệ thuật tạo hình dân gian trong văn hóa dân tộc và văn hóa dân gian” (1984, số 3), “Việc nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn dân gian trong chỉnh thể nguyên hợp của văn hóa dân gian” (1984, số 4), “Ý nghĩa xã hội và chính trị của việc nghiên cứu văn hóa dân gian” (1991, số 2), “Văn hóa dân gian và xã hội hiện đại” (1993, số 4), với bài viết “Phương pháp tổng hợp trong việc nghiên cứu folklore” (in trong cuốn Văn hóa dân gian. Những phương pháp nghiên cứu, 1990), thầy Đinh Gia Khánh thực sự là người đặt nền móng cho khoa nghiên cứu văn hóa dân gian nước nhà.

 Cũng có ý nghĩa như vậy là cuốn sách xuất bản năm 1993 của thầy: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á. Về giá trị của cuốn sách này, đúng như phó giáo sư Phan Ngọc đã đánh giá, “đây là công trình đầu tiên cung cấp một cái nhìn không những về văn hóa dân gian mà cả về văn hóa Việt Nam nói chung trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á. Nó giúp cho mọi người quan tâm tới văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á thấy được cơ sở chung làm tiền đề nghiên cứu cho từng hiện tượng văn hóa ở vùng này và trong từng nước một. Điều này đặc biệt bổ ích đối với những người quen nhìn văn hóa tĩnh và hẹp. Nó cung cấp cho người đọc một cách tiếp cận mới, rộng lớn và, do đó, sâu sắc hơn. (…) Cách trình bày của tác giả là theo một khuôn khổ vừa phải, có mức độ và nghiêm túc”(12).

Trong sách Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam (1995), giáo sư Đinh Gia Khánh tìm hiểu ý nghĩa và tác dụng của văn hóa dân gian “đối với việc tìm ra các phương pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội, góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam”(13). Những trang ông viết về làng xã, hương ước, hội làng, tín ngưỡng bản địa không phải là những vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Trước ông, đã có không ít tác giả dành nhiều giấy mực cho những vấn đề này. Song những vấn đề đó, dưới ngòi bút của giáo sư Đinh Gia Khánh, được thể hiện một cách sáng rõ với sự phân tích uyển chuyển, chừng mực, giàu sức thuyết phục.

Nhìn lại toàn bộ tư tưởng học thuật của giáo sư Đinh Gia Khánh trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian, chúng ta thấy vấn đề xác định hai nghĩa rộng, hẹp của khái niệm văn hóa dân gian và vấn đề phương pháp nghiên cứu là những vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng.

Theo giáo sư Đinh Gia Khánh, những mặt, những “bộ phận” trong văn hóa dân gian với nghĩa rộng (folk culture) được tiếp cận từ giác độ thẩm mĩ, tạo thành văn hóa dân gian; với nghĩa hẹp (folklore), cụ thể là “bao gồm văn nghệ dân gian (ngữ văn, âm nhạc, vũ đạo, hội họa, điêu khắc, nghệ thuật trang trí, v.v.) và những hiện tượng cũng như vật phẩm mang tính chất thẩm mĩ nảy sinh từ sản xuất và chiến đấu”. Nhà giáo Chu Xuân Diên nhận xét rằng, quan niệm này “được tóm gọn lại trong công thức folkore là folk culture được tiếp cận với giác độ thẩm mĩ”(14).

Phó giáo sư Chu Xuân Diên đã phân tích rất đúng rằng trong folklore không chỉ gồm loại sự kiện, hiện tượng được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ, mà còn có những sự kiện, hiện tượng khác như lễ thức, phong tục, tri thức dân gian bản địa. Ở Việt Nam, bên cạnh giới thuyết của giáo sư Đinh Gia Khánh về folklore, còn có những tác giả khác như giáo sư Trần Quốc Vượng, giáo sư Nguyễn Tấn Đắc mở rộng quan niệm ấy. “Điều phân biệt quan trọng khiến cho quan niệm mở rộng về folklore nói trên khác với quan niệm coi “folkore là folk culture được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ” không phải là sự mở rộng về danh mục các sự kiện (các hình thức) văn hóa mà là sự khác nhau về hướng tiếp cận. Hướng tiếp cận của quan niệm mở rộng về folklore là hướng tiếp cận nhân học văn hóa”(15). Phó giáo sư Chu Xuân Diên nhận xét: “Hướng tiếp cận nhân học văn hóa của quan niệm mở rộng về folklore dường như ngày càng rõ nét trong thực tiễn sưu tầm, miêu tả và nghiên cứu văn hóa dân gian ở Việt Nam”(16). Chính khuynh hướng nghiên cứu này nhằm mục đích phát hiện ra hệ giá trị văn hóa và hệ biểu tượng của folklore vừa bao gồm được cả mục đích phát hiện ra những giá trị thẩm mĩ của folklore vừa điều chỉnh được phương pháp nghiên cứu phù hợp với những đặc điểm của những giá trị thẩm mĩ ấy. Cũng theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên, phương pháp tổng hợp (theo cách gọi của giáo sư Đinh Gia Khánh) còn được gọi là phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tiếp cận tổng hợp, phương pháp tiếp cận chỉnh thể,… “Quá trình hình thành các phương pháp nghiên cứu đặc trưng cho từng bộ môn folklore trong mối quan hệ với phương pháp tiếp cận tổng thể về folklore, chính là một quá trình thử thách và trưởng thành của folklore học Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề về phương pháp luận cần được làm sáng tỏ”(17).

Như vậy, tư tưởng học thuật của nhà khoa học Đinh Gia Khánh vừa có tác dụng tổng kết, định hướng, lại vừa dành phần đất rộng rãi cho sự thảo luận.

Chúng tôi đã và nay xin tiếp tục khẳng định hai vấn đề dưới đây:

 + Trong khi đã ra đời khoa nghiên cứu văn hóa dân gian (folklore học) thì khoa nghiên cứu văn học dân gian với quy phạm riêng của mình vẫn tồn tại. Văn học dân gian vừa là đối tượng nghiên cứu, giảng dạy ở trường phổ thông và trường đại học (nằm trong khoa ngữ văn) vừa được nghiên cứu ở khoa nghiên cứu văn hóa dân gian (với tư cách là một thành tố của văn hóa dân gian).

+ Nhân học văn hóa (cultural anthropology) là một nhánh, một phần của nhân học, hay còn gọi là nhân loại học (anthropology). Các nhà folklore học và nhân học văn hóa xác định việc nghiên cứu văn hóa dân gian (theo nghĩa rộng) với tư cách là một nhánh, một phần của nhân học văn hóa. “Với tư cách là một nhánh, một bộ phận của nhân học văn hóa, folklore học cũng có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chung của nhân học văn hóa. Song trong khi giải quyết những nhiệm vụ chung của nhân học văn hóa, folklore học cũng có những vấn đề riêng của mình”(*). Đó là lí do tồn tại của khoa nghiên cứu văn hóa dân gian(18).

6. Với tư cách là người quản lí, giáo sư Đinh Gia Khánh đề xuất nhiệm vụ phối hợp với các tỉnh trong việc biên soạn địa chí văn hóa dân gian: Địa chí văn hóa Vĩnh Phú. Văn hóa dân gian vùng Đất Tổ (1986) do nhà thơ Xuân Thiêm và họa sĩ Ngô Quang Nam chủ biên, Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (1995) do giáo sư Nguyễn Đổng Chi chủ biên. Với tư cách là nhà khoa học, giáo sư Đinh Gia Khánh là chủ biên Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội (1991). Với tư cách là người quản lí, cùng với một số cộng sự, giáo sư Đinh Gia Khánh đã tích cực xây dựng Ban Văn hóa dân gian và Tạp chí Văn hóa dân gian ngay từ những ngày hai tổ chức này còn trứng nước, gặp không biết bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn. Xuất phát từ sự khởi động ban đầu bởi uy tín khoa học và khả năng tập hợp đội ngũ của ông cùng với sự nỗ lực của nhiều người khác, Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian trước đây(19) và Tạp chí Văn hóa dân gian hôm nay đã có những đóng góp quan trọng đối với khoa folklore học Việt Nam.

7. Kể từ Thập kỉ thế giới phát triển văn hóa (1988 – 1997), việc nghiên cứu và giảng dạy văn hóa được chú ý và càng ngày càng đẩy mạnh. Trong bối cảnh đó, thầy Đinh Gia Khánh có dịp được bộc lộ sở đắc của mình qua các bài viết:

+ “Tinh thần cởi mở và năng động của văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa dân gian, năm 1990, số 1

+ “Văn hóa và quán tính của lịch sử,” trong tập sách nhiều tác giả: Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát triển, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993;

+ “Văn hóa và thích nghi,” trong tập sách nhiều tác giả: Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

Trong cuốn sách Các vùng văn hóa Việt Nam (giáo sư Đinh Gia Khánh và nhà thơ Cù Huy Cận chủ biên, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995), thầy viết về các vùng văn hóa Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội; đồng bằng miền Bắc Việt Nam; Việt Bắc; Nghệ Tĩnh; Thuận Hóa – Phú Xuân; đồng bằng miền Nam. Đặc biệt, thầy là tác giả bài “Đại cương về tiến trình văn hóa Việt Nam”, cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về lịch sử văn hóa, trước khi tiếp xúc với các vùng văn hóa phong phú, đa dạng của đất nước.

Viết về lịch sử văn hóa nước nhà, có học giả thích dùng từ diễn trình với chủ ý muốn nói rằng các sự kiện, các diễn biến văn hóa nước ta có khi tiến lên phía trước, có khi dừng, có khi trồi, có khi sụt, thâm chí có lúc lùi. Giáo sư Đinh Gia Khánh không phải không biết điều này; nhưng ông luôn luôn tin rằng nhìn về đại thể, cuộc sống bao giờ cũng tiến lên phía trước. Ở cơ quan và trong gia đình, bất cứ lúc nào, ông cũng có cái nhìn lạc quan, đôn hậu, tin ở mình cũng như tin ở người. Cuộc sống luôn luôn tiến lên, con người phải lao động, sáng tạo để tiến lên phía trước. Đó chính là một trong những tư tưởng chủ đạo của giáo sư Đinh Gia Khánh về văn hóa. Ngoài ra, các khái niệm năng động, cởi mở, thích nghi cũng là những điểm sáng trong tư tưởng, cũng như trong phương châm hành xử của thầy.

8. Sinh thời, thầy Đinh Gia Khánh được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất; tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ cho cụm công trình về văn học dân gian, văn hóa dân gian. Khi tuổi cao sức yếu, thầy được cô ân cần chăm sóc. Thầy cô vui mừng trước sự trưởng thành, thành đạt và hiếu thảo của các con. Thầy đã công thành danh toại, phúc lộc đủ đầy. Lời hoài niệm của thầy Hoàng Như Mai dành cho các giáo sư Đỗ Đức Hiểu, Bùi Văn Nguyên, Hoàng Tuệ, Nguyễn Lương Ngọc,… đã đúng, lại càng chính xác đối với thầy:

“Các anh, thế hệ giáo sư văn học bậc đại học, thế hệ các nhà nghiên cứu khai sơn phá thạch ấy, ra đi để lại nhiều thương tiếc cho các môn đồ, các nhà khoa học hậu sinh. Vì các anh là những tấm gương sáng về lao động trí tuệ, về tài năng, về đạo đức; đất nước rất cần các anh.

Thế nhưng, những cây đại thụ, rồi thành cổ thụ, đến một thời điểm nào đó cũng chịu quy luật của thời gian. Các anh không còn nữa, nhưng trên dải đất của các anh, xưa cỏ cây thưa thớt, nay đã thành rừng có hàng ngàn cây gỗ quý hiếm. Các anh đã có những người thừa kế…”(20).

                                                Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2013

 CHÚ THÍCH

(1) Hoàng Như Mai (2003), “Lời hoài niệm một thế hệ”, Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 6, tr. 13. Số tạp chí này xuất bản tháng 6, có nghĩa là sau một tháng giáo sư Đinh Gia Khánh từ trần. Năm 2008, bài này được in lại trong sách: Hoàng Như Mai (2008), Hoàng Như Mai văn tập, Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

(2) Hoàng Như Mai (2003), bđd, tr. 14

(3) Về một số mốc thời gian trong tiểu sử của giáo sư Đinh Gia Khánh, các tài liệu ghi khác nhau. Sách Các tác gia nghiên cứu văn hóa dân gian (1995), do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, tr. 95 và sách Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian 20 năm xây dựng và phát triển (1999), do Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian biên soạn, tr. 212 ghi năm sinh của thầy là 1925. Sách: Đinh Gia Khánh (2003), Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tr. 7 và sách Đinh Gia Khánh tuyển tập, (2007), tập 1, tr. 7 ghi năm sinh của thầy là 1924. Sách: Đinh Gia Khánh (2003), Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tr. 7 ghi thầy là Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian từ năm 1984; trong khi sách Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian 20 năm xây dựng và phát triển, tr. 101, 212, sách Đinh Gia Khánh tuyển tập, tập 1, tr. 7 ghi thầy giữ chức vụ này từ năm 1983.

(4) Chu Xuân Diên (2007), “Giáo sư Đinh Gia Khánh – người đặt nền móng cho khoa nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam”, trong sách: Đinh Gia Khánh tuyển tập, tập 1, Nxb. Giáo dục, in tại Thanh Hóa, tr. 11.

(5) Chu Xuân Diên (2007) bđd, tr. 17 .

(6) và (7) Bùi Duy Tân (2007), “Giáo sư Đinh Gia Khánh và những cống hiến cho khoa nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam”, trong sách: Đinh Gia Khánh tuyển tập, tập 2, Nxb. Giáo dục, in tại Thanh Hóa, tr. 6. 

(8) Bùi Duy Tân (2007), bđd, tr. 8.

(9) Bùi Duy Tân (2007), bđd, tr. 12.

(10) Bùi Duy Tân (2007), bđd, tr. 13.

(11) Bùi Duy Tân (2007), bđd, tr. 11.

(12) Phan Ngọc (1993), bài điểm sách, Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội, số 2, tr. 92.

(13) Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 7.

(14) Chu Xuân Diên (2001), “Nhìn lại một vài quan niệm lí thuyết và phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian ở Việt Nam”, trong tập sách Nhiều tác giả: Một thế kỉ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr. 28. Chỗ in nghiêng là theo giáo sư Đinh Gia Khánh, trong sách Trên đường tìm hiểu… tr. 27

(15)và (16) Chu Xuân Diên (2001), bđd, tr. 31. 

(17) Chu Xuân Diên (2001), bđd, tr. 36.

(18) Nguyễn Xuân Kính (2001), “Một thế kỉ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian Việt Nam”, trong tập sách nhiều tác giả: Một thế kỉ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian, sđd, tr. 67 – 68.

(*) Những chỗ trong ngoặc kép là chúng tôi trích dẫn Chu Xuân Diên – N. X. K.

(19) Từ 15/1/2004, Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian đổi thành Viện Nghiên cứu văn hóa.

(20) Hoàng Như Mai (2003), bđd, tr. 14. 

Nguồn:  Copyright © 2012-2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply