Một số vấn đề về lý luận diễn ngôn hậu thực dân (phần cuối)


Benita Parry

Điều kiện thúc đẩy hình thành sự phân tích của Fanon là, sản sinh trong một loại diễn ngôn đối lập của đấu tranh chính trị, và ngay từ đầu đã nhớ lại quá khứ trong quá trình kháng nghị sự đầu hàng nhục nhã của kẻ thực dân, cùng với sự thay thế hiến thân truyền thống của người bị đô hộ cổ đại đã loại bỏ hệ thống tri thức của chủ nghĩa thực dân:

Giai cấp tư sản của chủ nghĩa thực dân… trên thực tế đã ăn sâu vào trong tinh thần của phần tử trí thức của người bị đô hộ, cho dù người có thể sẽ phạm đủ các loại sai lầm, nhưng thuộc tính bản chất vĩnh viễn không thay đổi: đương nhiên điều muốn nói ở đây là thuộc tính bản chất của phương Tây. Phần tử tri thức bị đô hộ tiếp nhận tư tưởng quan trọng đúng lúc, ở trong phần sâu thẳm trí óc anh ta, bạn luôn có thể phát hiện ra một người lính tuần tra đầy tinh thần cảnh giác, bảo vệ căn cơ của Hi lạp – La ting mọi thời điểm. Bây giờ, sự tình như vậy đã phát sinh, trong đấu tranh giải phóng, khi thành phần tri thức bị đô hộ một lần nữa tiếp xúc với nhân dân, người lính kiểm tra hành vi con người này liền biến thành cát bụi. Toàn bộ giá trị của Địa Trung Hải, thắng lợi của hoàn mĩ – của cá thể nhân loại đều biến thành đồ cổ nhỏ bé vô hình vô sắc, không sinh mệnh. Tất cả những diễn giảng dường như đều là sưu tập của ngôn từ đã chết; những giá trị cơ hồ khiến linh hồn thăng hoa đó rõ ràng là vô giá trị, chỉ vì chúng không có quan hệ gì với tất cả xung đột cụ thể mà con người tận dồn sức vào. (Những người bất hạnh trên trái đất. pp 37-38)

Fanon cho rằng cần phải bảo vệ quá khứ trong phong trào thoát khỏi đồng hóa văn hóa hướng tới chiếm lĩnh quyền lực vô điều kiện, đồng thời cũng thừa nhận nhà văn sử dụng kĩ thuật và ngôn ngữ mượn từ những người xa lạ ở đất nước mình” và thừa nhận tính giới hạn của phần tử trí thức. Cách viết mang tính quá độ này đã giải thích lại truyền thuyết cũ, “đã làm lộ rõ chủ nghĩa duy mĩ ngoại lai và quan điểm về phát hiện thế giới trong vùng trời của kẻ khác”, đối với Fanon, cách viết này chẳng qua là một khúc dạo đầu của văn học chiến đấu. Loại văn học chiến đấu này sẽ… phá vỡ phong cách và chủ đề văn học… sáng tạo một đại chúng độc giả hoàn toàn mới”, xây dựng ý thức dân tộc, “trước mặt nó đột nhiên mở ra cách nhìn vô biên, mới mẻ. “Sự phát triển trong trình bày lí luận của Fanon không tách rời hành động xã hội mang tính đấu tranh mà quần chúng theo đuổi, trong hành động này, đầu tiên lấy người bị đô hộ biểu đạt ngôn ngữ của kẻ xâm lược để tranh luận, cuối cùng lấy hệ thống chỉ ý của việc loại bỏ chủ nghĩa đế quốc để cáo chung. Đây là là một bước mà lí luận diễn ngôn thực dân vẫn chưa dung nạp, cần phải điều tra quá trình như vậy. Không thể thiếu một bản đồ thị hình thái ý thức chủ nghĩa đế quốc rộng hơn những điều được nói trong không gian chủ nghĩa thực dân, và coi chủ thể bị đô hộ là chủ thể lịch sử và là một khái niệm kẻ chấp hành của diễn ngôn đối lập.

Trong Hệ thống đối lập thiện ác: chức năng khác biệt chủng tộc trong văn học chủ nghĩa thực dân Mohamed Abdel thừa nhận sự tồn tại của vấn đề này. Ông chỉ ra sự khuất phục áp chế quân sự và thống trị quan liêu của dân tộc bị đô hộ trong thời kì bị chủ nghĩa thực dân thống trị. Vai trò hình thái ý thức của lối viết này “tất yếu … được lí giải căn cứ vào nhu cầu bức thiết trong nước, cũng là văn hóa chính trị của kẻ đô hộ thực dân và châu Âu”. Nếu như loại thị giác như vậy khiến người bị đô hộ trong thời đại củng cố và chinh phục của chủ nghĩa đế quốc rơi vào trạng thái “tán đồng bị động” thì nó đích xác trở thành vật thức tỉnh tất yếu. Chủ nghĩa đế quốc khiến chúng ta nghĩ đến là một hiện tượng biến hóa đa dạng, bạo lực tri thức của nó không tách rời sức mạnh của chế độ và lực lượng vật chất. Vì thế, Mĩ học đối lập thiện ác: chính trị văn học của châu Phi thuộc địa nghiên cứu phương diện bá quyền của tiểu thuyết phái thân Anh của châu Phi thuộc địa, bản thân nó đối diện với sự công kích chủ nghĩa đế quốc suy thoái quá độ sang chủ nghĩa thực dân, điều này cũng thuộc về phân tích diễn ngôn thực dân. Riêng ở đây, chúng ta sẽ bàn bạc một chút về cống hiến của nó đối với lĩnh vực nghiên cứu này, coi nó là một mô hình phân tích hình thái ý thức, muốn công khai quan hệ giữa văn bản và điều kiện khách quan mà nó có thể sản sinh, tập trung làm rõ tái hiện sự ra đời của diễn ngôn phản bá quyền đối với những vấn đề mà tái hiện châu Âu đề xuất. Đối lập nhị nguyên và kết cấu xung đột của chủ nghĩa thực dân mà Fanon bàn đến đã mang đến cơ sở lí luận cho James Mohammed, trên cơ sở này, ông xây dựng lên mệnh đề chuyển nghĩa hạt nhân coi phúng dụ đối lập thiện ác là lĩnh vực diễn ngôn, văn học chủ nghĩa thực dân được hình thành trong lĩnh vực này, tiểu thuyết châu Phi cũng sáng tạo ra đối thoại đối địch trong lĩnh vực đó. James Mohammed bác bỏ thuyết giá trị đồng đẳng giữa tiếng Anh mà phê bình chủ nghĩa tự do kiên trì theo đuổi và cách viết của châu Âu, cho rằng mỗi thứ thực hiện một chức năng hình thái ý thức khác nhau, một loại “giải quyết” các loại mâu thuẫn, từ đó thế giới chủ nghĩa thực dân thống nhất trên phương diện logic chứng thực được tính hợp lí của quyền thế mà nó giành được; loại khác lại làm lộ ra các loại mâu thuẫn xung đột bào mòn thế giới này, xóa sạch những ý tượng xấu xa tiêu cực mà văn học châu Âu mang lại thông qua việc tái hiện của chủ nghĩa hiện thực đối với văn hóa châu Phi.

Spivak và Baba đều loại bỏ nỗ lực dùng sự ca ngợi truyền thống của người bị đô hộ để phản bác kiến tạo sai lầm của người theo chủ nghĩa thực dân. Đối với Spivak, nỗ lực của “chủ nghĩa bảo hộ người bị đô hộ” muốn khôi phục chủ quyền tự ngã của thuộc địa, nỗ lực xua tan những hoài niệm về bản nguyên đã mất không thể đem đến cơ sở cho việc sản sinh hình thái ý thức phản bá quyền, vì thế không phải là mô hình của thực tiễn chủ nghĩa can thiệp. Trong luận điểm có liên quan nhưng khác nhau, Baba chủ trương, loại phê bình chủ nghĩa dân tộc dung chứa một loại mô phỏng luận thấu suốt quan hệ giữa giữa văn bản được mượn từ phê bình “chủ nghĩa phổ biến” và hiện thực được cấu thành trước, đã áp chế kết cấu khác biệt của diễn ngôn và hình thái ý thức, hoàn trả vấn đề tái hiện sự khác biệt về với nhu cầu đối với sự tái hiện khác nhau, được nhiều người hưởng ứng hơn. Spivak và Baba đều phủ nhận trong diễn ngôn nghịch phản của đối lập giữa lĩnh vực tự thân và văn bản chủ nhân tồn tại lực lượng sử dụng danh nghĩa cấp tiến, nhưng James Mohammed lại cho rằng tái hiện mang tính khẳng định thông qua ngịch phản có thể phá vỡ biểu đạt chủ nghĩa thực dân đã được công nhận. Vì thế, căn cứ vào mệnh đề này của ông, sứ mệnh hình thái ý thức của sáng tác của châu Phi chính làtruy ngược về giá trị và tôn nghiêm của quá khứ ô nhục bị châu Âu tái hiện, và chống lại tính phổ biến và tính chân thực vĩnh hằng của phê bình chủ nghĩa tự do, loại phê bình chủ nghĩa tự do này hoặc là hủy hoại sự khác biệt thực dân để thống nhất nó với quan niệm trí tuệ của phương Tây, hoặc kết tội nó là đi lệch quỹ đạo. Phương pháp hoàn thành vai trò giải phóng này chính là chủ nghĩa hiện thực.

Đối với người bị đô hộ và văn hóa hậu thực dân bị thương tích sâu sắc do chủ nghĩa đế quốc tạo nên, bị khuất phục bởi “đột biến giá trị của ” hậu quả “hôn mê trực tiếp (cường trực) của lịch sử, khôi phục tài nguyên tự trị của châu Phi, một loại tiểu thuyết của chủ thể thực dân bị phá hủy chủ thể thực dân, mang đến cống hiến tích cực cho lí tưởng tập thể một lần nữa thu được cảm nhận thân phận và phương hướng. Loại kí ức này không cổ vũ mọi người bị động khát vọng làm sống lại thứ quá khứ không thể hồi phục, mà là muốn từ tái hiện chủ nghĩa thực dân lấy lại sự tham gia của một khu vực: sự hoài niệm cái cũ của Ashenbei tất yếu phân biệt với chủng tộc học chủ nghĩa lãng mạn trong phong trào lãng mạn của người da đen, vì khác với người thế hệ sau, ông đã khong miêu tả quá khứ của “châu Phi” đã giải độc, đồng cấu, đơn nhất, lí tưởng, cũng không giống như những người như Lieaoboerde. Shanggeer thông qua phúng dụ nhị nguyên lật đổ thuộc địa cũ tán dương văn hóa bản địa. Địa phương châu Phi trong truyền thống hư cấu của tiểu thuyết châu Âu (Quốc gia trong lãng mạn chủng tộc của Joyce•qieli, hoặc những người bị đô hộ trong câu chuyện Blixen/Di Naisen, bản thân họ chính là vườn địa đàng trên ý nghĩa trực tiếp máu thịt), nhà văn châu Phi lại đã lấy tái hiện hiện thực chủ nghĩa đối với sự sinh tồn, tư tưởng cảm nhận và giá trị của châu Phi để phản đối nó. Trong khi nói về sự biên tạo biện hộ cho chủ nghĩa thực dân trong tiểu thuyết bá quyền, tiểu thuyết châu Phi lại phản kích lại những điều đó thông qua thể hiện những viết thương tinh thần và sự phá hoại xã hội mà xự xâm lược của người da trắng mang lại. Thông qua tái hiện mối quan hệ biện chứng giữa con người với tư cách là chủ thể và con người với tư cách là tồn tại xã hội được đề xuất trong trước tác hiện thực chủ nghĩa của Lukacs, vì thuộc địa bị đặt nhầm chỗ mà loại tiểu thuyết này đã khôi phục hình tượng chủ thể tập thể, và quần thể văn hóa chân thực ở hình tượng tự ngã thống nhất trong vai trò tương hỗ vô cùng quan trọng.

Để chứng thực tiềm lực thúc đẩy đấu tranh phản chủ nghĩa thực dân của hồi ức lịch sử, James Mohammed ra sức tận dụng giá trị bá quyền, vì ông ám chỉ muốn khôi phục lại từ trong công kích sự chiếm lĩnh của giai cấp tư sản hiếu chiến, công kích chủ nghĩa khoa trương, văn hóa thực dân và hậu thực dân tất nhiên khao khát có được lí tưởng chủ nghĩa nhân văn của giai cấp tư sản. Điều khuyết thiếu trong luận chứng của James Mohammed là sự nắm bắt của Fanon đối với cái không hợp lí của việc “phát hiện lại truyền thống” và biểu hiện lại truyền thống trong nội bộ hệ thống ý nghĩa ở phương Tây. Đối với Fannon ý thức giải phóng người bị áp bức khiến nó quá độ đến một quá trình hiện thực mới, James Mohammed lại cho xem nó là sự tiếp cận gần với diễn ngôn đối lập một cách minh xác. Luận điểm của ông và kiến tạo kết cấu của W.Benjamin (cũng là điều không thể tránh khỏi của Spivak và Baba) hoàn toàn không giống nhau, người thế hệ sau đấu tranh vì quá khứ tổ tiên bị áp bức thể hiện trong hình tượng nô lệ”, một khi được viết lại trong hiện tại, sự đấu tranh này sẽ “dùng danh nghĩa của người bị áp bức đời đời hoàn thành sứ mệnh giải phóng” – Z.Roberts đem lập trường này viết thành “sự đứt rời tuyệt đối “nằm” giữa điều kiện sinh tồn lịch sử hiện tại của chúng ta và điều kiện sau nghìn năm lịch sử biến động. Vì thế, cho dù sự giải thích của James Mohammed trong quá trình sản sinh phản diễn ngôn thực sự đã chứng thực tính quan trọng của chứng nhận quá khứ, nhưng đối với trình bày của một lựa chọn khác, ông lại thiếu “tụ điểm tưởng tượng” có thể di chuyển kiến tạo kết cấu được công nhận, loại khuyết thiếu như vậy chỉ có thể tìm lí do giải thích ở phương pháp và tài liệu do ông chọn. Để luận chứng lối viết châu Phi là sự khiêu chiến đối với tái hiện châu Âu, ông đã bàn luận về tiểu thuyết chủ nghĩa hiện thực tâm lí – xã hội và ngôn ngữ tiếng Anh, những tiểu thuyết này chủ yếu lấy chính trị làm đề tài, trong phần lớn trường hợp nổi bật lên diễn ngôn chủ đạo, nhưng không nổi rõ góc nhìn Utopia. Ở ý nghĩa này, mô hình của ông đã tự nó có những giới hạn, vì lĩnh vực mà ông nghiên cứu phần lớn đầy sự khống chế nhưng vẫn chưa đột phá dược tác phẩm hình thức tiểu thuyết đã định. Đây cũng không có gì khác biệt, thông qua nội bộ mô hình phê bình tham chiếu tiểu thuyết chủ nghĩa hiện thực (có khi là tính chất tự biểu hiện), và chủ nghĩa hiện đại (vẫn luôn là tính chất đối thoại), tiểu thuyết châu Phi và tiểu thuyết châu Âu là sự miêu tả và tái hiện thế giới hiện sinh, là mĩ học đối lập thiện ác tạo ra một loại chính trị nội dung, loại chính trị nội dung này khi đích thực vận hành để biểu đạt ý nghĩa mâu thuẫn trong phức điệu của văn bản đã coi nhẹ loại phức điệu này, nhưng khi khuyết thiếu loại phức điệu này, lại lược bớt mà không giải thích sự khuyết thiếu của nó. Nghiên cứu tâm lí tiềm tàng của chủ nghĩa mô phỏng thêm một bức nữa hạn chế kiểm nghiệm vấn đề mà văn bản phi truyền thống có trên phương diện chính trị, những văn bản này phát sinh tác dụng và sắp xếp lại từng bước của những mô hình này trong kết cấu giá trị và chuẩn tắc được công nhận. Vì thế, trước tác của A.L.Guma đã vẽ ra hình ảnh thế giới đã bị biên duyên hóa của “người da màu” Nam phi từ đó có được sự thừa nhận, nhưng tính chân thực của sự biểu hiện lại có được do những tình tiết ngẫu nhiên và tùy tiện. Xuất hiện nhân vật không thể khống chế đời sống của nó hoặc cảm nhận chân xác về sự sắp xếp vận mệnh của nó. Cho nên cái nó chưa bàn đến là, lợi dụng thu về phương thức biểu đạt khô khan và thực tiễn trần thuật được công nhận, trần thuật bằng ngôn ngữ cũ kĩ hoặc chết chóc, là làm thế nào để yếu tố tiền trung tâm (ex- centric) của tiểu thuyết được quy phạm hóa, làm mất đi hình thái đối lập.

Thông qua kiểm nghiệm mang đến kết cấu hình thái ý thức của mẫu số chung giữa kết cấu văn học và kết cấu kinh tế của xã hội để hạn định một kế hoạch minh xác của mô hình quan hệ giữa xã hội và văn học, là cái mà hạng mục nghiên cứu này thực hiện trong phân tích chủ đề và thể loại, loại phân tích này thành công trong việc tiếp cận thế giới hư cấu của mâu thuẫn nội bộ và sự đứt đoạn trong tác phẩm thuộc địa châu Phi và nước Anh. Sau đó, lập ý rõ ràng của cuốn sách này cũng là cần thực thi mô hình phê bình càng phức tạp hơn được Fredric Jameson đề xuất và thực thi trong cuốn Chính trị vô ý thức.
Viết lại văn bản văn học cần khiến cho bản thân người đời sau có thể cho là xây dựng lại hoặc viết lại văn bản thông tục thể hiện hình thái ý thức hoặc lịch sử có trước, nói chung, “văn bản thông tục” đó không trực tiếp là sự biểu hiện của văn bản thông tục, không phải là hiện thực bên ngoài thông thường nào đó.. nhưng bản thân nó tất nhiên là kiết tạo kết cấu đối với hiện thực.

Trước tác của James Mohammed rõ ràng tập trung ở “sách lược áp chế” trong hình thức trần thuật và trong truyền thống mĩ học (ý thức thần thoại trong câu chuyện Di Naisen, tác phẩm thời kì sớm của (Nuji)[Ngugiwa Thionng’o]có thành kiến đối với ngàn năm giải phóng, dự ngôn và cứu trợ), nhưng vẫn có một khuynh hướng quan hệ – một đôi kiến lập giữa hoàn cảnh và văn bản. Như điều mà như James Mohammed theo đuổi Jameson chỉ ra, nếu như mục đích của phê bình là cần coi tác phẩm là thực tiễn mang tính tượng trưng để nắm bắt, trong đó “văn bản thông tục” đã là sản phẩm và khúc xạ của “ngữ cảnh”, cũng là một loại kết cấu. Vì thế, cần cho rằng tái hiện không phải là cải tạo hoặc trung gian của hoàn cảnh hiện tồn mà là cấu tạo; do coi thế giới sáng tạo tiểu thuyết cũng là tái sản phẩm của với hiện thực tiền tại nào đó chứ không phải của “nguyên tác”, vì thế, nghiên cứu của ông cũng không tạo ra bản gốc mà nó dự định trình bày.

