Một thế giới bí ẩn đã khép lại


Nguyễn Thị Thanh Xuân

 

Giáo sư Lê Đình Kỵ vừa nhắm mắt ra đi sau một cuộc đời dài sáng tạo. Vài hôm nữa, hàng ngàn đồng nghiệp và học trò sẽ tiễn đưa Thầy về cõi vô cùng.

 Thuở sinh thời, Thầy Lê Đình Kỵ không phải là con người của đám đông. Trong giảng đường, đối diện với những mái đầu xanh chăm chú lắng nghe hay những đôi mắt non tơ ơ thờ thả hồn ra ngoài cửa sổ, đôi khi Thầy như người độc thoại. Lúc ấy, có cảm giác như Thầy mải chìm vào thế giới của riêng mình. Thế giới của thơ ca. Thế giới của chữ nghĩa. Thế giới của những tác phẩm lắng sâu và tinh tế, lấp lánh chất suy tưởng và cảm xúc tài hoa.

Không gian mà Thầy là diễn giả thường tĩnh lặng. Giọng Quảng Nam, pha chút âm sắc miền Bắc, dáng điệu bình dị, diễn giả Lê Đình Kỵ chỉ tựa vào ý tưởng. Những sinh viên thực sự yêu văn chương và sẵn sàng lột bỏ những lớp vỏ phù phiếm bên ngoài để chạm vào tinh chất, lắng nghe Thầy, ngưỡng mộ. Những giờ học với Thầy có thể đánh thức nơi họ một khát vọng, gieo vào họ một ước muốn, một dự định. Ngược lại, những sinh viên chờ đợi một không gian sinh động, sôi nổi, mang nhiều chất biểu diễn hay kỹ thuật, có thể sẽ thất vọng.

Đôi mắt thường xa vắng, khóe môi rõ nét, kết hợp với sống mũi thẳng, khi Thầy nói, cái sắc sảo, chất “nổi loạn” ngầm, sự bất chấp thói lề, khuôn phép hiện ra. Cả cuộc đời đi theo nghề giáo, cái môi trường mô phạm ấy không thể biến Thầy thành một ông giáo chỉn chu, đạo mạo, chuyên nghiệp, hay một diễn giả có tài hùng biện. Nồng nhiệt và đắm say trên chữ nghĩa, chất lửa ấy truyền vào văn mà không truyền được vào lời. Trên bục giảng, Lê Đình Kỵ không chủ động trong việc nối kết với học trò của mình. Cứ để mọi cái tự nhiên, Thầy thả lời theo gió….

Tuổi thơ cơ cực nhưng Thầy không là con người thực tiễn. Thời trung học, từ vùng  quê Quảng Nam, khăn gói vào học trường Pétrus Ký, là một điều đặc biệt, không phải ai cũng có được. Vào quân đội một thời gian, dạy học ở miền Trung (trường Trung học Lê Khiết) miền Bắc (trường Đại học Tổng hợp) rồi cuối đời, vào miền Nam (trường Đại học Tổng hợp), Thầy đã làm việc ngay bên cạnh ngôi trường cũ và hàng ngày Thầy đi ngang qua trường, ngày nay đổi tên thành Lê Hồng Phong, vẫn là trường trung học có thế giá, không biết Thầy có cảm giác gì? Có một chút gì e dè khiến chúng tôi không kịp hỏi Thầy: “Thầy đã sống những ngày tháng hoa niên thế nào? Thầy cảm giác gì khi đi qua nơi chốn kỷ niệm xưa của chính mình?”

Văn chương Việt, Pháp và Nga hòa trộn vào nhau đã làm nên cái cảm thức tinh tế nơi Lê Đình Kỵ. Cá tính hướng nội giúp Thầy tập trung nhiều vào chuyên môn, và tìm cách tự đào luyện để mở cho mình những cánh cửa đi ra thế giới. Trên kệ sách của Thầy có rất nhiều tài liệu tiếng Pháp và tiếng Nga. Thầy đọc nhiều sách và tạp chí nước ngoài, nhất là khi đất nước thống nhất. Những cuốn sách quý của Thầy thường cũ kỹ, nhàu nhò, ghi chi chít những giòng chữ nhỏ, nghiêng nghiêng. Có lẽ khi ngồi với chúng, Thầy thoát được tất cả: cái bề bộn tù túng của gian phòng mình ở, cái ồn ào xô bồ của phố xá chợ búa cận kề, cái bèo bọt của đời sống văn chương hiện tại, cái bất trắc của thời cuộc…

Và Lê Đình Kỵ cũng đi tìm cái đẹp giữa thiên nhiên. Ngày xuân, Thầy tha thẩn bên hoa lá thắm tươi trong vườn Tao Đàn, một mình, ngẫm ngợi. Khi gặp người quen, Thầy bẽn lẽn như bị bắt gặp là đang đi hẹn với người yêu. Ngày hè, ra biển cùng đồng nghiệp, học trò, Thầy bị hút vào làn nước xanh thẳm của đại dương và bơi mải miết quên đến giờ quay vào bờ, làm mọi người hoảng hốt. Khi ấy, tưởng chừng Lê Đình Kỵ không phải là cụ ông 70, mà là chàng trai 20 tuổi. Khi ấy, Thầy như được thả mình lại vào giòng sông quê và sống lại những khát vọng vượt thoát mãnh liệt, âm ỉ của mình.

Lê Đình Kỵ rời Quảng Nam từ sớm, nhưng mảnh đất quê hương ấy ngấm vào Thầy những thói quen cảm động. Có ngày, Thầy ra chợ, chọn mua con cá ngừ thật tươi để về lấy bộ lòng làm món mắm ruột, ăn ghém với rau sống. Một lần được xuôi thuyền theo Thu Bồn từ Cửa Đại lên Hòn Kẽm Đá Dừng với nhiều danh sĩ đất Quảng khác, trong khi mọi người chuyện trò sôi nổi, thì Lê Đình Kỵ lặng lẽ như đắm mình vào một cõi riêng nào đó.

Cuối đời, già yếu, lão suy, Thầy được yêu thương và chăm sóc nhiều trong tình cảm ấm áp của vợ con mình. Hai cô con gái của Thầy, thông minh và cá tính. Hè năm nay, tôi đến thăm Thầy ở bệnh viện Thống Nhất. Thầy nằm im lìm, nhợt nhạt, hai tay nắm chặt, chìm trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Khi tôi nắm lấy tay Thầy, Thầy buông nhẹ, một tí thôi, rồi lại nắm chặt hai tay mình và đặt lên trên bụng như cũ.

 Một thế giới bí ấn đã khép lại. Biết bao thương tiếc và xót xa.

                                                                       24-10-2009

Nguồn: Bản tác giả gửi Phê bình văn học. Copyright © 2013 – Nguyễn Thị Thanh Xuân & TẠP CHÍ PHÊ BÌNH VĂN HỌC.

Leave a Reply