Nghiên cứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của lý luận văn học Việt Nam qua tiếp thu lý luận văn học từ nước ngoài*


(PBVH):  Trong hai ngày,  4 và 5/6/2013 tới đây, tại Tam Đảo, Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị lý luận phê bình văn học lần III, với chủ đề “Nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động lý luận phê bình trong tình hình hiện nay”. Website Phê bình văn học sẽ lần lượt giới thiệu một số tham luận của các nhà chuyên môn. Dưới đây là bài viết của PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện, Tổng Biên tập tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam.

 Nguyễn Ngọc Thiện

Lý luận phê bình văn học hiện đại ở ta xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, song song với thực tiễn phát triển của sáng tác văn học hiện đại.

Tư tưởng lý luận văn học hiện đại của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX hình thành và phát triển theo khuynh hướng nào? Có thể thấy rõ là từ các nguồn sau: kế thừa tinh hoa tư tưởng, quan điểm về văn học của ông cha ta hình thành từ các thế kỷ trước; tiếp thu tư tưởng lý luận văn học hiện đại của nước ngoài (phương Đông và phương Tây); khảo sát thực tiễn đời sống văn học hiện đại ta qua sáng tác Thơ mới, truyện ngắn và tiểu thuyết, kịch nói đương thời. Trong 3 nguồn đó, có thể nói nguồn tiếp thu tư tưởng lý luận văn học từ nước ngoài giữ vai trò quan trọng. Các trí thức văn nghệ sĩ nước ta nửa đầu thế kỷ XX (như Phạm Quỳnh, Hoài Thanh, Hải Triều, Thạch Lam, Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Trương Tửu, Đinh Gia Trinh, Đặng Thai Mai…) bằng kiến văn và vốn tiếng Pháp được đào tạo trong các nhà trường Pháp – Việt hoặc tự học, đã tiếp xúc trực tiếp với lý luận văn học Âu – Mỹ, chủ yếu của Pháp và của Nga Xô viết (qua bản dịch tiếng Pháp). Vì thế, có thể thấy đã hình thành 2 hệ tư tưởng, quan điểm, phương pháp lý luận – phê bình văn học chủ yếu trên lập trường của 2 giai cấp đối lập: tư sản/ vô sản. Đã từng diễn ra cuộc đấu tranh về quan điểm giữa hai hệ tư tưởng lý luận ấy. Điển hình là cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh” trong những năm 1935 – 1939 trên văn đàn công khai, mà không có kết thúc hạ hồi phân giải, bởi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra cuối năm 1939 đã thu hút sự quan tâm của người ta vào những vấn đề sinh kế, cấp bách thiết thực hơn.

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8 đến nay đất nước giành được độc lập, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo xã hội và Nhà nước chuyên chính dân chủ nhân dân rồi chuyên chính vô sản được thiết lập, tư tưởng lý luận văn nghệ mácxít-lêninnít luôn giữ vai trò chính thống, định hướng sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp văn học nghệ thuật.

Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam mở đầu bằng văn kiện Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943. Đường lối ấy được phát triển, bổ sung và hoàn thiện bằng tư tưởng văn nghệ Hồ Chí Minh qua các phát biểu, bài viết của Người (từ 1943 đến 1969). Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 (1948), thư của Ban chấp hành TƯ Đảng gửi các Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (1957), lần thứ ba (1962), lần thứ tư (1968) và các bài phát biểu về văn nghệ của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu. Tiếp đó, sau 1986 bước vào thời kỳ đổi mới là các Nghị quyết của Ban Chấp hành TƯ hoặc của Ban Bí thư TƯ, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, dân tộc và nhân văn, hội nhập với thế giới.

Trên chặng đường dài gần 70 năm (từ 1945 đến nay) có một giai đoạn cần được để tâm là ở đô thị miền Nam, trong vùng Mỹ ngụy tạm thời kiểm soát (1954 – 1975), đã tồn tại một dòng chảy đáng lưu ý của lý luận – phê bình, mà ở đó tư tưởng lý luận văn học đương đại từ Âu – Mỹ được tiếp nhận, truyền bá trên sách báo, giảng dạy trong nhà trường. Mặc dù không tránh khỏi xô bồ, hỗn độn, phồn tạp, lẫn lộn trắng đen, hay dở, nhưng phải nói rằng văn đàn công khai ở đô thị miền Nam trong hơn 20 năm đó đã ít nhiều hé mở cửa sổ nhìn ra thế giới để cố gắng bắt nhịp và hội nhập vào chuyển động của tư tưởng lý luận văn học hiện đại từ Âu – Mỹ, trong đó có những tìm kiếm mang ý nghĩa cách tân về tư duy lý luận và phương pháp nghiên cứu từ các chân trời xa xôi ấy. Ở đây cần ghi nhận sự thức thời, nhạy cảm, tư duy lý luận năng động và nhiệt huyết tìm tòi cái mới hữu ích của một bộ phận trí thức văn nghệ sĩ thiết tha với việc làm phong phú nền văn học dân tộc (Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Văn Xung…). Buổi đầu đôi khi họ không tránh khỏi vồ vập, cực đoan, ngộ nhận… nhưng dần dà họ đã vỡ lẽ ra nhiều điều, thấy được cái hay cùng góc độ tìm tòi cách tiếp cận mới của các lý thuyết từ Âu – Mỹ cũng như cả cái chưa tới được của chúng khi soi vào thực tiễn sáng tác của phương Đông. Sự va vấp ấy cũng như bước đầu kết quả của họ khi tiếp nhận và vận dụng lý thuyết văn học hiện đại Âu – Mỹ hồi đó, đến hôm nay vẫn gợi ý cho chúng ta những bài học bổ ích(1).

Vậy là ngay từ đầu và suốt hơn 1 thế kỷ qua, việc tiếp nhận lý luận văn học với những tìm tòi mới mẻ từ các chân trời Âu – Mỹ (trên lập trường mácxít hoặc không phải là mácxít, nhưng thực chứng và biện chứng) đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của lý luận, phê bình văn học Việt Nam hiện đại.

Do đặc điểm lịch sử và cội nguồn dân tộc học, tâm lý học sáng tạo khoa học và nghệ thuật, dân tộc ta không thiên về lập thuyết mới mà có sở trường trong tiếp thu cái mới từ bên ngoài rồi chọn lọc vận dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh và thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở đó có thể bổ sung hoàn thiện lý thuyết đó (đường lối cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn cụ thể là sự vận dụng lý luận mácxít – lêninnít kinh điển vào thực tiễn và hoàn cảnh loại biệt của nước ta, một cách sáng tạo, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, do đấy đạt hiệu quả rõ rệt).

Nếu không thấy điều này, chúng ta rất dễ rơi vào trạng thái ảo tưởng về nội lực tư tưởng lý luận văn học của mình, tự cắt đứt với một trong những nguồn lực quan trọng góp phần hình thành diện mạo đích thực của lý luận văn học Việt Nam.

Từ 1986 đến nay, với đường lối đổi mới toàn diện xã hội của Đảng, chúng ta có điều kiện tiếp xúc và đối thoại với nhiều luồng tư tưởng lý luận hiện diện trên thế giới.

Bên cạnh việc khẳng định tư tưởng lý luận mácxít – lêninnít vẫn chiếm vai trò nòng cốt và chủ đạo, thể hiện trong đường lối văn học nghệ thuật và các chính sách về VHNT của Đảng và Nhà nước (đồng thời với những mặt mạnh ưu việt của nó, chúng ta đã nhận ra những mặt cần hoàn thiện của hệ tư tưởng này trong đó có khái niệm về cái đặc thù và tính nghệ thuật, về tính đảng, tính hiện thực trong văn học, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa), đã có cái nhìn khác rộng mở hơn đối với các hệ tư tưởng lý luận văn học khác, không phải là mácxít. Thái độ kỳ thị hoặc “kính nhi viễn chi”, dị ứng với chúng đã không còn nữa. Thay vào đó là sự để tâm nghiên cứu khách quan về chúng, đối thoại với những lý thuyết của các tư tưởng văn nghệ này một cách bình đẳng, không áp đặt, để nhận ra những cái khác từ các góc độ nghiên cứu mới mà chúng đem lại, xem cái gì chúng ta không nên và không thể tiếp thu được vì sự xa lạ về ý thức hệ và bản sắc dân tộc, cái gì có thể tiếp nhận được để làm phong phú về mặt thủ pháp nghiên cứu, phê bình. Việc tiến hành dịch thuật hàng loạt các công trình lý luận của nước ngoài một cách trọn vẹn và bước đầu nghiên cứu trao đổi ý kiến về nó (của M. Bachtin, của các nhà hình thức Nga, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, thi pháp học, tự sự học, văn học so sánh, chủ nghĩa hậu hiện đại…) đã mở ra cho người nghiên cứu lý luận, sáng tác cũng như người đọc thấy được sự đa dạng của các kiểu sáng tác, kiểu phê bình – tiếp nhận, tránh được thái độ hẹp hòi, độc tôn duy nhất một kiểu loại làm chuẩn cho tư duy nghệ thuật.

Ở đây vai trò của các cây bút lý luận kiêm dịch giả các công trình lý luận văn học nước ngoài là rất đáng khích lệ và ghi nhận: Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Trần Đình Sử, Phương Lựu, La Khắc Hòa, Phạm Vĩnh Cư, Đỗ Lai Thúy, Trương Đăng Dung, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Huyền Sâm, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như Phương…

Cùng với việc tái bản chọn lọc các công trình dịch lý luận văn học phương Tây có chất lượng tốt do các học giả miền Nam từ thời kỳ 1954 – 1975 thực hiện, mà đến hôm nay vẫn được xem là những bước đầu khai phá, có ý nghĩa tham khảo đáng tin cậy, các công trình dịch thuật mới về lý luận văn học nước ngoài và kèm theo đó là những nghiên cứu, hội thảo công phu về chúng, cho thấy sự cởi mở và hội nhập của đời sống lý luận ở ta vào thế giới hiện đại.

Tuy nhiên điều đáng bàn ở đây là: “cầu thị” rõ ràng rất đáng hoan nghênh, nhưng mặt khác, cần có bản lĩnh học thuật để nhận chân và thấu đáo cái khung hệ hình của các loại lý thuyết, đặc sắc, “bản lai diện mục” của từng lý thuyết, các tìm tòi có sức thuyết phục hay không của những luận điểm mà các lý thuyết đó đặt ra cùng các phương pháp nghiên cứu mới mà chúng đề xuất. Trong cái mớ xô bồ lý thuyết từ Âu – Mỹ dội vào, ảnh hưởng vào nước ta, thì điểm nào, phương diện nào ta có thể tiếp nhận được, phù hợp để vận dụng soi vào thực tiễn văn học nghệ thuật nước ta, thuận với mặt bằng và sở trường tư duy sáng tạo, tiếp nhận của ta. Nếu không sẽ bị lôi cuốn, mất đi sự tỉnh táo cần thiết, vồ vập xưng tụng chúng một cách thái quá, nóng vội vận dụng nó vào nghiên cứu – phê bình, ắt sẽ không tránh khỏi sự khiên cưỡng, áp đặt, thiếu hiệu quả – nếu không muốn nói là rơi vào thói học đòi, theo đuôi người nước ngoài để tự đắc lấy làm sang(!)

Nước láng giềng phía Bắc của chúng ta, trong việc này, đã cung cấp cho chúng ta một kinh nghiệm tham khảo bổ ích. Trước hết họ dịch chu đáo, đầy đủ các công trình lý luận tiêu biểu xuất hiện trên thế giới rồi nghiên cứu kỹ càng về chúng trên cơ sở vốn truyền thống tư duy lý luận văn học đã có từ hàng nghìn năm nay mà đối thoại, phản biện với các lý thuyết văn học từ bên ngoài đưa vào. Một mặt họ cọ xát cái vốn lý luận đã có không ít giá trị của họ với các lý thuyết mới; mặt khác nhận ra những cái khác phương Tây của họ, những cái phương Tây có mà họ chưa có – từ đó có quyết sách ứng xử hội nhập lý luận trên cơ sở tiên quyết dựa chắc vào cái vốn căn bản của mình, chứ không nhắm mắt chạy theo “mốt” lý luận từ các chân trời khác.

Thời gian gần đây vấn đề đang được quan tâm là nghiên cứu lý luận văn nghệ ở Việt Nam căn cứ vào thực tiễn hình thành và phát triển của nó trong hơn 1 thế kỷ qua, từ đầu thế kỷ XX đến nay – từ đó tìm tòi định hướng phát triển phù hợp để nó phát huy hơn nữa vai trò của mình trong đời sống văn học nghệ thuật nước nhà.

Trong việc triển khai nghiên cứu này, việc khảo sát tư tưởng của lý luận văn nghệ Việt Nam diễn tiến trên tiến trình của lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại, thời hiện đại và đương đại là rất cần, cho thấy những điều ta đã làm được và những điều còn để trống, còn bị giới hạn. Mặt khác, việc xem xét quá trình tiếp nhận các tư tưởng lý luận văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ buổi đầu thời kỳ hiện đại đến nay là vô cùng quan trọng. Từ hai bình diện nghiên cứu này – lý luận bản địa của ta đã có và lý luận nhập ngoại, sẽ bật ra những vấn đề căn bản và bức xúc để định hướng cụ thể cho sự phát triển lý luận văn nghệ ở Việt Nam. Qua đó, lý luận đồng hành với sáng tác và tiếp nhận văn học, thúc đẩy sự ra đời những tác phẩm văn học có giá trị cao để đời cho hôm nay, mai sau và hội nhập vào văn đàn thế giới, để nâng cao năng lực thẩm mỹ và làm phong phú đời sống tinh thần của người đọc hướng về cái đẹp, cái hay, cái nhân văn cao cả.

Chúng tôi tin tưởng rằng với sự tham gia của đông đảo các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học nghệ thuật, sự triển khai nghiên cứu vấn đề nói trên về lý luận văn nghệ ở Việt Nam (trong đó có lý luận văn học) sẽ góp phần thúc đẩy một bước việc tự nhìn lại mình của lý luận, từ đó nhận ra những điểm cốt yếu để nâng cao chất lượng của nền lý luận văn học nghệ thuật ở ta trong thế kỷ mới này./.

                                                                             Tháng 5 năm 2013

 

Chú thích:

(*) Tham luận tại Hội thảo “Nâng cao chất lượng và hiệu quả của lý luận, phê bình văn học” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Tam Đảo đầu tháng  6/2013.

(1) Xem: Văn học Việt Nam thế kỷ XX/ Lý luận, phê bình 1945 – 1975, Quyển 5, tập 11 (Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên), Nxb. Văn học, H., 2010, 1000tr.

Nguồn: Bản tác giả gửi Phê bình văn học.Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply