Ngọn nguồn dân gian của sáng tác văn học


Mạc Ngôn

Mạc Ngôn, tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh tháng 2 năm 1955 tại Cao Mật, Sơn Đông Trung Quốc. Năm 1981 thành danh bởi tiểu thuyết Củ cải đỏ trong suốt, đến tiểu thuyết Cao lương đỏ thì ông trở nên nổi tiếng văn đàn (tác phẩm này đã được đạo diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể thành phim, đọat giải thưởng lớn tại Liên hoan phim quốc tế Tây Beclin lần thứ 38). Ngoài lượng lớn truyện ngắn, vừa, Mạc Ngôn còn viết 7 bộ tiểu thuyết: Gia tộc Cao lương đỏ, Bài ca cọng hoa tỏi Thiên Đường, Mười ba bước, Tửu quốc, Thực thảo gia tộc, Phong nhũ phì đồn, Hồng thụ lâm. Từ năm 1996, Mạc Ngôn đã đóng cửa mài kiếm đến 5 năm để cho ra mắt cuốn Đàn hương hình, mà theo đánh giá của nhà phê bình có uy tín Lý Kính Trạch, thì đó là một tác phẩm “vĩ đại”, điều mà ông chưa từng gắn cho một tác phẩm nào của các nhà văn Trung Quốc còn sống. Trong cuộc bình chọn quy mô lớn năm 1999 (do NXB Văn học nhân dân và Nhà sách Bắc Kinh tổ chức), cuốn Gia tộc cao lương đỏ của ông đã được đưa vào danh mục “100 cuốn sách văn học Trung Quốc ưu tú 100 năm qua”. Và gần đây nhất, thượng tuần tháng 11-2003, tại Bắc Kinh cuộc bình chọn sơ bộ của Giải văn học Mao Thuẫn lần thứ 6 (1998-2002), cuốn Đàn hương hình đã đứng đầu bảng, với số phiếu bầu tối đa. Mạc Ngôn đã trở thành nhà văn hạng nhất, có thể đếm đầu ngón tay trên văn đàn Trung Quốc hiện nay. Tác phẩm của ông đã được dịch ra 18 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt (Dịch giả Trần Đình Hiến đã dịch hầu hết các tác phẩm chính của ông, trong đó các cuốn Đàn hương hình, Báu vật của đời (Phong nhũ phì đồn) được tái bản nhiều lần, cuốn Đàn hương hình đã được Hội Văn học Hà Nội trao giải dịch thuật năm 2003). Dưới đây là nội dung bài thuyết trình của ông tại trường Đại học Tô Châu, cũng là quan điểm nghệ thuật của ông .

 

Được đến thuyết trình tại Đại học Tô Châu, nơi có bề dầy lịch sử và cảnh đẹp mê hồn, tôi cảm thấy vô cùng vinh hạnh, song cũng thấy việc làm này quả là mạo hiểm. Bởi lẽ nhà văn đa phần không thạo nói năng, tôi lại là người nói năng xoàng nhất trong các nhà văn. Năm xưa tôi đặt cho mình bút danh Mạc Ngôn, cốt là để khuyên răn mình chớ nên nói hoặc gắng hết sức để đừng nói, vậy mà rốt cuộc tôi lại nói liên tục. Đó là mâu thuẫn của tôi. Giả dụ đến Đại học Tô Châu để thuyết trình, thực lòng tôi chẳng muốn chút nào. Đến Đại học Tô Châu mà không thuyết trình, e rằng Vương Nghiêu tiên sinh sẽ chẳng chi vé máy bay cho tôi, cho nên, tôi vừa muốn đến Tô Châu, lại không muốn bỏ tiền túi mua vé máy bay, nên đành phải ngồi đây để trò chuyện cùng các bạn. Đây là một thời đại không thể làm khác, thỏa hiệp, bất kỳ ai cũng đều phải thỏa hiệp.

Mấy hôm trước, tôi và A Lai, Dư Hoa đã có một ngày tọa đàm với các học trò của Cách Phi tại trường Đại học Thanh Hoa, sáng một cuộc, chiều một cuộc và tối một cuộc. Chúng tôi thuyết trình rất ít, phần lớn thời gian đều để học sinh hỏi chúng tôi trả lời. Chúng tôi cho rằng làm như vậy rất tốt, không trang trọng như kiểu bày ra bục giảng, song lại có tính trực diện, rất thoải mái, thân tình, hoàn toàn thành tâm, hai bên đều bổ ích. Tôi mong rằng hôm nay chúng ta cũng sẽ dùng phương thức này. Trong quá trình tôi trình bày, các bạn có thể tùy ý cắt ngang lời tôi, tùy ý gửi phiếu hoặc đứng lên nêu câu hỏi. Tóm lại chúng ta cùng nhau diễn vở kịch này để ngài Vương Nghiêu vui vẻ chi tiền vé máy bay cho tôi.

Đề mục của cuộc thuyết trình hôm nay, mãi đến hôm qua tôi vẫn chưa nghĩ ra. Tôi không biết mình nên nói cái gì. Song hôm qua ngài Vương Nghiêu gọi điện cho tôi, bảo rằng nhất thiết phải có một đề mục, nếu không sẽ chẳng thể làm áp phích được. Tôi bảo vậy thì gọi là “Thử bàn về ngọn nguồn dân gian của sáng tác văn học” vậy.

“Dân gian” là một câu chuyện rất lớn, cũng là một đề tài nóng đương thời. Hình như người đề xuất sớm nhất là Trần Tư Hòa tiên sinh của Thượng Hải, sau đó anh hào khắp nơi rầm rộ hưởng ứng. Bạn nói cách của bạn, anh ấy nói cách của anh ấy, mỗi người có cách lý giải riêng, do đó cũng có các kiểu dân gian khác nhau. Tôi với tư cách là người viết tiểu thuyết, tất nhiên cũng sẽ có cách lý giải dân gian của tôi. Sự lý giải của tôi chắc chắn sẽ không có hệ thống, chỗ nào cũng đủ lý lẽ như các nhà lý luận, song đều là những điều có được từ kinh nghiệm văn học và thể hội sáng tác của tôi, biết đâu sẽ đem lại ít nhiều gợi ý cho các bạn. Tôi cũng xin thành thật nói rằng, đề mục của cuộc thuyết trình hôm nay, không phải do tôi phát minh ra, mà là tuần trước, khi ở Đại học Thanh Hoa, nghe A Lai nói gần đây anh ấy có viết một bài cho tờ Thị giới, đề mục là Ngọn nguồn dân gian của sáng tác tiểu thuyết, tôi chớp ngay thời cơ, biến báo đôi chút rồi mang đến đưa đại cho Vương Nghiêu, nay mai nếu A Lai có muốn lý sự với tôi, các bạn tất sẽ làm chứng cho tôi, rằng tôi đã công khai thành khẩn rồi.

Cuộc thảo luận về vấn đề dân gian thời gian qua cực kỳ sôi động, các bạn đều là những người học văn học, chắc hẳn đã biết rõ. ở đây tôi sẽ không trình bày kỹ – kỳ thực tôi cũng chẳng thể trình bày nổi. Tôi cho rằng, cái gọi là sáng tác dân gian, suy cho cùng vẫn là vấn đề tâm thái (trạng thái tâm lý) sáng tác của một nhà văn. Một phương diện của vấn đề này là vì sao sáng tác. Trước đây chúng ta từng đề xuất sáng tác cho cách mạng, sáng tác cho công  nông binh, sau này lại phát triển thành sáng tác cho nhân dân. Sáng tác cho nhân dân cũng chính là sáng tác cho người dân. ở đây đã dẫn đến một phương diện khác của vấn đề, đó là bạn “sáng tác cho người dân” hay là “sáng tác với tư cách người dân”.

“Sáng tác cho người dân” thoạt nghe là một khẩu hiệu rất khiêm nhường thấp kém, thoạt nghe có ý tứ làm trâu ngựa cho nhân dân, song ngẫm kỹ,  điều đó còn biểu hiện thái độ từ trên cao nhìn xuống. Điều cốt lõi của nó, chính là đã coi nhà văn là “kỹ sư tâm hồn nhân loại ”, là “người phát ngôn của nhân dân” là “lương tâm thời đại” – loại trò vui ngông cuồng tự đại, tự coi mình là đúng này đang tác oai tác quái. Điều đó chẳng khác gì nói các quan chức của chúng ta là người phục vụ của nhân dân, thoạt nghe rất khiêm nhường thấp kém, rất nô bộc, song các quan chức trong đời sống hiện thực, về cơ bản lại không phải như vậy. Nếu làm quan quả thực đều trở thành người phục vụ, người đầy tớ, thì ai còn muốn làm quan nữa? Còn chạy quan làm gì?

Do đó tôi cho rằng, cái gọi là “sáng tác cho người dân” kỳ thực không thể coi là “sáng tác dân gian”, vẫn là loại sáng tác gần  như miếu đường. Khi nhà văn đứng lên muốn bằng tác phẩm của mình nói cho dân, kỳ thực anh ta đã đặt mình vào vị trí cao minh hơn người dân. Tôi cho rằng sáng tác dân gian thực sự chính là loại “sáng tác với tư cách người dân”.

Đương nhiên, bất kỳ tác phẩm nào sau khi đi vào độc giả, dù là “sáng tác với tư cách người dân” hay “sáng tác cho người dân”, khách quan mà nói đều gây những tác động thế này thế kia, đều ít hay nhiều ảnh hưởng đến tình cảm độc giả, song những người “sáng tác với tư cách người dân”, khi sáng tác, họ không thể và cũng không nhất thiết phải suy tính đến những vấn đề này. Khi sáng tác, anh ta không hề nghĩ rằng phải dùng tiểu thuyết để phơi bày cái gì, để đả kích cái gì, để đề xướng cái gì, để giáo hóa cái gì, do đó khi sáng tác, anh ta mới có thể đối xử với các nhân vật trong tiểu thuyết bằng thái độ bình đẳng. Anh ta chẳng những không cho rằng mình cao minh hơn độc giả, mà anh ta còn cho rằng mình không cao minh hơn nhân vật trong tác phẩm của mình.

Những người “sáng tác với tư cách người dân”, dù anh ta là nhà tiểu thuyết, nhà thơ hay kịch tác gia, công việc của anh ta chẳng khác biệt ghê gớm so với người thợ dân gian trong xã hội. Một cao thủ đan rổ, một anh thợ ngõa lành nghề, một người thợ làm vườn kỹ thuật tinh thâm, nghề nghiệp của họ chẳng thấp hèn chút nào so với công việc viết lách của các nhà văn. Những người “sáng tác với tư cách người dân” sẽ đồng ý với cách nhìn này, song những người “sáng tác cho dân” chắc chắn sẽ không thể đồng ý với cách nhìn này. Giữa những người thợ dân gian cũng có sự kế thừa, tiếp nhận, phát triển, cũng có dòng phái này nọ, còn có một số gia truyền mang sắc thái thần bí, họ cũng có chuyện chẳng phục nhau, cũng có chuyện người cùng nghề khinh nhau, song họ vĩnh viên không quên mình là một người dân thường, họ không bao giờ có sự phân biệt mình với người dân, để rồi huyênh hoang tự nhận bừa là “nhà nghệ thuật của nhân dân”. Chúng ta có thể lấy một ví dụ, ở nơi cách Tô Châu của các bạn không xa, từng có một người mù tên là A Bính, hiện giờ chúng ta tôn vinh anh rất cao, là nhà âm nhạc dân tộc vĩ đại, nhà diễn tấu nhị hồ vĩ đại, song A Bính năm đó, khi anh ấy chống gậy trúc, mặc bộ đồ rách bươm, lang thang khắp các ngõ ngách ở Vô Tích hành nghề kiếm ăn, anh ấy đâu có nghĩ rằng mình là một nhân vật vĩ đại, càng không nghĩ đến việc mấy chục năm sau, khúc diễn tấu nhị hồ do anh biên soạn đã trở thành kinh điển của âm nhạc dân gian Trung Quốc. Anh ấy tuyệt nhiên không hề cho rằng mình cao quý hơn người dân nói chung, anh ấy đại khái đang nghĩ rằng, A Bính này chỉ là một con người thấp hèn, một kẻ ăn mày nơi đường phố, một tiện nhân nhờ việc bán tiếng nhị hồ để kiếm chút cháo loãng qua ngày, khúc nhạc của tôi phải kéo sao thật mê hồn, xúc động lòng người, thì người ta mới chịu bố thí cho mấy đồng tiền, nếu khúc nhạc của tôi kéo không hay, mọi người sẽ chẳng để mắt tới. Nếu tôi kéo nhị hồ nơi đường lớn, gây trở ngại giao thông, rất có thể sẽ ăn cú đá của viên tuần cảnh. (Ngày nay các nhà nghệ thuật, diễn viên sau khi vi phạm, liền móc ra tấm card, rằng tôi là… tôi là…) Tóm lại, tâm thái của A Bính là thấp kém, không coi mình là quý nhân, thậm chí không dám coi mình là một người dân tốt, đó mới là tâm thái của người dân đích thực. Sáng tác với tâm thái như vậy, mới có thể cho ra đời những tác phẩm vĩ đại. Bởi vì loại tình cảm bi thương đó được phát ra từ nơi sâu thẳm tâm hồn, nó chạm đến nơi đớn đau nhất trong trái tim anh ấy. Xin hãy tưởng tượng đến âm điệu của khúc Nhị tuyền ánh nguyệt, không phải là người bị dồn tới đáy sâu của sự khổ đau, sẽ viết không nổi. Cho nên, tác phẩm vĩ đại thực sự, tất phải được “sáng tác với tư cách người dân”, là điều có thể gặp chứ bất khả cầu, là lông vũ phượng hoàng là sừng kỳ lân.

Song, loại “sáng tác với tư cách người dân” này, muốn thực hiện được thật chẳng dễ chút nào. Nhà văn suy cho cùng cũng là con người, danh lợi và hoa tươi trong cuộc sống hiện thực không thể không hấp dẫn anh ta. Bởi lẽ trong cuộc sống hiện thực, cơ hội có được hoa tươi và các tràng vỗ tay của loại “sáng tác cho người dân”, nhiều hơn nhiều so với loại “sáng tác với tư cách người dân”. Trong thế giới ngày nay, chúng ta cũng không cần thiết yêu cầu người khác phải thế này thế nọ, cốt sao có được sự tỉnh táo bản thân, chớ quên những gì quan trọng nhất, để rồi chạy theo những thứ chẳng quan trọng lắm. Nghĩa là nói, bạn phải hiểu rõ, rằng bạn viết văn suy cho cùng là để nhằm mục đích gì, sau đó mới quyết định thái độ sáng tác của bạn.

Như thời đại mà Bồ Tùng Linh sáng tác, thời đại mà Tào Tuyết Cần sáng tác, không có nhà xuất bản, không có thù lao và nhuận bút, càng không có giải thưởng này nọ, việc viết lách rõ ràng là công việc cô đơn, thậm chí bị người đời chế nhạo. Động cơ sáng tác của người viết lúc đó khá đơn thuần, thứ nhất là do quá nhiều điều chất chứa trong lòng anh ta, đến lúc phải có một đường kênh để trút nó ra. Như Bồ Tùng Linh, cả đời mê đắm với khoa cử, vẫn biết đằng sau chế độ khoa cử là cả một sự thối nát, song nơi sâu thẳm trái tim  ông vẫn khát khao vươn tới những thứ đó. Nếu có ai đó bảo ông ta hãy đốt sạch những gì mình viết ra sẽ được đậu tiến sĩ, tôi nghĩ ông ấy sẽ chẳng chút đắn đo mà châm lửa ngay. Mãi đến sau này, ý nghĩ khoa cử tắt hẳn, ôm mối đại tài mà không gặp, ông mới mượn tiểu thuyết để biểu lộ tài năng của mình, mượn tiểu thuyết để trút bỏ nỗi oán hận chất chứa trong lòng. Cuộc đời của Tào Tuyết Cần lại càng ly kỳ, từ một con em quý tộc thực sự, suy bại thành kẻ lang bạt vô gia cư, loại thể nghiệm nhân tình tráo trở, thế thái vô tình đó sâu sắc vô cùng. Họ đều là những người có đại tài muốn được thi thố, có nỗi đau lớn cần được trút bỏ, đều thuộc lớp người dưới đáy xã hội, với tư cách một người dân, sáng tác của họ không bợn chút danh lợi. Do đó mới có được những kinh điển vĩ đại như Liêu trai chí dị, Hồng lâu mộng. Đương nhiên, họ cũng có phạm vi của mình, sau khi ra sách, họ cũng nhận được lời tán dương của một nhóm người, có thể qua đó thoả mãn đôi chút lòng hư vinh, song niềm vinh dự ấy lại rất dân gian, thậm chí không thể coi là danh lợi. Dưới chế độ khoa cử, tiểu thuyết là kẻ cô thiền thự sự, không vào được ngôi nhà đại nhã, những “chính kinh nhân” (chỉ những người đoan chính) lúc đó hầu như rất ít viết tiểu thuyết. Thơ ca cũng vậy, những người thưởng thức thơ ca thực sự đa phần là các cô gái chốn thanh lâu. Song chỉ trong trạng thái như vậy mới có thể xuất hiện những điều hay. Nếu thơ ca thay thế văn Bát cổ (lối văn khoa cử, sáo mòn) trở thành nội dung của khoa cử, thì thơ ca quả đã tiêu vong. Nếu tiểu thuyết trở thành nội dung của khoa cử, tiểu thuyết cũng đã tiêu vong từ lâu rồi. Cho nên nếu sáng tác chỉ nhằm các giải thưởng này giải thưởng nọ, cho dù muốn được nhấm nháp cái giải đó, thì nhà văn đó cũng coi như hỏng hẳn. Không nghĩ đến chuyện đoạt giải mà đoạt giải lại là chuyện khác. Tôi cho rằng đó chính là chỗ khác nhau giữa sáng tác dân gian và sáng tác phi dân gian. Sáng tác phi dân gian, luôn mang đậm sắc thái công lợi; còn sáng tác dân gian lại khá ít sắc thái công lợi. Đương nhiên, công lợi đạm bạc như vậy, đôi khi lại không phải là điều tự giác của người viết, mà do số phải như vậy. Nghĩa là nói, Bồ Tùng Linh mãi đến cuối đời vẫn nằm mơ thấy đỗ Trạng Nguyên, song khi tỉnh lại mới biết đó là điều không thể. Tào Tuyết Cần mãi mãi còn nhớ về những năm tháng phồn hoa rực rỡ của mình, song ông biết điều đó sẽ chẳng thể cứu vãn được nữa, cho nên, nỗi bi thương ấy quả là khó mà trụ nổi, còn sự lưu luyến cảnh phồn hoa ngày trước đó cũng khó mà khỏa lấp nổi. Cái đạt được không cố ý thường là hay, tán ca hát thành vãn ca, thù hận viết thành yêu đương, xem ra đã là kiệt tác rồi.

Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh một chút, rằng nhà văn chớ nên tự nâng mình lên địa vị không thích hợp, nhất là trong sáng tác, tốt nhất bạn không nên đóng vai kẻ phán xét đạo đức, bạn chớ nên coi mình cao minh hơn nhân vật, mà bạn nên đi cùng nhân vật của mình. Trịnh Bản Kiều nói nhân sinh khó mà hồ đồ, tôi nghĩ nhà văn khi sáng tác, đôi khi quả thật phải làm ra vẻ hồ đồ. Nghĩa là nói, bạn phải tỉnh táo ý thức rằng, điều bạn cho là đúng, lại chưa chắc đã đúng, trái lại điều bạn cho là sai, cũng chưa chắc đã sai. Đúng và sai đựơc quyết định bởi quan niệm của thời gian và quan niệm của lịch sử. “Sáng tác cho người dân” phải đưa ra lời phán xét, còn “sáng tác với tư cách người dân” lại không nhất thiết phải đưa ra lời phán xét.

Cách đây không lâu, một tờ báo liên quan đến môi trường có đặt tôi viết bài bàn về cách nhìn của tôi về vấn đề bão cát và nguy cơ hệ sinh thái tự nhiên, tôi nghĩ ngay đến mối quan hệ giữa hiện tượng cát hóa ở thảo nguyên phương Bắc với lượng chở gia súc ở thảo nguyên. Lượng chở gia súc quá nhiều, thảo nguyên không được nghỉ ngơi, nên đã dẫn đến cát hóa. Mười mấy năm trước tôi từng đến biên giới Trung Nga, thấy cỏ trên thảo nguyên cao hơn nửa thân người, quả là một thảm cỏ mênh mông bát ngát xanh tươi, chỉ có vài đàn dê đang thung thăng gặm cỏ. Còn thảo nguyên ở đó bây giờ, cỏ thì cụt ngủn, khô héo vàng úa. Đàn dê đói khát như lũ quỷ đói lồng lộn khắp nơi. Điều kiện tự nhiên cũng vậy, khác hẳn ngày xưa, tất cả đều do con người gây nên. Vấn đề là ở chỗ, ở đó chúng ta có thể nuôi ít dê được không? Câu trả lời của các mục dân là, chúng tôi đều không muốn thấy cảnh thảo nguyên trở nên tiêu điều thế này, song không nuôi dê chúng tôi sống bằng gì? Chúng tôi không nuôi dê, người Bắc Kinh các anh lấy đâu ra thịt dê béo mà nhấm nháp? Chúng tôi vẫn biết hắc sơn dương phá hoại thảo nguyên và cây cối rất ghê, song các anh lại cần có khăn nhung dê, áo khoác nhung dê. Điều này đã đụng đến một vấn đề vô cùng bức xúc, một mặt phải bảo vệ môi trường, một mặt bà con ở đó cần phải sống. Trừ phi chính phủ có thể mang tiền đến trợ giúp họ. Chính phủ đâu có nhiều tiền như vậy, vậy thì họ phải chặt cây, thả dê. Anh phải để cho tôi sống chứ. Các anh có thể kêu gọi bảo vệ động vật quý hiếm, bảo vệ gấu trúc, bảo vệ hổ đông bắc, song sự thực là tại các vùng hẻo lánh xa xôi, cuộc sống của bao bà con còn nguy cơ hơn động vật quý hiếm nhiều. Nhiều người ốm nặng phải nằm nhà chờ chết, ai chăm sóc họ? Song nếu như có một con gấu trúc bị bệnh cấp, liền có ngay bác sĩ giỏi nhất đến chữa cho, chữa khỏi còn được đăng báo lên tivi. Một nhà văn viết bài về môi trường, xem ra là việc làm rất chính nghĩa, rất có lương tri, song trên thực tế, anh ta cũng chỉ đại diện cho lợi ích của một bộ phận. Cho nên tôi cho rằng, nhà văn phải học cách tư duy phản hướng, không nên đứng trên lập trường tự cho mình là đúng, nghĩa là nói, bạn chớ nên cho rằng bạn là nhà văn ắt bạn phải cao minh hơn người dân. “Sáng tác cho người dân”, do hạn chế của bản thân nhà văn nên rất có thể sẽ biến thành thứ sáng tác cho quan chức, cho đám quyền quý. Còn “sáng tác với tư cách người dân”, bạn có thể sẽ tránh được sự thiên lệch này. Bởi lẽ bạn chính là một người dân. Xét một ý nghĩa nào đó, “sáng tác cho người dân” cũng chính là sáng tác của thành phần trí thức. Đây là truyền thống đã có từ xa xưa. Bắt đầu từ Lỗ Tấn…, tuy cũng viết về làng quê, song góc nhìn mà họ sử dụng là góc nhìn trí thức. Lỗ Tấn là nhà khai sáng, sau ông những người đóng vai nhà khai sáng ngày càng nhiều. Mọi người đều đua nhau khiển trách sự lạc hậu, vạch rõ những bệnh hoạn trong tính cách quốc dân, đó là thái độ sáng tác từ trên cao nhìn xuống điển hình. Kỳ thực, mặt đen tối nơi bản thân các nhà khai sáng đó lại chẳng hề kém so với người khác. Cái gọi là sáng tác dân gian, yêu cầu bạn phải ném bỏ cái lập trường trí thức của bạn đi, bạn phải dùng cách nghĩ của người dân để nghĩ. Nếu không, cái dân gian mà bạn viết ra, chỉ là thứ dân gian đã được trát phấn, chính là ngụy dân gian.

Tôi muốn mạnh dạn mà nói rằng, “sáng tác với tư cách người dân”, cũng chính là loại sáng tác tự ngã, viết về mình. Một nhà văn có kiên trì được sáng tác dân gian hay không, đôi khi bản thân anh ta không tự quyết định được. Nhìn chung, lúc mới viết đều khá dân gian, song sau khi đã thành danh, lại khó mà giữ được đặc chất dân gian. Lúc bắt đầu viết, nếu muốn được người khác chú ý, đại thể cần phải có vài chỗ đặc biệt, muốn làm cho người ta cảm thấy có ý mới, bất luận câu chuyện mà anh ta thuật lại hay ngôn từ anh ta sử dụng, đều phải khác hẳn những thứ đang lưu hành. Nghĩa là nói, “sự đột phá trong văn học luôn là sự đột phá ở vùng ngoại biên”, song một khi đã đột phá rồi, ngoại biên sẽ biến thành trung tâm, chi lưu sẽ biến thành chủ lưu, dã quỷ ngoài miếu sẽ biến thành chính thần trong miếu. Đành rằng điều này dường như là một quá trình khó mà thoát khỏi, song có cảnh giác vẫn tốt hơn không. Có cảnh giác có thể sẽ có một khoảng thời gian khá dài giữ được cá tính của bạn, giữ được tâm thái dân gian của bạn, giữ được lập trường và phương pháp người dân của bạn.

Chúng ta có thể nghĩ đến các sáng tác của Thẩm Tùng Văn, trong các sáng tác thời kỳ đầu của ông, đã giữ được lập trường và góc nhìn dân gian thực sự. Ông viết về những kỹ nữ chốn lầu treo bên sông, nếu là lập trường trí thức, thì đó quả là việc tệ hại xấu xa. Song Thẩm Tùng Văn đã miêu tả họ có nhiều điểm đáng yêu. Bởi vì cách nhìn của ông đối với những kỹ nữ này giống như cách nhìn của đám thủy thủ trên thuyền đối với họ. Ông không tả họ thành những tiết phụ liệt nữ, mà miêu tả sự chân tình của họ trong phạm vi nghề nghiệp: “Ngưu Bảo, em đợi chàng đến ba tháng rồi, chàng vẫn không đến, em phải tiếp người khác thôi”. Khi Ông tả người bạn đội mũ da rái cá, nếu dùng lập trường trí thức, thì anh chàng đó đích thực là tên đại lưu manh không thể tha thứ, song dưới ngòi bút của Thẩm Tùng Văn, anh ta thật phóng túng, hoang dã và rất thú vị. Nhưng sau này Thẩm Tùng Văn trở thành nhà văn nổi tiếng, thì lập trường dân gian của ông khó mà giữ nổi. Ông phải phán xét các nhân vật dưới ngòi bút của mình, ông đã vô tình ở vào vị trí trên cao nhìn xuống.

Nói thì dễ làm mới khó, song vẫn phải gắng sức mà làm. “Tri thức càng nhiều càng gây tác dụng ngược lại”, xét từ góc độ văn học, điều này xem ra có đôi phần đạo lý.

Tôi chỉ thuyết trình đến đây, tiếp theo xin mời mọi người chất vấn, trực tiếp đứng lên trình bày hay gửi phiếu, đều được.

Hỏi: Điều ông vừa nói, sáng tác ngoại biên hóa (biên duyên hóa) sau khi thành danh sẽ nhanh chóng trở thành âm điệu chính, vậy ông đã bằng cách nào để giữ được tính ngoại biên của mình?

Đáp: Vấn đề này tôi đã nhấn mạnh nhiều lần, nghĩa là phải luôn nhớ rằng mình là một người dân, cho dù công việc của mình có khác với người thợ ngõa, song về cơ bản là như nhau. Tôi cho rằng cần phải giữ cho được sự tỉnh táo, chớ nên tự tâng mình lên, phải biết rằng bạn là ai. Trong quá trình sáng tác cụ thể, phải hết sức tránh sáng tác bằng phương pháp thành thục, nó khác với chơi bóng. Khi chơi bóng, nếu đối phương xơi đường bóng xoáy của bạn, thì bạn phải thừa thắng xông lên, còn viết tiểu thuyết lại hoàn toàn khác. Tôi nghĩ mỗi nhà văn tỉnh táo, đều có thể có được sự theo đuổi của mình. Loại theo đuổi này, theo tôi chính là ước muốn liên tục vượt lên chính mình.

Hỏi: Xin ông cho biết mối liên hệ nội tại giữa sáng tác mới của ông, cuốn Đàn hương hình với cuốn Cao lương đỏ?

Đáp: Hai cuốn tiểu thuyết này đều là đề tài lịch sử, bối cảnh của Cao lương đỏ là chống Nhật, bối cảnh của Đàn hương hình là chống Đức, địa điểm câu chuyện xảy ra đều là vùng quê Đông Bắc Cao Mật, đó là chỗ giống nhau. Xét theo ý nghĩa này, Đàn hương hình là chị em của Cao lương đỏ. Trong Cao lương đỏ, điều tôi tâm đắc nhất là đã “phát minh” ra góc nhìn độc đáo “ông nội tôi”, “bà nội tôi”, đã khai thông được trở ngại giữa lịch sử với hiện đại. Cũng có thể nói rằng nó đã mở ra cánh cửa thuận lợi để thông tới quá khứ. Do thuận lợi nên cũng rất dễ bị mô phỏng. Sau đó những tiểu thuyết “ông nội tôi”, “bà nội tôi”, “cô tôi”, “chị tôi” xuất hiện rất nhiều. Tiểu thuyết Cao lương đỏ đã ca ngợi tinh thần khuyếch trương cá tính, và mang đến cho tiểu thuyết viết về chiến tranh lối viết khác lạ. Song Cao lương đỏ với tư cách một bộ trường thiên (truyện dài- tiểu thuyết), điều đáng tiếc lớn nhất là nó không có kết cấu, bởi lẽ lúc viết định viết trung thiên (truyện vừa), viết năm truyện vừa, sau đó tập hợp lại. Còn trong Đàn hương hình, về mặt kết cấu phải mất khá nhiều công phu. Phương diện ngôn ngữ cũng có chút nỗ lực, nói một cách cụ thể, tôi đã dựa vào loại hý kịch nhỏ Miêu xoang vùng quê tôi, muốn tinh luyện thành loại ngôn ngữ vừa dân gian vừa lạ.

Hỏi: Qua sự trình bày của ông, thấy được ông rất chú trọng đến tâm thái sáng tác của nhà văn, vậy xin hỏi ông đã bằng cách nào để giữ được tâm thái dân gian và lập trường dân gian quý báu đó?

Đáp: Vừa rồi tôi đã bàn đi bàn lại vấn đề này, đó là phải luôn luôn cảnh giác. Đương nhiên, tôi cũng tuyệt nhiên không cho rằng nhà văn cần phải đi cùng với gian khổ và khốn khó. Chúng ta cũng chẳng cần thiết phải cố ý đi thể nghiệm gian nan. Bởi lẽ loại thể nghiệm có ý thức và sự an bài của số phận là hai chuyện khác nhau. Theo tôi điều quan trọng nhất là, bạn phải luôn nhớ rằng mình là một người dân, viết văn là một nghề, mà nghề này chẳng có gì là thần bí cả, và cũng chẳng cao quý.

Hỏi: Ông có thể cho hay, tại sao trong Đàn hương hình ông lại miêu tả nhiều hình phạt tàn khốc đến vậy?

Đáp: Việc đặt ra các hình phạt tàn khốc, là do giai cấp thống trị dùng để trấn áp răn đe người dân, song trên thực tế, người dân lại coi việc đó là ngày hội của mình. Hình phạt tàn khốc trên thực tế đã trở thành màn kịch linh đình của người dân. Kẻ ra hình và người thụ hình đều là vai diễn trên vũ đài đặc biệt này. Bởi lẽ khi viết Đàn hương hình tôi đã chịu ảnh hưởng của hý kịch quê nhà, nhân vật chính của tiểu thuyết chính là chủ gánh hát của một ban kịch, cho nên khi viết, tôi cảm thấy như thể đang viết kịch vậy, thậm chí như đang xem kịch. Các hình phạt tàn khốc trong kịch, chỉ là một loại hư cấu. Cho nên tôi cũng chẳng vì những miêu tả ấy mà cảm thấy sợ hãi. Ngoài ra trong Đàn hương hình phần lớn thời gian độc bạch thuộc ngôi thứ nhất, nên khi viết đến đoạn độc bạch của đao phủ siêu hạng Triệu Giáp, thì tôi phải là Triệu Giáp, tôi phải đưa bút theo tư duy của Triệu Giáp. Triệu Giáp là tay đao đệ nhất của triều đình Đại Thanh, trong nghề đao phủ hắn là nhân vật cỡ đại sư, hắn là kẻ giết người như mê dại, khi tôi có ý miêu tả thế giới nội tâm của hắn, tôi bỗng cảm thấy việc giết người đối với hắn, trên thực tế là một dịp để hắn thi thố kỹ xảo. Là một phen diễn xuất. Do đó, sở dĩ tôi có thể miêu tả một cách chi tiết các hình phạt tàn khốc như vậy, nguyên do là tôi đã coi đó như viết kịch vậy.

 

Trần Minh Sơn dịch  theo Đương đại tác gia bình luận, số 1-2002. Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học  số 6/ 2004

Leave a Reply