Một thế giới sẽ không cô độc vào ngày mai


Nguyễn Đức Hạnh

Các nhà nghiên cứu văn học, các nhà thơ đã viết nhiều về Mai Văn Phấn. Nhiều điều tôi tin nhưng có hai điều tôi còn băn khoăn:

Thứ nhất: Có một số ý kiến khẳng định Mai Văn Phấn viết theo ảo giác, mộng du, tâm linh, vận dụng “lối viết tự động”… Tôi lại nghĩ anh vô cùng tỉnh táo khi sáng tác. Tất cả các thi ảnh, các biểu tượng độc đáo, thậm chí kì dị trong thơ anh chỉ là kết quả của khát vọng làm mới thơ, rời bỏ sự sáo mòn cũ kĩ, hi vọng tạo ra một thế giới mới trong thơ với những cách kiến tạo mới, từ đó đòi hỏi, mong mỏi người đọc hình thành một cách tiếp nhận mới.

Thứ hai: Nhiều ý kiến khẳng định thơ Mai Văn Phấn là tượng trưng, siêu  thực, hậu hiện đại… Các tên gọi ấy thực ra cũng như “nhãn mác” dán lên hàng hoá, sinh ra một đứa con thì phải nghĩ một cái tên để đặt cho nó. Thực chất trong sáng tác, dù là lãng mạn, hiện thực, hiện đại hay hậu hiện đại, đó cũng chỉ là những con đường khác nhau dẫn nhà thơ tới cùng một đích: trình bày những suy ngẫm về thân phận con người với mọi đau khổ và hạnh phúc của nó, bộc lộ mọi khát vọng hay ảo vọng của nó, v.v… Những nội dung mà thơ xưa nay trình bày nào có mới mẻ gì: nỗi cô đơn, tình yêu lứa đôi, tình cảm quê hương đất nước, nỗi ám ảnh về cái chết, trăn trở trước thế thái, nhân tình… Cái mới nằm ở hình thức nghệ thuật để thể hiện những nội dung không mới ấy. Đó là cách tư duy mới để tạo ra những ngôn từ, những biểu tượng thơ mới, vừa in đậm cá tính độc đáo của nhà thơ qua cái nhìn độc đáo của anh ta về thế giới, vừa nhằm tạo ra một “cú sốc” thẩm mĩ cho người đọc, để người đọc “giật mình” trước cái mới sau khi đã chán ngắt cái cũ, từ đó mà đọc, nghĩ, đồng cảm với nhà thơ.

Tôi nghĩ Mai Văn Phấn đã sáng tác theo quan điểm ấy và anh đã bước đầu thành công ở phương diện xây dựng một thế giới mới của riêng mình theo một logic mới. Còn ở phương diện người tiếp nhận thì còn phải chờ đợi có thời gian. Từ bỏ tư duy tiếp nhận cũ đã được dạy dỗ và rèn luyện cả đời không phải là chuyện ngày một ngày hai. Để hiểu và yêu được “ngôi nhà” thơ Mai Văn Phấn không phải dễ dàng, nhưng tôi tin thế giới thơ Mai Văn Phấn sẽ không còn cô độc trong tương lai. Vì sao như vậy? Bởi một vài căn cứ sau đây:

1. Một thế giới riêng mang tên Mai Văn Phấn:

1.1. Một thế giới được xây dựng bằng các biểu tượng “mờ nhoè” theo logic mới.

Trong các bài thơ hay viết theo cách viết truyền thống, ta gặp một thế giới ít nhiều quen thuộc, minh bạch với các biểu tượng sáng rõ, đơn nghĩa (và dù đa nghĩa thì vẫn nằm trong “vùng kiểm soát” của chúng ta). Ví dụ: “Mặt trời” là biểu tượng của chân lý, “mưa” là kỉ niệm, là giọt thời gian rơi, là nỗi buồn, “sóng” là đường đời, là số phận, “hoa” là cái đẹp, v.v… Cái nhìn duy lí tuyến tính và mối quan hệ nhân quả cho ta cách tiếp nhận theo tư duy “đường thẳng”, hợp lí, quen thuộc và có thể dự đoán trước: sau câu thơ này, hình ảnh này sẽ xuất hiện câu thơ khác, hình ảnh khác như một tất yếu.

Nhưng đọc thơ Mai Văn Phấn từ 1995 đến nay (ở phần sáng tác trước đó, anh vẫn “truyền thống” dù đã thấp thoáng tín hiệu về một kiểu tư duy mới) ta ngỡ ngàng trước cái lạ, cái mới và ban đầu không thích vì không hiểu.

Chẳng hạn, ở giai đoạn sáng tác trước 1995, Mai Văn Phấn viết về tình yêu dù tài hoa vẫn cứ “truyền thống” mà thôi:

“Em thở êm như biển lặng tờ

Hay đâu có bão ở trong mơ

Tay em, anh khẽ nâng trên ngực

Như kéo con thuyền lên cát khô”

(Em và biển)

Các hình ảnh, biểu tượng trong bài thơ như biển, bão, thuyền được xây dựng bằng logic quen thuộc với sự duy cảm, duy mĩ của thơ Việt truyền thống. Tất cả để khẳng định tình yêu của “Anh” dành cho “Em”: yêu, che chở nâng niu “em” không chỉ trong đời thực mà trong cả giấc mơ em.

Nhưng sau 1995, cũng trong một bài thơ tình yêu, Mai Văn Phấn đã xây dựng một thế giới mới với các biểu tượng vốn quen thuộc, nay được đặt trong một trật tự mới nên mang ý nghĩa khác, lạ hơn và cũng hấp dẫn hơn.

“Chúng mình hôn nhau trong hành lang hẹp

trên cỏ xanh, trong những góc tối

trên tháp chuông, bên gốc cây cổ thụ…

 

Bốn bề nước tràn ướt chân

lúc ấy gió thổi rất mạnh

 

Con sâu đo em đu lên người anh

thì thầm gặm hết những xanh non

 

Con ong vẫn nhởn nhơ bay

thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm

nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía.

(Gió thổi)

Hai khổ thơ đầu với 5 câu thơ đậm chất văn xuôi như một đoạn nhật ký miêu tả lại địa điểm, điều kiện thời tiết khi “chúng mình hôn nhau”. Có sự tiết chế tối đa cảm xúc, tình cảm chủ quan của người miêu tả này – một điều tối kị với “chất thơ” theo quan niệm truyền thống. Khổ 3 với 2 câu thơ là một biểu tượng độc đáo: “Em” thành “Con sâu đo đu lên người anh”, động từ “gặm” gắn liền với tính từ “non xanh” cho ta một nội dung quen thuộc trong một hình thức mới mẻ: con sâu đo em gặm hết non xanh ở anh bởi vì sau nụ hôn mê cuồng (ở mọi nơi, mọi lúc ấy) những ngây thơ vụng dại của “anh” đã không còn. Khổ 4 gồm 3 câu chỉ tả cảnh mà hoá ra lại gợi tả về “anh” và “em”, tưởng tả “gió thổi” nhưng không: “Nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía”, khi ong bay nhởn nhơ, thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm thì làm gì có gió mạnh? Thì ra vẫn sức trẻ và nụ hôn ấy làm tất cả ngọn cây bạt về một phía. Người làm nghiêng cây hay cây có linh hồn đang nghiêng theo người?! So sánh 2 bài thơ, ta gặp hai tư duy nghệ thuật – hai cách xây dựng biểu tượng đã khác xa nhau.

1.2. Có thể coi mỗi bài thơ của Mai Văn Phấn là một ngôi nhà, các biểu tượng là vật liệu. Cách kết nối các biểu tượng ấy theo logic “nhảy cóc, liên tưởng xa và lạ” đã tạo ra một thế giới vừa quen vừa lạ, đặc biệt rất độc đáo.

Bài thơ “Nếu” là một biểu tượng lớn gồm 4 biểu tượng như: tôi, con chó, ba mét bảy nhăm xăng ti, mưa và mơ. Các biểu tượng ấy thoạt đầu rời rạc, tưởng như không có mối liên kết nào. Nhưng khi đặt chúng vào một tổng thể, với mối liên hệ là logic “nhảy cóc, liên tưởng xa và lạ” ta chợt hiểu: nỗi đau cho những thân phận được mặc địch trong thế giới này. Người mơ giấc mơ của người, chó mơ giấc mơ của chó, và khoảng cách là ba mét bảy nhăm xăng ti – một khoảng cách là cố định, bất biến không thể thay đổi. Chỉ khi có “mưa”- có sự trong lành và công bằng cho vạn vật của thiên nhiên, không kể sang hèn, thì “chúng” sẽ cùng “mơ”. Vậy nếu không có khoảng cách ấy? “Nếu tôi không ngủ trên giường” thì liệu có sự đổi vai giữa chó với người?!

Bài thơ “Anh tôi” ấy được viết theo logic kể trên, như một truyện siêu ngắn, đáp ứng đủ mọi yêu cầu của truyện. Nhưng các biểu tượng xuất hiện trong nó thật lộn xộn, phi logic (theo cách hiểu quen thuộc). Nhân vật “Anh” nhờ giữ hộ “ký ức” đã phi lý. Nhân vật “tôi” 4 lần từ chối kèm theo 4 lần đưa ra giải pháp, để rồi 3 lần “Anh nhìn tôi buồn lắm!”.

– Lần 1: Khuyên anh lên vẽ tranh hoặc viết sách

– Lần 2: Cắt rồi, khởi động lại, thu nhỏ, dừng đột ngột, ninh nhừ, nghiền thành bụi.

– Lần 3: “Tôi” nhớ “người yêu”.

– Lần 4: “Tôi” là quần áo và “tập nghĩ vẩn vơ để có thể nghĩ tiếp”.

Giữa ý nguyện của “Anh” và giải pháp, phản ứng của “tôi” là “ông chẳng bà chuộc” không ăn nhập chút nào. Khổ kết bài thơ còn phi lý hơn: “Anh chờ tôi rửa tay” còn “tôi” thương anh và “nhìn bọt xà phòng ngầu lên trên da trơn ướt thật dễ chịu”.

Nếu từ bỏ tư duy logic quen thuộc và tiếp nhận tư duy mới, ta cảm nhận được nội dung đích thực sau các biểu tượng trong bài thơ này: nỗi cô đơn của mỗi người là không thể trao gửi hay rũ bỏ. Mỗi con người (dù với anh em ruột thịt) là một sinh vật cô đơn vĩnh viễn và ích kỷ vĩnh viễn. Dù có “thương anh”, “tôi” vẫn mang ký ức của mình “mốc meo”, “thối giữa”, vẫn “nhớ người yêu” của mình, vẫn phải “giặt là, giặt là” và “giống quả lắc đồng hồ đã cũ”, v.v…

1.3. Các biểu tượng được kiến tạo theo logic “mập mờ – song hành – đa nghĩa”.

Có lẽ bài thơ “Ghi ở Vạn lý trường thành” là một trong những bài thơ lạ và hay nhất của Mai Văn Phấn. Quá khứ và hiện tại đồng hiện, “vác đá” và “làm thơ” song trùng, bi thảm và hài hước sóng đôi, thực và ảo cùng xuất hiện.

Với bài thơ này, một cách viết mới đã xuất hiện tạo ra một thế giới đa tầng, đa nghĩa. Kiểu logic tuyến tính theo quy luật nhân – quả bị phá vỡ, chỉ còn quan hệ bổ sung ý nghĩa của các thi ảnh có mối liên hệ “ngầm” xuất hiện sóng đôi:

– Xây Vạn lý trường thành <–> Xây thế giới thơ của riêng mình

– Vác từng tảng đá nặng, nhoè mắt cát, thở đầy ngực cát <–> Còng lưng đẩy nắng, chồn chân đẩy gió

– Hoàng thượng <–> Ngài, đồng chí

– Bỉ chức <–> Thảo dân, em

Đi trên Vạn lý trường thành, nhà thơ thấy mình hoá thành một “bỉ chức”, “thảo dân” đang vừa vác đá vừa làm thơ. Những nhọc nhằn khi “Mây” xếp đá lên vai, khi “cát” vào trong hơi thở và làm “nhoè mắt”, nghe được tiếng hoạn quan đe doạ: “Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ – đánh hộc máu mồm – khâm thử!”, nhìn thấy “mặt bì bì, tay lạnh, mắt chì, giọng mỡ.”  Một sự phân thân của nhà thơ xuất hiện trong thời gian đồng hiện quá khứ và hiện tại: vừa là thảo dân đang xây Vạn lý trường Thành vừa là nhà thơ đang “còng lưng” đẩy nắng, đẩy gió xây thế giới thơ còn dang dở của mình, cố sao đến gần “bông hoa” – Cái đẹp cùng lòng dũng cảm “đang mởn mơ trong gió lớn”. Sự đe doạ của “hoạn quan”, của “mặt bì bì”, đặc biệt của:

“Mái Phong hoả đài màu huyết dụ

Hình thanh long đao dính máu đang kề cổ”

Tất cả là biểu tượng của những thiết chế gò bó, những áp bức về tinh thần, những khổ đau của trí thức mà Tần Thuỷ Hoàng xưa, Cách mạng văn hoá ngày nào ở nơi đây từng gây ra; nhà thơ đã đi xuyên không gian, thời gian để hoá thân làm thảo dân, làm thi sĩ, bỉ chức, em…  Ít nhất thi sĩ đã nhập hồn vào vài số phận để trải nghiệm những khổ đau của kiếp người cả trong quá khứ và hiện tại.

Để rồi bừng tỉnh mà vẫn chưa thôi ám ảnh trước Vạn lý trường thành:

Đây là đỉnh trời

hay đang vực sâu

Chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát

Ở hai câu kết, nhà thơ trở lại “đóng vai” du khách

Mồ hôi du khách trên đá xám

Nở thành hoa phù dung

Có lẽ nỗi kinh hoàng sau khi thoát xác nhập hồn, sống bao nhiêu kiếp qua mấy ngàn năm chỉ trong khoảnh khắc đã làm du khách toát mồ hôi. Biểu tượng “Nở thành hoa phù dung trên đá xám” đã kín đáo gửi gắm một hàm nghĩa: Có cái đẹp ẩn chứa sự nguy hiểm chết người. Ngắm cái đẹp bề ngoài mà rùng mình bởi bao xương máu ở bên trong.

2. Một thế giới được kiến tạo theo cách mới đòi hỏi một cách tiếp nhận mới:

Trong thơ truyền thống, ta thường gặp một thế giới nghệ thuật đơn cực, tường minh, với hệ thống biểu tượng đơn phiến, dù có sáng tạo đến đâu cũng nằm trong “vùng thẩm mĩ” quen thuộc và tư duy tiếp nhận đã thành “lối mòn”: từ “cảm” đến “hiểu”, từ rung động của con tim đến sự cắt nghĩa của trí tuệ. Thơ Mai Văn Phấn xuất hiện trong sự khát khao đổi mới, khước từ thậm chí “phá vỡ” những chuẩn mực mang tính quy phạm kể trên. Một thế giới mới ra đời với những trật tự mới. Trong đó, các biểu tượng quen thuộc của thơ Việt như đất sông, ban mai, mưa, mây… xuất hiện trong một trật tự, một logic khác để tái sinh với một vẻ đẹp, sức mạnh khác. Có thể tạm khái quát một số đặc điểm cơ bản của thế giới thơ Mai Văn Phấn:

– Những biểu tượng “mờ nhoè” mời gọi người đọc đồng sáng tạo.

– Xuất hiện rất nhiều “khoảng trắng thẩm mĩ” giữa các thi ảnh.

– Dồn nén những thông điệp hàm súc tối đa trong những sự vật hiện tượng hết sức bình thường, không lí tưởng hoá, phi thường hoá.

– Chất văn xuôi giao hoà với chất thơ và tự nó ánh lên một chất thơ mới.

– Tiết chế sự bộc lộ cảm xúc, tình cảm chủ quan của nhà thơ.

– Tạo cảm xúc cho trí tuệ rồi mới đến cảm xúc cho trái tim.

Với một số đặc điểm thi pháp ấy người đọc cũng phải thay đổi quan niệm thẩm mĩ truyền thống và tư duy tiếp nhận quen thuộc, để “hiểu” rồi mới “cảm” được thơ Mai Văn Phấn, rất ít hi vọng trông chờ vào sự mách bảo của trực cảm ban đầu, việc phân tích từng thi ảnh đơn lẻ, từng biểu tượng cụ thể rồi tổng cộng ý nghĩa và nội dung của chúng lại, không phải bao giờ cũng đem lại một kết quả khả quan. Có lẽ ta đặt mọi thi ảnh, biểu tượng ấy vào một “trường liên tưởng” thật rộng, tạo ra một “ván cờ thế” bằng ngôn từ rồi đưa ra hàng loạt giải pháp như “phép thử” để phá “thế cờ” này. Đặt hàng loạt kết quả khác nhau bên nhau, ta chọn lấy những kết quả ưng ý nhất theo kinh nghiệm đời sống và nghệ thuật của mình. Và chúng ta luôn tâm niệm: Với những bài thơ hay theo phương thức sáng tạo này sẽ không bao giờ có chân lí cuối cùng. Có lẽ phải đọc và hiểu thơ Mai Văn Phấn theo cách sau: đặt toàn bộ các biểu tượng trong bài vào một chỉnh thể, lắng nghe sự âm vang, sóng sánh khi chúng tương tác với nhau, từ đó tiến đến hàng loạt lớp nghĩa hàm ngôn nhiều khi chẳng ăn nhập gì với lớp nghĩa hiển ngôn của nó. Từ những “khoảng trắng” thẩm mĩ dầy đặc trong thơ anh, hãy để tưởng tượng và suy lý cùng bay bổng đến những chân trời khác lạ.

Bài thơ “Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ” là một ví dụ cho hướng tiếp nhận ấy. Nếu phân tích bài thơ theo cách truyền thống, chúng ta sẽ tập trung vào 4 sự kiện phi lí xuất hiện trong 4 khổ thơ.

– Khổ 1 – Sự kiện 1: Pha trà mời khách, quay ra không thấy khách, điện thoại hỏi thì ông ta đã mất 7 năm.

– Khổ 2 – Sự kiện 2: Chủ nhà đột nhiên mất trí nhớ, ngơ ngác trước mọi đồ vật trong nhà.

– Khổ 3 – Sự kiện 3: Ghé hỏi hàng xóm giá thực phẩm, thấy mình vẫn minh mẫn vì vẫn biết “loại tăng giá – loại còn giữ giá”.

– Khổ 4 – Sự kiện 4: Đẩy chén nước về phía ông khách (đã) ngồi thì “luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt – Chốc lại cúi gập”.

Nếu phân tích bài thơ theo cách truyền thống này chúng ta sẽ chỉ thu được hai kết quả. Đây là một câu chuyện Ma hiện hình giữa ban ngày; một bài thơ phi lí, vô nghĩa.

Nhưng nếu đặt cả 4 sự kiện phi lí này vào một “trường liên tưởng” rộng hơn, nắm bắt cái “thần” của toàn bài chứ không làm phép cộng giản đơn của tổng số các chi tiết cụ thể, ta có hàng loạt kết quả từ sự suy nghiệm và phán đoán của mình:

– Sự phi lí của hình thức lại chính là nội dung, bởi cuộc sống quanh ta đâu có thiếu những điều phi lí.

– Cái tưởng đã “chết” lâu rồi vẫn hiện hữu, vẫn “sống” một cách lì lợm đến không thể tin nổi ở quanh ta.

– Sự hoang mang mất niềm tin không chỉ với “người” mà còn với chính mình.

– Sự thật chưa chắc đã là cái “mắt thấy tai nghe”, có sự thật không chỉ không thể xác định bằng các giác quan thông thường, v.v…

Bài thơ có sức gợi mở mạnh mẽ và mỗi người đọc tuỳ theo vốn sống, tầm văn hoá và năng lực cảm thụ văn học của mình mà sẽ có một “đáp số” của riêng mình. Nhà thơ không đóng vai “Đấng toàn trí” để răn dạy, giải thích cho người đọc.

3. Một hành trình với hai ngả đường tìm đến Chân – Thiện – Mỹ trong thơ Mai Văn Phấn:

3.1. Hành trình đi từ nỗi cô đơn vào vũ trụ để khám phá, trở về với chính bản thể của mình, trở về với chân thiện mĩ.

Đọc thơ Mai Văn Phấn, ta gặp cảm hứng vũ trụ là một trong những cảm hứng trung tâm. Nhà thơ đặt vạn vật vào tọa độ vũ trụ để kiếm tìm, khám phá sự vĩ đại trong cái nhỏ nhoi bình dị, thậm chí tầm thường. Các bài thơ “Đêm lập xuân”, “Sẽ mưa”, “Nhìn anh”, “Cửa mẫu”, “Đỉnh gió”, “Hình đám cỏ”… là những biểu hiện cụ thể với rất nhiều biến thái của cảm hứng này.

Bài “Đất mở” của Mai Văn Phấn phác họa một không gian kì vĩ với sông, ngang trời cánh chim, gió, đỉnh đồi, sóng, mặt trời, khoảng đất rộng… Nhưng việc phân tích từng hình ảnh cụ thể ấy không giúp ta hiểu được thi phẩm này. Ta thấy các động từ mạnh xuất hiện dầy đặc và luôn mở đầu cho từng khổ thơ. Các động từ gắn với hệ thống biểu tượng trong 5 khổ thơ. Đặt các biểu tượng trong 5 khổ thơ vào một hệ thống tìm hiểu sự tương giao, tương hỗ giữa chúng, lắng nghe những “âm vang” vọng lên từ những “khoảng trắng thẩm mĩ” chúng ta mới nhận ra “mạch ngầm” ý tưởng của bài thơ.

– Khổ 1: Cái sắp kết thúc và cái mới bắt đầu đang giằng co dữ dội.

Cuộn  chảy

Trong tiếng gào những dải phù du (…)

Đỉnh cây ngùn ngụt bốc cao

– Khổ 2: Khẳng định sự ra đời và tồn tại của cái mới là tất yếu.

Căng ngang trời cánh chim (…)

Dòng sông vừa chảy

Vừa sinh nở

– Khổ 3: Cái mới trẻ trung mạnh mẽ xuất hiện từ những đổ vỡ:

Vòng tay sóng khỏa rộng (…)

Em dựng lại mặt trời đã vỡ

– Khổ 4: Cái mới đi qua sự “trăng trối” và “phân trần” của cái cũ:

“Trôi…

Trôi qua vô cớ lặng im (…)

Thoảng nghe thang thuốc phân trần

– Khổ 5: Cái mới gắn với cái đẹp bắt đầu lan toả và chiếm lĩnh thế giới.

Bông hoa mở

Bùng vỡ những khoảng đất rộng

Phải chăng cái mới ở đây là thơ hậu hiện đại mà Mai Văn Phấn đã dũng cảm “vong thân”để theo đuổi và đã thành công? Tất cả được đặt vào một không gian rộng lớn ở trong trạng thái “động” dữ dội với 28 động từ xuất hiện trong 25 câu thơ, diễn tả một hành trình kiếm tìm đấu tranh vật vã, để đi tới cái đẹp đích thực theo quan niệm của nhà thơ. Ngay trong những bài thơ tình yêu gắn kết với tình dục của Mai Văn Phấn, đẹp đẽ và kì vĩ với tầm vóc vũ trụ là đặc điểm nổi bật trong bút pháp Mai Văn Phấn. Kì lạ và vĩ đại thay, chuyện tình dục xuất hiện với vẻ đẹp thanh sạch, với sự kết hợp của âm dương, đất trời được miêu tả như phút giao hoan khổng lồ của vũ trụ, và qua đó, “Anh” tìm lại chính mình. Các bài thơ “Nơi trời rộng”, “Được quyền nghĩ những điều đã ước”, “Anh anh em em”… mang cảm hứng và tầm vóc ấy:

Điên cuồng đỉnh thác buông

Tiếng thác hay tiếng hú, tiếng rên, tiếng nói

Những bọt nước tung lên và chạy ra xa

Hắt lên nhau ánh cầu vồng ngũ sắc

(…)

Ra biển một mình

Nỗi nhớ buộc vào chân tóc

Cơ thể em trước đại dương phần phật”…

(Anh anh em em)

3.2. Hành trình vượt qua bao ngột ngạt, đắng cay để tìm về sự hồn nhiên cùng sự tẩy rửa, thanh lọc tâm hồn.

Xã hội hiện đại có bao điều tốt đẹp nhưng mặt trái của nó cũng đem lại bao đau khổ. Sự tha hoá khi con người biến thành đồ vật, loài vật theo nghĩa bóng (Chỉ là giấc mơ) những nghịch lí và bao điều phi lí đang hiện hữu (Dạy trẻ con, Còn cậu hãy đứng ra đằng kia, Hội chứng từ một tin đồn…) thói đạo đức giả tràn lan (Chuyện còn dài, Bài học….), nhịp sống hiện đại quay cuồng đến ngạt thở (Quay theo mái nhà), v.v… Từ trong “bụi bặm” ngột ngạt của cuộc sống hiện đại, nhà thơ khát khao về sự tẩy rửa thanh lọc tâm hồn. Bài thơ “Tắm đầu năm” miêu tả một nghi thức “thanh tẩy” kì diệu bằng ánh sáng ngọn đèn và khi ấy, một sự đổi thay phi thường đã diễn ra.

Xối ánh sáng vào từng góc khuất

Góc khuất như lò thúc mầm

Như thép nóng đem tôi vào nước

Như quả trứng trong ổ đang ấp

Rễ thân cành đã chiết đâm ngang

Những “góc khuất” tăm tối của con người được ánh sáng ‘xối” vào để những điều kì diệu xảy ra.

– “Lò thúc mầm”, “thép nóng”, “quả trứng” đang ấp, “rễ thân cành đã chiết đâm ngang”, tất cả các biểu tượng ấy diễn tả một đổi thay nhờ ánh sáng thanh tẩy. Sự tôi luyện và sự sinh sôi đã bắt đầu. Mục đích của “thanh tẩy” thật đẹp: “Tắm gội cho mùa xuân về” trong tâm hồn.

Nhà thơ không chỉ tìm đến sự “thanh tẩy” mà còn tìm về sự hồn nhiên đã mất từ thuở nào. Đi tìm sự hồn nhiên ở thôn quê (điều mà bao nhà thơ khác đã khắc khoải tìm về trong thơ, nhưng ít ai dám về ở thực sự trong đời thực) kết quả thật tệ hại cho kẻ đi qua chốc lát “càng thêm đau đầu trong nắng tháng sáu”. Giải pháp thứ hai để sống hồn nhiên là kết hợp lao động trí tuệ với hoạt động chân tay? Kết quả thật hài hước:

Cả lúc chăm chú đọc sách

Tay vẫn giật như culi kéo quạt (…)

Vừa tư duy vừa cầm dây giật

Chỉ đến khi học được bài học sống hồn nhiên của cây cối trong vườn nhà – những bậc thầy thiên nhiên đang dạy dỗ con người những bài học không lời, điều ước mong mới đến.

“Lại ngập ngừng thêm bao mơ mộng

Tôi pha trà đem dâng cho cây

Trước khi đọc thơ Mai Văn Phấn, tôi như đã quen ngẩng lên chỉ thấy một bầu trời. Đọc và ngẫm nghĩ thật nhiều về thơ Anh, ta như ngạc nhiên nhận ra bên cạnh bầu trời thân quen đã có thêm một bầu trời mới (nó đẹp hay xấu thì tuỳ thuộc vào cảm nhận của mỗi người). Mỗi bài thơ của Mai Văn Phấn như một biển đêm, người đọc là những con tàu, những biểu tượng trong thơ anh là những “cọc tiêu” – Những ngọn đèn thắc thỏm chỉ lối vào bờ. Nhưng “sóng” suy tư xô đẩy nó bập bềnh như không có hàng lối nào, rối rắm và vô phương hướng. Nhưng nếu biết nương theo “sóng”, kết hợp tất cả các “ngọn đèn” tín hiệu ấy thành một hệ thống (chứ không xoáy vào một ngọn đèn nào) ta nhận ra con đường mơ hồ qua “biển” chữ nghĩa để cặp “bờ” cái đẹp, cái thiện, và cũng từ đấy hiểu và yêu thêm biển đêm – thơ Mai Văn Phấn. Về các biểu tượng trong thơ Mai Văn Phấn, anh đã vượt qua thủ pháp “lạ hoá” thông thường để đạt tới “siêu lạ hoá” với những cấu trúc mới cho từng biểu tượng. Mỗi biểu tượng lại như một khối nam châm “hút” trí tưởng tượng của người đọc vào một “trường hấp dẫn” để nó tự do bay lượn và cùng sáng tạo với nhà thơ, cùng “lấp đầy” những “khoảng trắng thẩm mĩ” đang mời gọi người đọc (còn “lấp đầy” được đến đâu lại còn tuỳ thuộc vào năng lực của mỗi người. Nhưng như vậy, người đọc không còn là học trò để tác giả dạy dỗ, chỉ bảo mà đã trở thành “đồng tác giả” với nhà thơ khi đứng trước một bài thơ).

Thơ Mai Văn Phấn không phải không có nhược điểm. Những sáng tạo của anh đòi hỏi một tầm văn hoá cực kì sâu rộng và một tài năng thi sĩ đích thực, cùng một đam mê đến tột độ dành cho thơ và cách tân thơ. Tất cả những điều ấy được ví như một ngọn lửa lúc nào cũng phải rừng rực cháy trong tâm hồn thi sĩ. Nhưng lửa có phải lúc nào cũng cháy sáng? Những “đồ gốm” thơ Mai Văn Phấn “nung” trong ngọn lửa ấy có lúc “chín” non, gượng, chưa tới. Thành ra bên những tuyệt phẩm vẫn có thứ phẩm. Điều đáng tiếc ấy cũng là một tất yếu với mọi nhà thơ.

Nhưng tạo ra được một thế giới mới của riêng mình với phương thức kiến tạo mới, từ đó đòi hỏi, hoặc thúc đẩy phải ra đời hệ quy chiếu mới, quan niệm thẩm mĩ mới để bình giá, thưởng thức “ngôi nhà” thơ độc đáo thì đó phải là một tài năng lớn; Và trong nghệ thuật tài năng lớn phải đi cùng nhân cách lớn, có như vậy tài năng mới có thể phát sáng tận độ của nó. Đó cũng là một đóng góp lớn cho quá trình hiện đại hoá mà không xa rời bản sắc văn hoá dân tộc cho văn học nước nhà của Mai Văn Phấn. Tôi vừa say mê vừa phờ phạc về thơ Anh. Nhưng dù có phờ phạc đến đâu, không hiểu sao những câu thơ Mai Văn Phấn cứ văng vẳng trong tâm thế tiếp nhận vừa sung sướng vừa nhọc nhằn của tôi:

Anh là con cá miệng dàn dụa trăng

Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động

(Ngậm em trong miệng)

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, Hải Phòng 15/5/2011.Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply