Nghĩ thêm về bài thơ “Nam quốc sơn hà”


Trầm Thanh Tuấn

Có thể nói Nam quốc sơn hà [南國山河]là một kiệt tác trong dòng văn học yêu nước nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung. Tuy nhiên đây lại cũng là một tác phẩm hết sức phức tạp, còn nhiều tồn nghi từ nhiều phương diện như: tác giả, thời điểm ra đời cũng như tình hình dị bản của văn bản. Cho đến hiện tại trong giới nghiên cứu vẫn chưa đi đến sự thống nhất cao trong việc xác lập mộtthiện bản (văn bản chuẩn). Bàn về vấn đề này, nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, trong Khảo và luận một số tác gia, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (tập 1), NXB Giáo dục, 1999, đã cung cấp những dữ liệu khá tin cậy về những dị bản của Nam quốc sơn hà. Theo ước đoán của tác giả thì dị bản của Nam quốc sơn hà đã lên đến hơn hai mươi dị bản. Trước tình hình ấy, chúng tôi tạm chọn văn bản trong Sách giáo khoa là cứ liệu chính để khảo cứu.
Nguyên tác chữ Hán 
南國山河南帝居
截然定分在天書
如何逆虜來侵犯
汝等行看取敗虛
Phiên âm:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
 Dịch nghĩa
Sông núi nước Nam vua Nam ở (hoặc gánh vác)
Giới phận đó đã được định sẵn ở sách trời
Cớ sao mà kẻ thù lại dám đến xâm phạm
Chúng mày sẽ xem sự thất bại (mà chúng mày) phải nhận lấy.
Dịch thơ
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
(Lê Thước – Nam Trân dịch, trong Thơ văn Lí – Trầntập I, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977)
Bài thơ mở đầu bằng lời tuyên bố:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Nếu nói bài thơ là khúc ca hùng tráng biểu trưng cho ý thức độc lập dân tộc cao độ thì những quốc [], đế [] chính là những thanh âm hùng tráng nhất. Quốc là nước, thật đơn giản! không có gì đáng bàn. Thế nhưng nội hàm của từ quốc có thật đơn giản thế không? Như chúng ta biết chữ Hán có nhiều nghĩa, nghĩa gốc, nghĩa cổ và nghĩa mở rộng. Trong quá trình tìm hiểu, thiết nghĩ cần có sự liên hội các sắc thái nghĩa ấy để nhằm có cái nhìn tinh xác về nghĩa của từ theo đúng khuôn thức lịch sử của nó. Theo cứ liệu của Đặng Đức Siêu trong Ngữ văn Hán Nôm (tập 1), NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, thì Quốc là từ để dùng chỉ các vùng lãnh thổ phụ thuộc của các  “vua chư hầu” thời Tây Chu gọi là  “Chư hầu quốc “. Cuối thời Xuân Thu, nhà Chu mất dần địa vị bá chủ chư hầu, các nước (quốc) chư hầu đánh nhau tạo thành cục diện “thất quốc tranh hùng” (bảy nước lớn Tần, Nguỵ, Yên, Hàn, Tề , Sở, Triệu tranh nhau ngôi bá chủ nắm quyền cai quản Trung Hoa đương thời). Thế nên từ đó Quốc là lớn nhất, cả Trung Hoa từ sau cũng gọi là quốc – Trung Quốc.
Ngược dòng lịch sử cho thấy, bọn phong kiến phương Bắc chưa bao giờ công nhận nước ta với tư cách là một quốc (từ trước khi bài thơ ra đời) mặc dù đất nước ta đã giành quyền tự chủ từ năm 938, sau trận đánh Bạch Đằng chói ngời lịch sử của Ngô Vương. Thế nhưng, khi Đinh Bộ Lĩnh sáng lập ra triều Đinh với đế hiệu là Đinh Tên Hoàng, quốc hiệu là Đại Cồ Việt thì chúng vẫn xem nước ta như là một quận của chúng nên chỉ công nhận Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ quận vương. Như vậy chữ Nam quốc trong bài thơ như được đặt vào thế ngang hàng đối sánh với Bắc quốc. Thật diệu! Hơn thế nữa, chữ Nam quốc ấy không chỉ một lần được cất cao thúc giục quân dân nhà Lí đánh đuổi giặc Tống ra khỏi bờ cõi Đại Việt mà nó còn vang lên thật kiêu hùng trong lời hịch của Quang Trung trước khi chuẩn bị xuất quân đại phá quân Thanh: “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng tri hữu chủ”.
Bàn về chữ đế, chúng ta cần tìm hiểu quan niệm về chữ đế của người xưa. Trong huyền thoại của người Trung Quốc cổ xưa có những vị được gọi là đế như: Phục Hy – đế phương đông; Chuyên Húc – đế phương Bắc; Thiếu Hạo – đế phương Tây; Thần Nông – đế phương Nam, Hoàng đế ([1]) ở trung ương. Các vị này đều ngự ở trên trời. Như vậy chữ đế nguyên nghĩa là để chỉ trời chứ vốn không có nghĩa là chỉ vua. Các triều đại Hạ, Thương, Chu đều dùng chữ Vương để gọi vua (thời Tam Vương). Đến khi nhà Tần thôn tính xong sáu nước (Nguỵ, Yên, Hàn, Tề , Sở, Triệu) thống nhất toàn cõi Trung Hoa, vua Tần là Doanh Chính cho rằng chữ Vương [] chưa xứng với tầm vóc, chưa tỏ rõ được uy quyền thống trị nên tự xưng là Hoàng Đế ([2]), Thuỷ Hoàng Đế (vị vua đầu tiên của nhà Tần). Các triều đại sau đều noi theo thế mà gọi là hoàng đế với ý nghĩa là kẻ thống trị toàn bộ thế giới này.
Như vậy việc dùng từ Nam đế có ý nghĩa thật lớn lao. Ông cha ta muốn phủ định tư tưởng ngạo mạn của bọn phong kiến phương Bắc rằng dưới vòm trời này không chỉ có một ông vua là hoàng đế Trung Quốc. Nếu ở phương Bắc có Bắc đế thì ở phương Nam cũng có Nam đế. Vị thế nào khác gì nhau? Hơn thế nữa chúng ta nhận thấy, hàm ý sâu xa trong từ Nam đế không đơn thuần là chỉ để nâng tầm mà đây còn là tiền đề của luận đề chính nghĩa về nền độc lập của dân tộc: Đây là đất nước có chủ, có người đứng đầu. Vậy nên câu thơ biểu trưng cho tinh thần, cho sức mạnh người dân của đất nước (xác lập tự chủ từ phương diện con người).
Câu thơ tiếp theo lại là sự xác lập quyền tự chủ khác, quyền tự chủ trên phương diện lãnh thổ.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Có thể nói trong câu thơ chúng ta quan tâm nhiều đến chữ thiên thưThiên thư nghĩa đen là sách trời. Vậy sách trời là gì? Có thể tác giả đang đề cập đến khoa chiêm tinh cổ (đây là lĩnh vực được người Trung Quốc quan tâm từ rất sớm). Theo khoa chiêm tinh cổ thì các quốc gia trên mặt đất ứng với các tinh phận trên bầu trời. Trong sách Sử kí [史記], Tư Mã Thiên viết “trời thì có các vì sao, đất có các châu vực”hay trong sách Chu lễ [邾禮] viết: “phong vực của các nước trong Cửu châu, với các sao trời cũng phân như vậy”. Thật vậy dấu ấn của tư duy này đã được thể hiện trong thơ ca cổ điển của Trung Quốc:
Ở Đằng Vương các tự [滕王閣序], Vương Bột viết
南昌故郡
洪都新府
星分翼軫
地接行廬
Nam Xương cố quận
Hồng Đô tân phủ
Tinh phận Dực, Chẩn
Địa tiếp Hành Lư
(Quận Nam Xương, quận này quận cũ – Phủ Hồng Đô phụ nọ phủ tân – Sao trời Dực, Chẩn ngôi phân – Hành Lư đất tiếp núi gần non xa([3])).
Sao Dực, sao Chẩn nói đến trong bài tự là để chỉ đất Sở (thời Chiến Quốc), ở phương Nam. Đằng Vương Các nằm trên đất Sở ngày xưa. Hay trong Thục đạo nan [蜀道難], Lí Bạch viết:
捫參歷井仰脅息 
Môn Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức
(Sờ được sao Sâm, lướt qua sao Tỉnh, ngẩng trông nín thở, đưa tay vỗ bụng).
Sao Sâm thuộc phận dã đất Thục, sao Tinh thuộc phận dã đất Tần. Nói sờ được sao Sâm nghĩa là tác giả đã đến đất Thục ([4]). Như vậy, lí thuyết này là của tổ tiên đội quân đang xâm lược nước ta. Lấy lời của ông cha chúng mà khẳng định chủ quyền lãnh thổ: Nước Nam là nước độc lập (quốc) nên tất yếu (tiệt nhiên) cương vực cũng đã được định sẵn bởi tinh phận trên bầu trời, thì không còn gì tuyệt hơn, trí tuệ hơn. Ấy cũng chẳng qua là lấy gậy ông mà đập lưng ông mà thôi.
Trên cơ sở xác lập luận đề chính nghĩa tác giả đi đến phê phán giặc cướp nước đã chà đạp lên chính nghĩa:
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Như hà: cớ sao, lời nói như mắng. Tác giả gọi giặc ngoại xâm bằng tiếng gọi khinh bỉ: nghịch lỗ. Thật vậy, những kẻ đã gạt bỏ chính nghĩa, đem quân giày xéo một đất nước thuần hậu, chuộng hòa bình gọi như thế thật chính xác biết bao! Hơn thế nữa, nếu ta hiểu được cách sử dụng từ “xâm “ thì càng cảm nhận sâu sắc sự thâm thuý của thi nhân. Hán tự có hiện tượng cùng một ý nghĩa nhưng có nhiều cách biểu đạt. Nói về chiến trận có:
– Phạt []: Tiến đánh công khai, vì chính nghĩa mà dùng binh đánh kẻ làm loạn, kẻ có tội.
– Tập []: tiến đánh bất ngờ.
– Chinh []: Thiên tử xuất quân đánh dẹp phản loạn, thường là từ nước này đem quân sang đánh nước khác.
– Xâm []: Tiến đánh lén lút phi nghĩa.
Trong hàng loạt những từ đồng nghĩa khác âm, tác giả chọn xâm, một từ đã biểu đạt sâu sắc sự phi nghĩa của bọn phương Bắc hiếu chiến đem quân sang xâm lược đất nước ta. Thế nên, điều tất yếu sẽ đến với chúng là: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Đến đây chúng tôi muốn trao đổi thêm về một ý mà từ trước đến giờ “chúng khẩu” đều “đồng từ”Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 (tập 1) viết: “Bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng thơ dõng dạc đanh thép, Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập (TTT nhấn mạnh) đầu tiên khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước và nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước kẻ thù xâm lược” [tr 65]. Chúng tôi cho rằng Tuyên ngôn Độc lập chỉ có thể xuất hiện trong hai trường hợp: một nước không có độc lập sau đó giành được độc lập hoặc một nước có độc lập, bị xâm lược sau đó giành lại được độc lập. Xét về phương diện lịch sử, rõ ràng xem Nam quốc sơn hà là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên có chỗ không thoả đáng vì cũng theo Sách giáo khoa Ngữ văn 7“Có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ, trong đó có truyền thuyết: năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (một khúc của sông Cầu, nay thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh), bỗng một đêm, quan sĩ chợt nghe từ trong đền thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát – hai vị tướng đánh giặc giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt – có tiếng ngâm bài thơ này” [tr64]. Nếu như Sách giáo khoa tạm xem truyền thuyết này là căn cứ để ước đoán hoàn cảnh ra đời của thi phẩm thì càng không nên xem Nam quốc sơn hà là một tuyên ngôn độc lập. Vì ở thời điểm ấy nước ta đã có độc lập (nền độc lập được xác lập từ thời Ngô Quyền – 938) và nhà Tống chưa bao giờ đô hộ được nước ta.
Nam quốc sơn hà là một bài thơ có một vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc cũng như trong dòng văn chương yêu nước của dân tộc. Một bài thơ hay nhưng không dễ hiểu. Một vài ý kiến nhỏ chúng tôi mong được góp thêm để làm rõ thêm một vài khía cạnh của thi phẩm độc đáo này của văn chương trung đại.



([1]) Chữ hoàng nghĩa là màu vàng []
([2]) Chữ hoàng nghĩa là Vua, từ nhà Tần trở về sau đều gọi vua là Hoàng đế [皇帝].
([3]) Tùng Văn Nguyễn Đôn Phục dịch
([4]) Trong Tựa sách Quốc âm từ điệu, Phạm Đình Toái viết “… Than ôi! Trời đất còn dài, non sông vẫn vậy; có bờ cõi, nhân vật, phận thuộc sao Dực, sao Chẩn, tức là có phong tục thanh âm của nước Viêm bang…” [tr 359] (Chuyển dẫn Đinh Gia Khánh – Văn học góp phần tạo nên những giá trị văn hoá hàng đầu của dân tộc In trong Những vấn đề văn hoá Việt nam hiện đại  NXB Giáo dục, 2001)

Nguồn : Tạp chí Nhà văn số 06-2011

Leave a Reply