Nghĩ về Xuân Quỳnh, con người và nhà thơ


Lại Nguyên Ân

Trước mặt tôi lúc này là những cuốn sách của Xuân Quỳnh, hàng chục tập thơ và văn xuôi, mỏng mảnh, gọn nhẹ. Mắt lướt trên các trang chữ mà sao khó định thần vào một điều gì. Tôi tự hiểu thời điểm này. Trong trí nhớ vẫn còn nguyên cái tai hoạ dữ dội vừa cắt ngang cuộc đời tác giả, cùng một lúc với cả người chồng và đứa con yêu. Làm sao có thể chế ngự cảm giác xót xa bàng hoàng để huy động tư duy phân tích? Lại nhớ lời trách của Xuân Quỳnh dạo nào: “Các ông là những nhà phê bình mà tôi tin, thế mà sao các ông chả viết gì về thơ tôi? Dở hay gì cứ nói thẳng, tôi nghe hết!”. Không thật nhớ là khi ấy tôi đã chống chế ra sao, hình như đại khái là: Thì bà là hiện tượng quan trọng, nên chúng tôi mới phải dè chừng khi động bút chứ sao!

 

Lời đối đáp thoảng qua ấy, vào thời điểm hôm nay, tôi xin nhắc lại. Đúng thế, Xuân Quỳnh là hiện tượng rất quan trọng của nền thơ chúng ta. Có lẽ là từ thời Hồ Xuân Hương, qua các chặng phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ đầy tài năng và sự đa dạng của một tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào phong phú như vậy.

 

Nhưng Xuân Quỳnh không chỉ là xuất chúng trong giới “thơ phụ nữ” (chữ dùng này quả là rất ước lệ, chỉ thuần tuý căn cứ vào giới tính tác giả!). Đây còn là một gương mặt thơ tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Hai chục năm nay, thơ Xuân Quỳnh đã đi vào người đọc, trở thành tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi cay đắng ở đời, tiếng nói của tình yêu và tình mẫu tử, tiếng nói hồn hậu, dung dị, chứa đựng sự sống đương thời mà cũng in dấu nếp nghĩ nếp cảm của tâm hồn người Việt tự xa xưa. Những thiếu nữ bước vào tuổi yêu đương đã tìm đến thơ Xuân Quỳnh. Những người mẹ trẻ phập phồng ngày tháng theo dõi mỗi hơi thở  mỗi bước đi của đứa con mình, có thể tìm được ở thơ Xuân Quỳnh một người bạn sẻ chia tâm sự… Đối với người làm thơ, được như thế đã là hạnh phúc.

 

***

 

Nói đến “xuất xứ” của Xuân Quỳnh giữa làng thơ, lại phải nói đến sự xuất hiện đông đảo, ào ạt của một lớp người viết mới, đem vào văn học những giọng nói mới, vào những năm sáu mươi. Nếu lấy mốc sự xuất hiện ấy là những năm 1964-65 thì Xuân Quỳnh quả là có “ra trước” chút ít, giống như một người chị. Nhưng chị đã nhập bọn như một người bạn cùng lứa. Lớp nhà thơ này, trên chặng tiếp theo, cuộc đời và nghệ thuật của họ vừa tách biệt, phân hóa, lại vừa xen cài, giằng chéo vào nhau. Xét về nhiều mặt, chính ngay mối tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ và sự nghiệp văn học của cặp vợ chồng này cũng là nằm trọn vẹn trong phong trào “văn học trẻ” ấy. Cho đến tận gần đây, những thành viên của thế hệ này đã là lực lượng chính của “sản xuất văn học”, nhưng hầu như chưa ai nghĩ đến một sự tổng kết, dù sơ bộ, về họ. Chính việc Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đột ngột ra đi đã khiến chúng ta phải nghĩ đến công việc ấy, một công việc hẳn là sẽ có ích cho văn học sử, hơn nữa, cho thái độ đón nhận của chúng ta đối với những thế hệ mới, đã và sẽ bước vào văn học.

 

Về thế hệ này, đương thời người ta thường nói rằng họ không có gì để từ bỏ, lựa chọn, không có việc “nhận đường”, tìm đường trong nghệ thuật. Cho đến hôm nay, điều đó có vẻ không phù hợp với thực tế. Văn học là quá trình, cuộc đời sáng tác cũng là quá trình. Ở thế hệ nhà văn này, không thể hoàn toàn nói rằng con đường nghệ thuật của họ đã không phải vượt qua những trở lực, đã không phải trải qua những lầm lẫn, bị lừa dối và tự lừa dối, bị mê hoặc và tự mê hoặc, rồi tỉnh ngộ, tự tìm đường đi trong nghệ thuật, tới những đích khác nhau. Những điều này, thời gian sẽ cho thấy rõ dần, qua từng trường hợp cụ thể.

 

***

 

Ai quen biết Xuân Quỳnh, hẳn sẽ để ý đến nét khác lạ nơi tay chị: một đôi bàn tay như già hơn nhiều so với gương mặt. Một gương mặt xinh đẹp, trẻ hơn tuổi, với cặp mắt tinh anh, duyên dáng, như rất dễ mỉm cười, che hết mọi phiền lo. Gương mặt phụ nữ đẹp đến nỗi khó tin đấy lại là người làm thơ. Mà người phụ nữ đẹp và làm thơ ấy lại có đôi bàn tay giống như gương mặt Trương Chi! Chính Xuân Quỳnh đã không ít lần viết về bàn tay mình, ví dụ mấy câu này, trong giọng giãi bày với người yêu:

Bàn tay em ngón chẳng thon dài

Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả

Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ

Hái rau dền rau dệu nấu canh

Tập vá may, tết tóc cho mình

Rồi úp mặt trên bàn tay khóc mẹ

 

Đôi bàn tay tiết lộ số phận. Một số phận đã từng không may mắn, dường như luôn luôn phải “đánh đu” với cuộc sống, với hạnh phúc. Cũng là trớ trêu chăng, con người có số phận như thế lại mang trong mình nhiều khao khát. Trong một bài thơ viết năm 1962, Xuân Quỳnh viết rằng ngày bé mình chỉ mơ đến rằm tháng Tám để được vui chơi với bạn bè dưới trăng thu,

 

khi lớn khôn ước mơ càng cháy bỏng:

mơ ước thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời,

 

đưa thơ cùng du hành vũ trụ, sưởi ấm vừng trăng lạnh, đưa thơ đi cập bến các vì sao…

Như lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng

 Biết bay rồi ta lại muốn bay cao.

 

Hình như gốc gác tấn kịch của mỗi người sáng tạo là như thế. Ít ai làm “nghề” này lại không luôn luôn tự cảm thấy trạng thái quá sức của mình. Như luôn luôn chới với vươn về cái đích rất khó tới. Phải đánh cuộc với số phận, với sự sống, với hạnh phúc. Vả chăng, chính năng lượng của thơ, của nghệ thuật sẽ nảy sinh từ đó.

Quá sức vì khát vọng, có lẽ, đó cũng là trạng thái của Xuân Quỳnh.

 

***

 

Trong một bản tiểu sử văn học viết ngày 29-8-1982, trả lời cho đề mụcNguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học, Xuân Quỳnh ghi hai điểm: ” − Vì thích thú. Làm văn học cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa.  Vì uất ức. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết“.

 

Chặng đường Xuân Quỳnh từ một “cô văn công” trở thành một biên tập viên văn học quả là có gian nan hơn so với một số người khác. Nhưng đây không phải chỗ để trách cứ các nhà quản lý: chị chủ yếu là tự học chứ không được đào tạo. Vả lại, chặng đường ấy chị đã khắc phục được chỉ sau dăm năm. Và điều cốt yếu đối với chị là trở thành nhà thơ chứ không phải chỉ là một biên tập viên văn học.

 

Tấn kịch của chị là ở một phía khác, ở đấy những định kiến và can thiệp từ bên ngoài chỉ có thể gia giảm cho những đau khổ hay niềm vui, chứ không thay đổi căn bản được điều gì. Và cái đáng nói không phải là ở chỗ chị đã may hay không may lâm vào tấn kịch của mình (Mấy ai không có tấn kịch của riêng mình!). Cái đáng nói là trong khi sống trọn vẹn cái tấn kịch của chính mình, chị đã nói được về nó bằng thơ. Để người ngoài có thể soi vào, có thể ướm những trải nghiệm khổ đau, vui sướng, giận hơn của chị vào trạng thái tình cảm của họ. Để người ngoài có thể mượn những tiếng lòng mà chị đã thốt lên kia làm tiếng lòng của họ. Phải chănglàm nhà thơ chính là như thế?

 

Diễn đạt tấn kịch của Xuân Quỳnh là không dễ. Sa vào các chi tiết tỉ mỉ thì dễ thành tọc mạch vô ích mà cũng chưa chắc đã tỏ rõ được điều gì. Tôi thử men theo một đường viền.

 

Ở ta và có lẽ không chỉ ở ta, đã nhiều thời từng có những nam thanh nữ tú từ các làng quê tìm vào thành thị. Họ vừa ca hát trước phố xá về tình yêu làng quê, nếp sống làng quê, vừa tìm cách “làm tổ” tại thị thành, thích nghi với đời sống thị thành. Dẫu họ có trở thành người kẻ chợ từ trang phục đến lối ứng xử thì trong đáy sâu tâm hồn họ, nếp sống làng quê, tính cách làng quê vẫn còn lại đó. Vả chăng, quá trình thích ứng cũng là quá trình vấp váp. Cái dại khờ, cả tin, nông nổi của họ cứ mỗi bận lại phơi ra trước những gì là tinh ranh, biến báo nơi thành thị. Vấp váp có thể gây bươu đầu, sứt trán, sái chân, nhưng quan trọng hơn, nó nhói lên trong đáy hồn những day dứt, giận hờn, nó đánh thức những mặc cảm sâu kín, nói khơi dòng cho những bài hát mới, trong đó làng quê là nỗi nhớ nhạt nhoà mà lại khôn khuây, hóa thân vào nỗi nhớ cỏ xanh, rau dại, hoa dại, bến bãi, đất cát, còn thành thị thì vừa như thêm vẻ bí hiểm, đáng sợ, vừa như thêm quyến rũ, mời gọi. Nhưng dẫn bước vào đó thì thế nào cũng phải tự cảnh giác với tính khờ khạo, cả tin, với những định kiến giản đơn một chiều, − điều mà những con người từng để lại nhúm rau sau luỹ tre xanh khó lòng mà dứt ra được.

 

Phải chăng ở Xuân Quỳnh cũng có tấn kịch tương tự? Cái tấn kịch đã hóa thân trong tình yêu, − lĩnh vực hình như là đam mê hết sức cốt yếu đối với cuộc đời chị, và đã được bộc lộ ở rất nhiều cung bậc, rất nhiều sắc thái: tha thiết đến mức như tuyệt vọng, như van vỉ, như thề bồi, hồn nhiên trong thỏa mãn chốc lát, lo âu cho hạnh phúc không tròn, ngờ vực lòng ai tàn phai lời ước hẹn… Có thể trả giá đắt cho ảo tưởng về hạnh phúc, nhưng từ bỏ thì chị không thể. Giả như trong cuộc đời người phụ nữ ấy đã không có những trắc trở của tình yêu, đã không từng hơn một lần qua đò sang bến, thì cũng khó hình dung mảng thơ tình của chị sẽ mang diện mạo ra sao. Bởi “chuẩn mực” tình yêu ở nhà thơ khao khát yêu đương ấy vẫn có vẻ gì rất đồng nội, quê kiểng, nó gắn với sự duy nhất, sự chung tình, với tổ ấm, với mái nhà, với hạnh phúc của hôn nhân, nó đòi tuyệt đối, nó dứt khoát không chấp nhận mọi ngập ngừng trù trừ, láu cá, nó không chịu bị xẻ chia, bị vay mượn, dẫu là tạm thời, là thường tình, nó xoè tất cả lông cánh, móng vuốt ra để giữ gìn tình yêu trước mọi sự xâm phạm tự phía ngoài.

Chính cái chuẩn mực hằng đeo đuổi ấy lại trái hẳn với thực tế đã trải. Hóa ra, người đeo đuổi một ý niệm tình yêu chuyên nhất lại bị mang tiếng trước người đời như là kẻ có lắm sự yêu đương “phức tạp”, phá phách (Luôn tiện, xin nêu nhận xét thú vị của một người bạn tôi: các nhà thơ thường không đứng ngoài đạo đức, chính họ thường hướng tới tạo dựng một đạo đức cho tương lai. Nhưng không ít hành vi của họ lại thường bị người đương thời coi là vi phạm đạo đức!). Dẫu sao, đấy là chuyện bề ngoài. Điều nên nói là bề trong, là “lợi ích” của văn học do tất cả các chuyện này: chính tấn kịch ấy đã biến Xuân Quỳnh từ con người có nhu cầu tự ca hát về tình yêu và cuộc săn đuổi hạnh phúc của mình thành một nhà thơ viết về tình yêu và loại phong phú nhất trong số các nhà thơ cùng thế hệ.

 

Những người làm thơ cùng thế hệ Xuân Quỳnh đã được nghe không ít những lời khuyên: hãy viết về những cái rộng hơn ngoài cái “tôi” của mình. Xuân Quỳnh đã nỗ lực không ít để đáp ứng điều này. Và nhờ vậy chăng, thế giới sự vật trong thơ chị được mở rộng ra không ít. Song, cái mà chị viết nhiều nhất, thành công nhất lại vẫn là về chính cuộc đời mình, những chuyện của mình, những gì liên quan đến mình. Có lẽ, ai viết tiểu sử chi tiết của Xuân Quỳnh sẽ có thể dựa khá sát vào thơ của chị. Tính chất tự truyện là nét đậm, quán xuyến hàng loạt bài thơ, tập thơ, và cũng là nét khác biệt rõ rệt so với thơ của nhiều người cùng thế hệ. Gần như chị trở thành nhân vật văn học của chính thơ chị. Chị đam mê sống, đam mê yêu, đam mê trong thiên chức làm vợ làm mẹ, − những điều ấy, nhân vật kia nói lên giúp. Mọi sự vẫn như thế thôi, nhưng đã là sang một thế giới khác, dịu nhẹ hơn, có thể dệt thêm màu vẻ cho cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Vẫn chỉ là mình và người mình yêu đấy thôi, nhưng đó đã như mơ ước của mình về mình và cho mình. Phải chăng đấy là cái “cuộc đời khác nữa” mà Xuân Quỳnh tìm thấy trong văn học, nơi thăng hoa và giải thoát độc đáo cho tấn kịch của chị? Nói một cách giản dị, chính là sống trọn vẹn tấn kịch của chính mình, ghi lại bằng thơ những động thái tâm hồn mình, chị trở thành nhà thơ được công chúng thừa nhận. Có thể là chị không lưu ý lắm đến cái được gọi là “hằng số nhân bản” mà các nhà khoa học thường xuyên nêu lên, nhưng hẳn là chị tin rằng không có chuyện gì của cuộc đời một con người lại là quá ư dị biệt, xa lạ với cuộc đời những người khác.

 

***

 

Ai xúc tiếp nhiều với Xuân Quỳnh, hẳn sẽ thấy chị rất không ưa những gì nghiêm nghị, trịnh trọng. Chị sẵn sàng phá vỡ cái không khí nghi thức đạo mạo bằng những câu đùa hoặc hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, nghịch ngợm, hoặc đôi khi khá chanh chua, nhưng thường là hết sức dân dã, hết sức phố xá. Đằng sau cái tác phong mà không phải ai cũng dễ ưa ấy, phải chăng có thể nghĩ rằng ở con người này đang dần dần hội lại những nét gì tương tự như là sự thông tuệ dân gian, trí khôn và cách ứng xử dân gian? Tôi vẫn ngờ rằng con người Xuân Quỳnh thuộc về văn hóa dân gian và cổ truyền nhiều hơn là thuộc về văn hóa hiện đại. Nếu vậy, hẳn đây lại là chỉ dẫn về một khía cạnh nữa trong tấn kịch của chị, bởi hình như cũng ở mức nhiều hơn ai, chị cố gắng làm người của hiện đại, của đương thời, cả trong đời sống lẫn trong văn học.

 

Chỉ học hết lớp 6, chị đã đi làm, và từ đó, sự tự học của chị thật bền bỉ. Chị có mặt ở hầu hết các loại lớp văn hóa, chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ do Hội tổ chức. Vài năm gần đây, chị vẫn gắng học thêm để nâng cao trình độ tiếng Pháp, tập dịch thơ rồi nhờ thầy sửa giúp, để rút kinh nghiệm hơn là để đưa đăng. Và chị đọc rất chăm. Phải thức khuya mà đọc, chị bảo thế. Nhất là sách dịch, từ nhiều nền văn học khác nhau. Tôi còn nhớ, khi đọc xong Trăm năm cô đơn, chị còn mượn đọc các tài liệu phân tích, để hiểu tác phẩm của một nền văn hóa khác, với chúng ta còn là xa cách, lạ lẫm. Cũng có thể thấy dấu vết sự học hỏi của Xuân Quỳnh ở ngay thơ chị. Từ bài mở đầu tập Chồi biếc in rõ dấu ca dao, sang những tập thơ sau này, chị đã trở nên lành nghề, thậm chí đã biết tận dụng cả sự khéo tay, tận dụng những cách cấu tứ của cả nhà thơ cùng lứa lẫn nhà thơ lớp trước. Và chị đã văn chương hóa không ít, hơn nữa, đã cùng các nhà thơ cùng lứa tạo ra một kiểu “văn chương hóa” mới, một kiểu trang sức mới. Nhưng cốt cách thơ Xuân Quỳnh, qua mọi biến thái vẫn gắn nhiều hơn với những gì đã có nơi chị từ điểm xuất phát. Ấy là một giọng thơ dù biến hóa đến mức văn hoa kiểu sức vẫn còn lại cái phần gắn bó với lối nói, lối nghĩ, lối cảm thông thường, có thể là xa xưa nữa, của người Việt, của tiếng Việt.

 

Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng dễ hiểu đối với công chúng đông đảo. Sáng rõ, nhã nhặn, giản dị − là những đặc tính được chị ưa thích, cả cho thơ lẫn cho văn xuôi. Không phải chị không biết đến luật thay đổi của thời gian đối với các thị hiếu nghệ thuật. Đã có lúc chị thẳng thắn chế giễu cái chất mà chị goi là “âm lịch”, tức là cái cổ lỗ, cũ kỹ trong thơ văn của những cây bút nào đó. Và chị cũng không tự coi mình là “tân thời”. Không phải là không có dụng ý khi tập thơ tuyển Sân ga chiều em đi được kết thúc bằng hai câu nhắn gửi người đọc

 

Anh hãy nghĩ khác xa điều tôi nghĩ.

 Thơ tôi làm không phải để anh theo”.

 

Nhưng dẫu sao, Xuân Quỳnh, với tư cách một con người và một nhà thơ, vẫn gắn bó, vẫn hướng nhiều hơn về phía những chuẩn mực, những nền nếp đã hình thành từ xưa của đời sống và của nghệ thuật. Ở con người Xuân Quỳnh vẫn tiềm tàng nét đơn giản, thậm chí trẻ thơ, “đã yêu củ ấu cũng tròn”, đối với mọi người, mọi sự. Xuân Quỳnh không thích, thậm chí không đồng tình với một số tìm tòi khác lạ của một số bạn viết mới gần đây, − đó âu cũng là một sự thường. Vả chăng cũng là một nét thuộc nhân cách nghệ sĩ: mọi phản ứng của một nhân cách như vậy đều nhằm bảo vệ thị hiếu nghệ thuật của mình, tín niệm nghệ thuật của mình. Một đội ngũ nghệ sĩ cùng thời cùng lứa chỉ có yêu văn chương của nhau, tâng bốc nghệ thuật của nhau, không có xung đột về thị hiếu, về xu hướng nghệ thuật − thì chưa hẳn đã là đội ngũ có thể làm nên một nền nghệ thuật thật sự đặc sắc, đa dạng.

 

Xuân Quỳnh đã từng tự bảo vệ thị hiếu và quan niệm nghệ thuật của chị, bằng chính sáng tác của chị. Công chúng nhận ra ở chị một hồn thơ gần gũi, như đã thân quen từ lâu. Đến lượt những bạn viết mới, họ cũng phải tự tìm ra và tự bảo vệ lấy quan niệm nghệ thuật của họ, bằng sáng tác của họ, và họ cũng sẽ tạo ra được công chúng của mình.

 

***

 

 

Mươi năm trước đây, Xuân Quỳnh viết trong một bài thơ:

 

Sẽ có ngày tóc tôi trắng như bông

Đi giữa dòng người, đi giữa tháng năm…

 

Hôm nay, thật đau đớn, cái điều chị mong sẽ có đó − sẽ không thể có nữa. Những người cùng thời cùng lứa với chị phải bắt đầu tập nghĩ rằng chị đã là người thiên cổ. Nhưng những bài hát của chị, những bài hát tình yêu có hương vị cổ truyền, có cả cay đắng, ngọt ngào, hờn giận, xót xa, nông nổi, những điệu ru đằm thắm tình mẫu tử ấp iu, những tiếng lòng tâm sự nhỏ nhẹ hồn hậu về cuộc sống thường nhật của con người từng sống trong thời đạn bom hôm qua và thời gây dựng lại xiết bao nhọc nhằn mà không thiếu niềm vui hôm nay, những bài hát ấy của Xuân Quỳnh sẽ không dễ lìa xa cuộc sống chúng ta, con người chúng ta, văn học chúng ta.

 

9-9-1988

Leave a Reply