Khi bàn luận về tiểu thuyết của Nadine Gordimer, James Mohammed cho rằng trong tiểu thuyết đem ý thức tự do bàn luận về sự so sánh xã hội nam phi là biểu đạt chân thực một điều kiện hiện tồn nào đó, nhưng không phải là phát minh kĩ thuật của sự giải thích làm rõ một loại nguy cơ, sự giải thích này che đậy diễn ngôn mới xuất hiện và tính lựa chọn với chính kiến khác nhau. Giữa thế giới của người da đen và da trắng trong tiểu thuyết của Gordimer không có mối quan hệ trọng yếu, James Mohammed cho rằng điều này là những hạn chế liên quan đến một nhà văn được hình thành trong xã hội và được đặt trong xã hội; nhưng đối với “trần thuật khách quan” của văn hóa châu Phi lại do nhà văn lo sợ mà cự tuyệt phá hoại tiết tấu văn hóa ý nghĩa và thần bí của châu Phi. Ở đây, nhà văn muốn đem hoàn cảnh lịch sử của bản thân và hạn chế xã hội tăng thêm trung gian, do đó mà giải thích ra đời thay thế kiểm nghiệm thủ pháp tiểu thuyết và hình thức trần thuật, những thủ pháp và hình thức này áp chế diễn ngôn, và làm nhạt đi những thứ được biểu đạt bằng diễn ngôn “châu Phi”. Tuy người châu Phi là chủ thể của diễn ngôn, nhưng tiếng nói của người hầu, phân tử trí thức và những nhà hoạt động xã hội…đều bị viết thành cái bị người đối thoại da trắng “nghe được” .Như vậy, sự khác biệt đa nguyên đã bị tính khác của thể loại văn học (generic otherness) mài mòn. Đem những tin tức liên quan đến tác giả viết vào sự giải mã đối với văn bản, đều này khiến James Mohammed đưa ra phán đoán sau, là những tiểu thuyết biểu thị “sự đứt đoạn của “một loại” giải phóng giữa Gordimer,Nadine và văn hóa giai cấp tư sản. Sự chính trị và dũng cảm của Gordimer,Nadine thể hiện sâu sắc trong tâm thế cá nhân và sự thanh minh công khai của bà – phần tử cầu tiến da trắng có bao nhiêu tự mệnh sẽ nói, giống như bà nói trong lần trả lời phỏng vấn truyền hình cùng với Susan Sontag, Nam phi của người da trắng không có cái gì đáng giá để bà bảo lưu. Nhưng, khi đối diện, thậm chí suy tư rõ ràng và tán tụng quan niệm cá nhân, chứng thực và khát vọng của nó đều duy trìliên hệ với thời gian thực tiễn tiểu thuyết truyền của hệ thống ý nghĩa phương Tây, rất khó duy trì loại phát ngôn dứt khoát đứt lìa với hình thái ý thức của văn hóa bá quyền, hoặc chứng thực động lực cơ bản của tiểu thuyết của bà là “có ý với sự tùy tiện và trùng cấu của ý thức người da trắng, điều này có thể khiến tiểu thuyết vượt qua phép nhị phân của thiện ác của hiện thực, tiến tới một tương lai thống nhất hơn, liên thông hơn”.

Tính quan trọng của trước tác James Mohammed thể hiện ở việc coi văn học là văn bản văn hóa và thực tiễn tu từ được thực thi và sản sinh dưới điều kiện chính trị và xã hội lịch sử có tính quyết định để nghiên cứu, nhưng những điều kiện này lại thúc đẩy và hạn chế kiến tạo kết cấu của ý nghĩa. Riêng điều này, ông tất yếu phải đọc kĩ tiểu thuyết, thông qua thảo luận liên quan đến quan hệ giữa chinh phục quân sự, chế độ áp bức và xung đột của chủ nghĩa thực dân, trong phân tích diễn ngôn của chủ nghĩa thực dân, những quan hệ này bị biên duyên hóa, nhưng lại giúp những văn bản này hồi phục cảm nhận bí mật và hiệu suất của lịch sử. Nhưng, do luận điểm quan hệ cộng sinh giữa diễn ngôn giải thích và thực tiễn vật chất lại không phải là kết cấu trong đối thoại với lí luận khiến mô phỏng luận và tính chỉ định đối tượng thành vấn đề, vì thế, dùng mô hình đặc tả của phân tích hình thái ý thức của Mĩ học đối lập thiện ác tiến hành bình giá gặp rất nhiều khó khăn. Điều khuyết thiếu làkhắc họa văn bản mang tính đa nguyên và tính xung đột – ngôn ngữ phi chính thống của sách lược tu từ mang tính phòng ngự, đứt đoạn và khiêu chiến với tư tưởng quan phương, phân liệt thống nhất kết cấu do thanh âm không hài hòa, phân tách tạo thành – với tư cách là địa điểm và ngọn nguồn chính trị văn bản.
Khi James Mohammed trong Hệ thống đối lập thiện ác lại đưa ra lập trường phê bình này, ông coi mệnh đề mà lối viết xâm nhập vào một hoàn cảnh ngoại tại nào đó là một định lí, điều kiện khách quan là nguyên nhân thúc đẩy biểu đạt, ngôn ngữ lại là trung gian có thể co giãn trong ý đồ của người tạo ra nó: “chúng tôi có thể thông qua phân tích lí giải… diễn ngôn thực dân…phân tích này liên kết lại chức năng hình thái ý thức và thực tiễn chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Sự kiểm nghiệm như vậy làm lộ ra bất kì mâu thuẫn tình cảm rõ ràng nào trên thực tế đều là hàm ý, cho dù có lúc là sản phẩm mang tính lưỡng diện của chủ nghĩa đế quốc của tiềm ý thức. “Quan hệ nhân quả được đề xuất ở đây khiến chúng tôi hồi quy lại phạm trù văn bản/ ngữ cảnh, ở đây, cách viết do nhu cầu chính trị, kinh tế và nằm ngoài “những biến đổi tự thân lĩnh vực của nó quyết định” và “khống chế”, đã xuất phát từ diễn ngôn mặc nhận do hình thái ý thức chỉ định đến “vai trò tự động biểu đạt và luận chứng” mục tiêu của chủ nghĩa thực dân.

Hệ thống đối lập thiện ác đặt vào trong tranh luận với phê bình chủ nghĩa tự do và phân tích diễn ngôn, vì nó “đem hoàn cảnh chính trị của lịch sử và văn hóa xếp cùng một chỗ một cách nghiêm trọng”, vẽ lên tổng quát kế hoạch hồi phục hoàn cảnh thế tục của văn bản. Nhưng, cách viết vì lí luận hóa mà trở thành công cụ thực tiễn vật chất, vì thế, càng không có đất cho việc coi diễn ngôn là cội nguồn của hình thái ý thức hoặc khiến diễn ngôn vừa xuất hiện khai sáng phương thức thuyết thoại mới để tạo nên điều kiện trước đó chưa từng có, nhưng quan niệm phản diễn ngôn lại giới hạn ở tính phòng ngừa đối với kiến tạo kết cấu bá quyền, nhân vật phản bác phản động. Sự phản bác này là cái lấy thuật ngữ bên lề của nó để biểu đạt. “Đặc điểm của hai phạm trù rất rộng thể hiện tiêu chí đối thoại văn học của Thế giới thứ ba và văn hóa phương tây là: nó phải phủ định năng lực phủ định của châu Âu trước kia đối với văn hóa của người bị đô hộ, nó tiếp thu và cải tạo một cách sáng tạo ngôn ngữ liên thông bản địa của hình thức nghệ thuật và ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật phương Tây. “phân tích loại đối thoại này, nghe nói sẽ làm sáng rõ “lĩnh vựa dung hợp văn học và văn hóa không thuộc về chủ nghĩa thực dân và nhà văn chủ nghĩa tân thực dân nhưng lại càng lúc càng thuộc về nhà nghệ thuật của thế giới thứ ba”.
Tôi cho rằng sự “dung hợp” này là sự phân giải mang tính nhị nguyên văn hóa của chủ nghĩa thực dân trong các loại hài hòa biến đổi. Khẳng định đối với loại “dung hợp” này cơ hồ là đồng tình với mục tiêu của ngôn ngữ của thế giới văn hóa do các loại mô hình hiện tồn sắp xếp lại. Hơn nữa là thu hồi mệnh đề trong bài viết quan trọng Chủ nghĩa nhân văn và Văn học dân tộc thiểu số: một định nghĩa của chủ nghĩa phản bá quyền của bản thân James Mohammed, trong bài viết đó, một sự hình thành của truyền thống hậu thực dân khác được cho là sản phẩm của quan hệ biện chứng trong mâu thuẫn giữa văn hóa bá quyền và “thế giới thứ ba”. Luận điểm này chỉ ra, thông qua “tính biên duyên” của tụng ca và bồi dưỡng, giải phóng văn học từ trong chủ nghĩa nhân văn tự do phương Tây thượng lưu, chính là trách nhiệm của phê bình “dân tộc thiểu số”:

Nếu như văn học dân tộc thiểu số liên tìm hiểu phương diện biên duyên và tập thể, chính trị của kinh nghiệm nhân loại, như thế, phê bình dân tộc thiểu số cũng cần phải lảng tránh một cách có hệ thống sự mê hoặc của chủ nghĩa nhân văn phi chính trị, với tính bao dung đầy sức hấp dẫn: nó tất nhiên biểu đạt và giúp cho mọi người ý thức văn học dân tộc thiểu số phản đối, phá hoại hoặc phủ định những nhân tố đó của quyền lực văn hóa bá quyền.

Điều mà kế hoạch này hướng tới thực hiện không phải là sự “dung hợp” đã được James Mohammed giới thiệu ở chỗ khác, mà là sự khẳng định hình thức đa nguyên “sai khác”của người bị đô hộ.

IV
Cái mà do Fanon phát triển cụ thể nhưng phổ biến gặp ở văn học chủ nghĩa phản thực dân, coi văn hóa chủ nghĩa đế quốc là lấy danh nghĩa của giá trị, truyền thống và văn minh người da trắng để quản chế tái hiện phương tây và góc nhìn bài trừ truyền thống do cường quyền chủ nghĩa đế quốc toàn cầu xây dựng, chỉ ra phạm vi của ngôn ngữ của người chinh phục phục tùng chủ nghĩa đế quốc và sự thất bại ở phương diện hiệu quả của phân tích diễn ngôn thực dân. Sự phê bình cấp tiến khác cũng nhắc lại nhiều lần sự khuyết thiếu này; Said nhìn thấy khu cấm địa của chế độ văn hóa văn học định trước đã tuyên bố tiến hành nghiên cứu nghiêm túc chủ nghĩa đế quốc và văn hóa. Sự quan sát này càng dễ giải thích hơn sự coi nhẹ của phái cánh tả trong quê hương đế quốc đối với sự sản sinh luận thuật trước tác diễn ngôn và hình thái ý thức chủ nghĩa đế quốc, phần tử tri thức cánh tả đã nhận thức được khuyết thiếu quan trọng này chính là ví dụ tiêu biểu thích đáng của nghiên cứu lí luận. Khi quá trình sự nghiệp với phạm vi rộng rãi của chủ nghĩa duy vật văn hóa làm rõ ý nghĩa để có được kiến cấu xã hội và cải tạo lịch sử, các nhà lí luận xã hội chủ nghĩa dường như không chú ý đến sự hình thành và biểu hiện của văn hóa chủ nghĩa đế quốc ở Anh. (Chúng ta sau này lại bàn về quan hệ nhiều bài học ý nghĩa được Williams tạo ra trong hình thái ý thức chủ nghĩa đế quốc và phương thức sản xuất của nó). Gần đây nhất, Francis • Mar Heni kiến nghị từ trong tác phẩm của phụ nữ phương Tây kiến tạo kết cấu một loại “chính trị chủ nghĩa xã hội của văn học”. Để phụ nữ của thế giới thứ nhất thúc đẩy kế hoạch chống lại bá quyền văn hóa phương Tây, đem gộp cả nhà văn phụ nữ da đen Mĩ, và không bồi thường những khuyết thiếu của nó – yêu cầu quá đáng này làm bạo lộ góc nhìn hẹp liên quan đến tài nguyên mô hình văn học mang “tính lựa chọn”, góc nhìn này coi nhẹ sự bộc phá của văn hóa văn học hậu thực dân trong nội bộ truyền thống sáng tác phương Tây, ám chỉ một loại hẹp hòi không có chỗ đứng căn bản trong lí luận cấp tiến.

Trong mắt nhà phê bình theo đuổi phá hoại hệ thống tri thức chủ đạo phương Tây, cái nhìn châu Âu của cánh tả chính quốc là sự tạo thành cùng tồn tại mang tính lây lan của “chủ nghĩa lịch sử” và “chủ nghĩa phổ biến” trong trần thuật văn hóa đồng chất hóa và đơn nhất của chủ nghĩa Mac đối với lịch sử thế giới, trong đó, kinh nghiệm lịch đại của kẻ khác châu Âu bị dung nhập vào câu chuyện phát triển đơn tuyến. Tất nhiên, coi quỹ đạo của chủ nghĩa đế quốc là góc nhìn vĩnh cửu của phá hoại và giải phóng, bị đặt nhầm và trùng cấu, dựa vào định nghĩa của phương Tây về ý nghĩa và giá trị, thuyết minh về truyện kí (tự truyện) do ý chí mà dịch chuyển của phương Tây của lịch sử mang tính vô công lợi (ngụy trang thành) được Spivak nói tới. Từ đó, trong nội bộ chủ nghĩa Mác xuất hiện một số ý kiến muốn giải quyết phê phán những vấn đề do phân tích mang tính lựa chọn kiến tạo kết cấu đề xuất, trong những sự phân tích này, chủ nghĩa đế quốc đã không phải là đại diện “tất yếu” của lịch sử thế giới nữa. Bryan S.Turner coi Kết thúc của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa phương Đông của ông là “một bộ trước tác phản thực dân hóa của cá nhân”, trong sách, ông cho rằng chủ nghĩa lịch sử trong chủ nghĩa Mác và mục đích luận coi lịch sử là một chuỗi những giai đoạn không thể thay đổi do phương thức sản xuất quyết định, vì thế, lấy con đường của phương Tây làm chuẩn, đem thế giới thực dân đặt ra ngoài lịch sử, từ đó, cần dùng lí luận mới để thay thế. Spivak đã khiển trách một cách chính đáng đối với phê bình cấp tiến với đủ dạng của nó, vì những phê bình này đã làm tiêu tán hết “trần thuật lịch sử với tư cách là chủ nghĩa đế quốc”; bà mượn cơ hội này tiến hành thẩm tra nỗ lực khôi phục loại trần thuật không đứt đoạn, nỗ lực viết lại “nguyên bản” của “lịch sử cơ bản” mà Jameson muốn, loại phê bình lấy tất cả sự trần thuật hợp pháp hóa liên quan đến tiến bộ và giải phóng làm định hướng loại bỏ “câu chuyện của logic tư bản”. Vì câu chuyện này áp chế sự biểu đạt của người bị đô hộ nói về sự đứt đoạn của chủ nghĩa thực dân, nhưng bản thân lại áp chế sự liên tục, tương tác(Constellation) mà chủ nghĩa duy vật lịch sử thể hiện. Có thể có cùng chủ đề cơ bản đơn nhất với truyền thống…, một thể chế không thống nhất dung hình thức đa nguyên chống lại, phản lại quyền lực trong thể thống nhất của một bộ tập hợp các câu chuyện vĩ đại, “đối với chủ nghĩa Mác, điều này là đấu tranh từ các quốc gia tất yếu giành lấy tự do” (Vô ý thức chính trị, 19)

Một loại lịch sử thế giới liên quan đến lí luận diễn ngôn thực dân loại bỏ chứng nhận bá quyền văn hóa phương Tây lấy châu Âu làm trung tâm và trần thuật liên quan đến chủ nghĩa dân tộc giải phóng; loại lí luận này vừa dựa dẫm vừa giải thoát việc vẽ lại bản đồ thế giới do văn bản đế quốc chủ nghĩa vẽ lên. Không có gì lạ, khi phê phán chủ nghĩa đế quốc trong kế hoạch lí luận giải cấu tri thức chủ nghĩa thực dân vẫn chưa thực hiện được lời hứa của nó, chúng lại đã kích thích nghiên cứu lí luận to lớn trong cấu thành mỗi loại hệ thống diễn ngôn liên quan đến sự khinh thị và áp bức, loại nghiên cứu này “coi “thực dân hóa” là một khái niệm giải thích có ý nghĩa phát sinh, khiến nó thích hợp với mọi hoàn cảnh kết cấu thống trị. Hội nghị xã hội học của văn học Essex năm 1984 rõ ràng thiếu vấn đề “chủ nghĩa đế quốc”, chủ đề mà nó phát biểu là Châu Âu và kẻ khác cho thấy mục đích của hội nghị lần đó là muốn sản sinh “thông qua khảo cổ học của diễn ngôn châu Âu trung tâm”, nó sẽ nhận biết sách lược khinh thị và khống chế, tận lực nghiên cứu lí luận cấu thành tâm lí chủ thể. Tiếp theo hội nghị lần này, một nhóm nhỏ nghiên cứu phê bình diễn ngôn thực dân được thành lập, mục đích là muốn liên kết lại lịch sử kiểm nghiệm giai cấp thống trị và trò bịp bợm phân tích diễn ngôn, điều mà những diễn ngôn này muốn làm rõ chính là sự khác biệt giữa văn hóa và chủng tộc: “đối với rất nhiều người chúng ta, tiêu điểm nghiên cứu chủ yếu là hoàn cảnh thực dân, nhưng một số người khác trong mạng này lại đem bàn luận của họ mở rộng đến xã hội tiền thực dân, di sản thực dân phương Tây và chủng tộc, giai cấp, tính dân tộc, giới tính/ hoặc chế độ thống trị đương đại mang tính tạp giao. “khuynh hướng đem mô hình áp bức đặc thù, riêng biệt hỗn hợp lại chính là điều mà Spivak cảnh cáo chúng ta cần đề phòng: “trong nội bộ phê phán chủ nghĩa chủng tộc, phê phán đối với chủ nghĩa đế quốc không phải là đồng nhất, hơn nữa là không thể thống nhất. Chúng ta phải nhìn thấy nỗ lực mang tính đồng nhất trong cấu thành chủng tộc trong nội bộ quốc gia trong thế giới thứ nhất, có nét tương đồng với chủ nghĩa đế quốc khu vực, chủ nghĩa tư bản trong thế kỉ 18, 19, nhưng không phải là đồng nhất.

Ở đây, có thể cho rằng Spivak là tiền tiến dưới ngọn cờ lớn “lịch sử hóa vĩnh viễn của Jameson!”. Sự trung thành như thế này một khi đặt vào trong diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc ở thời khắc chủ nghĩa thực dân chính là sẽ tận lực giải quyết một loại tu từ biểu diễn và khoa trương, loại tu từ này đổi mới tái hiện diễn ngôn đối diện người bị đô hộ và chủ thể chính quốc. Tuyên truyền và đế quốc: thao túng của dư luận công cộng nước Anh: 1880-1960) của John Mackenzie, một bộ trước tác đầy chủ nghĩa kinh nghiệm tìm hiểu mà rất ít phân tích, tập hợp lại cơ cấu quốc gia và đoàn thể xã hội dân chúng ra đời với tư cách là một loạt ấn bản biểu hiện và thúc đẩy chủ nghĩa đế quốc, với tài liệu thị giác – đây là một nhóm văn bản “diễn ngôn khoa học”, câu chuyện du lịch, bản ghi chép và tiểu thuyết của nó, hoàn toàn khác với tác phẩm quan phương của chủ nghĩa đế quốc. Mặc dù trên phương diện lí luận có một số giản đơn hóa quá mức, hạng mục nghiên cứu này lại xây dựng lên bộ máy cơ khí phức tạp to lớn để dẫn dụ cá nhân mẫu quốc với tư cách là chủ thể chủ nghĩa đế quốc và người thay thế. Thông qua internet khẳng định và phỉ báng văn hóa của nó, diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc đem đến cho người Anh một bức biểu đồ cục diện tưởng tượng cấu thành xã hội trong nước và mối quan hệ của nó với các nước xung quanh, hơn nữa được tiến hành trong ngôn ngữ mang tính bao dung xã hội, liên kết quan hệ nhân dân và người thống trị lại, tin tưởng họ giống với những điều mà T. Kuninghaimu nói, “giai cấp siêu việt, trung thành với chế độ đã định, kiên quyết bảo vệ lợi ích và danh dự của quốc gia này. Khi “coi phụ nữ giai cấp công nhân là mẹ đẻ của mẫu quốc kiêu ngạo, coi đàn ông giai cấp công nhân là kẻ thống trị của chủng tộc bậc thấp tự nhiên mà có, chủ nghĩa đế quốc dẫn dụ, chủ thể do diễn ngôn giới tính và giai cấp tạo thành lại một lần nữa đem bản thân họ làm nội bộ quần thể chủng tộc, điều này dẫn đến sự thống nhất xã hội trong nước và sự kính trọng giai cấp, sự kiêu ngạo chủng tộc nước ngoài và mê hoặc hiếu chiến (Chống lại loại diễn ngôn này vẫn là vẫn có một câu chuyện khác được giảng thuật).

Trong khi muốn xác lập “quan hệ cộng sinh sâu sắc giữa chủ nghĩa đế quốc phương tây hiện đại và văn hóa của nó”, và trên một tầng diện giữa hình thái ý thức chủ nghĩa đế quốc trung tâm và xung quanh xác lập quan hệ và từ đó tăng thêm cơ bản, E. Said đem định hướng hạng mục nghiên cứu này kiến cấu hiện thực của nó ẩn giấu sâu trong khảo cổ học “của tri thức dưới bề mặt”, tri thức này “đến ngày nay luôn bị cho rằng là văn hóa, lịch sử, văn tự của khách thể nghiên cứu và cấu tạo chân chính của triết học và tính văn bản”. Với tư cách là một ví dụ của trước tác này, Said cho rằng nghiên cứu của Viswanathan:

Làm rõ cội nguồn chính trị của nghiên cứu Anh ngữ hiện đại, và đặt những cuội nguồn này vào trong hệ thống giáo dục thuộc địa của người bị đô hộ Ấn Độ thế kỉ 19. … Khoa học trong truyền thống bị cho rằng hoàn toàn do thanh niên nước Anh sáng tạo ra đầu tiên là do quan chức hành chính thuộc địa sáng tạo, điều này sáng tạo vì hòa bình trên hình thái ý thức cho đến dân chúng Ấn thay đổi tinh thần sáng tạo tiềm tại, sau đó, lại xuất hiện cách ứng dụng tuy khác nhau mà lại có liên quan từ đó thâm nhập vào trung tâm chính quốc. (Phần tử tri thức của thế giới hậu thực dân. Pp.63-64). Giải cấu văn bản chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỉ 19 sẽ làm rõ sự sử dụng và biến hóa kì diệu của diễn ngôn chủ nghĩa dân tộc và phương tây đối với chủng tộc, giới tính, giai cấp trong tái hiện bản thân. Sự tái hiện này có quyền uy đạo đức và tri thức, đem đến trong phạm vi toàn cầu lợi ích lợi sử dụng quyền lực: một loại diễn ngôn chủng tộc/ giai cấp/ chủng tộc- quyền lợi và chức trách của châu Âu là muốn lợi dụng ban phát vô hạn của đại tự nhiên bị người bị đô hộ lãng phí để tạo phúc cho giai cấp công nghiệp của nó, dân chúng đói khổ cần được chăm sóc; một loại diễn ngôn công lợi kết hợp lại với diễn ngôn mục đích – nghĩa vụ của châu Âu là muốn lợi dụng tự nhiên và tài nguyên lao động của thế giới để thúc đẩy quốc tế tiến bộ; một loại diễn ngôn mang tính chủng tộc – người bị đô hộ do tính thiên hướng của quần thể của nó và thực tiễn mang giới tính phi pháp mà không thích hợp với xã hội tổ chức lí tính và thực hiện chức quyền chính phủ (Loại tái hiện này cũng mang đến cho tiêu dùng chính quốc một loại văn học sắc tình); Loại chủ nghĩa dân tộc/ diễn ngôn Utopia- sứ mệnh thần thụ của người châu Âu là thống trị, chỉ dẫn và nâng cao dân tộc lạc hậu, coi nó là trách nhiệm văn minh phải làm. Ngôn ngữ liên quan đến chủ quyền trong văn bản mang sức thưởng thức của chuyên gia cũng là ngôn ngữ của chính trị gia đế quốc và “nhà phê bình” của nó, đây cũng có nghĩa là một bá quyền ngôn ngữ. Trong quyền lực chủng tộc bị tước đoạt sớm nhất, một dân tộc đi chinh phục và một loại văn minh hiếu chiến có được chỗ để biểu hiện, ngôn ngữ quá đáng của kẻ địch than vãn bi ai biện hộ hộ của người theo chủ nghĩa phản đế quốc tự do, đồng thời thừa nhận, văn hóa liên quan đến sự tiến bộ của nó, phương Tây đích xác có thể đem đến cho người bị đô hộ kĩ thuật công nghiệp và đạo đức cho đến phẩm chất nhận thức. Sự tái hiện tự ngã mang tính khoa trương này, lấy quan niệm cứu thế phá hoại và quan niệm thần bí bóc lột của nó, có được sự tóm tắt trong bình thuật ngắn gọn của Kant: “Khí chất của giáo đồ Thanh giáo và sự tưởng tượng của kẻ chinh phục tham ô vô lượng” và “chủ nghĩa lí tưởng của phương Bắc Guy fuzzy, chỉ cần mang đến cho họ một sự cổ vũ nhẹ nhàng thầm kí, họ liền mộng tưởng chinh phục vùng đất lớn mà không để ý gì đến những cái khác”(《Nostromo》)

Phân tích văn bản chủ nghĩa đế quốc chính là đối diện với một loại diễn ngôn mới thắng lợi ca tụng kĩ thuật tranh đấu La mã cổ đại. Said tập trung sự chú ý vào chủ nghĩa phương Đông, lấy năng lực thẩm thấu đối với phụ nữ phương Đông của nó, phục tùng và tái hiện cuộc sống thường nhật êm ái phong phú, coi nó là “thực tiễn tương đồng trong các lĩnh vực khác nhau. Vì sự thống trị nam quyền hoặc chế độ phụ quyền trong xã hội chính quốc (Lại suy nghĩ về chủ nghĩa phương Đông, 23). Đối với Said, thực tiễn diễn ngôn này sản sinh ra tổ hợp sự mất cân bằng chủng tộc, giới tính và chính trị với tư cách là lưu lượng chủ yếu trong văn hóa phương Tây hiện đại” khiến chúng ta có thể nhìn thấy được sự mối quan hệ hạn hẹp giữa sự “chèn ép giới tính của thời đại Victoria trong nước và huyễn tưởng của nó ở nước ngoài và sự thâu tóm nghiêm ngặt đối với tưởng tượng nam tính của hình thái ý thức đế quốc chủ nghĩa cuối thế kỉ 19”. Tính thống nhất một loại này trong “ngữ cảnh hóa” (Contexxualized) bên trong thực tiễn vật chất của việc mở rộng chủ nghĩa đế quốc cũng tìm thấy trong quan sát của Raymond Williams, là khái niệm cơ bản của hình thái ý thức chủ nghĩa đế quốc thành thị tư bản. Khuếch trương chinh phục vô hạn, giản đơn hóa quá trình lao động thành chiếm hữu và cải tạo nguyên liệu, đều trùng phức huyễn tưởng “con người cần phải chinh phục tự nhiên” của kẻ chinh phục”. Khi coi động lực khiến chủ nghĩa tư bản nắm bắt tự nhiên là cơ sở của khuynh hướng chủ đạo tràn đầy quan hệ xã hội tư bản chủ nghĩa từ lao động đến giới tính, ông lại bắt đầu sử dụng sự tương đồng này.

Trong sự phân loại giá trị – sức mạnh, chinh phục, bóc lột, thực hiện chức trách, hành động, năng lực lãnh đạo của trần thuật giải thích rõ ràng đối với diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc, cũng có thể nhìn thấy sự chứng thực mang “tính hiện đại” thoái lui trong đó đối với “chủ nghĩa hiện đại”, điều này có thể trong văn học chúng ta từ lâu đã yêu thích, và trong tác phẩm phê bình đế quốc, ở Gibson và Conrad tăng thêm độ căng của nghiên cứu.

Ở đây, không gian văn hóa ngôn ngữ sản sinh đứt đoạn khác nhau và môi trường hình thái ý thức, vì ca tụng sự xung kích của tính hiện đại khống chế bên ngoài, tán thành tín niệm đạo đức của nó và trọng trách mang tính xác định (Gibson xưng tụng là câu chuyện về chủ nghĩa thực chứng của pháp luật, trật tự, trách nhiệm và áp chế, phục tùng, kỉ luật), biến thành sự mơ hồ, hoài nghi, lo lắng và dị hóa của chủ nghĩa hiện đại được phong cách hóa.

Những cách viết xung đột nhau này tập trung vào củng cố và tước bỏ tín điều hình thái ý thức và lí tưởng xã hội của chủ nghĩa đế quốc, nhưng đối với quá trình đem những văn bản này biến thành diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc, chúng cũng là trường hợp cần phải đặt câu hỏi bên trong. Sản xuất dùng để thay thế nỗ lực của phản diễn ngôn thay thế hệ thống tri thức chủ đạo của chủ nghĩa đế quốc đều nằm ở sự tập trung toàn lực vào sự phê phán phát triển từ bên ngoài bá quyền văn hóa, nhưng trong quá trình thức tiến tranh luận khai sáng từ phong trào phản thực dân, các nhà lí luận diễn ngôn thực dân tất yếu phải tìm về quan hệ giữa xâm lược vật chất của chủ nghĩa đế quốc và bạo lực tri thức của nó, làm lộ ra quan hệ giữa sự biểu đạt đối với hình thái ý thức của thế giới thực dân và văn hóa chủ nghĩa đế quốc của chính quốc hùng mạnh.

Đỗ Văn Hiểu dịch từ bản tiếng Trung
Nguồn: Lí luận văn hóa chủ nghĩa hậu thực dân. La Cương chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Bắc Kinh 1999

Nguồn: Bản dịch giả gửi phebinhvanhoc.com.vn

Leave a Reply