“Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”


 Mai Vũ

Nguyên tác

Tảo giải 

I.

Nhất khứ kê đề dạ vị lan,

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,

Nghênh diện thu phong trận trận hàn

 

II

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,

U ám tàn dư tảo nhất không;

Noãn khí bao la toàn vũ trụ,

Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!

 

Dịch thơ

Giải đi sớm

 

I

Gà gáy một lần đêm chửa tan

Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn

Người đi cất bước trên đường thẳm

Rát mặt đêm thu trận gió hàn

 

II

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng

Bóng tối đêm tàn, quét sạch không

Hơi ấm bao la toàn vũ trụ

Người đi thi hứng bỗng thêm nồng

 

“Tảo giải” (Giải đi sớm) được sáng tác trong khoảng thời gian đầu của thời kì Người bị giải đi khắp các nhà ngục của tỉnh Quảng Tây, cụ thể là chuyển từ nhà lao Long An sang nhà lao Đồng Chính. Tác phẩm ghi lại khung cảnh thời tiết khắc nghiệt và cảm hứng thơ nồng nàn của người tù thi sĩ trước cảnh bình minh rạng rỡ, ấm áp. Toàn bài, hầu như chỉ nói đến thiên nhiên, cảm hứng lên đường, thể hiện tâm thế lạc quan và ung dung thưởng cảnh, làm thơ của người tù, người chiến sĩ.

Giải đi sớm là nhan đề chung của hai khổ thơ số 41 và 42 trong tập Nhật kí trong tù. Mỗi khổ có thể coi là bài thơ độc lập.

Khổ thơ thứ nhất tả cảnh chuyển lao trong đêm tối giá rét, thể hiện cảm nhận về hiện tại. Tác giả gieo vần “an” liên tiếp (vị lan, thu san, trận trận hàn) vừa khắc sâu cái không gian bao la lạnh buốt và mở ra con đường xa rộng, vừa tả niềm tin mãnh liệt và sức chịu đựng bền bỉ của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu thơ đầu mở ra một thời gian, không gian cụ thể. Nhìn chung bức tranh thiên nhiên chứa đầy thử thách khắc nghiệt.

Câu thơ thứ nhất sử dụng thành công bút pháp chấm phá và bút pháp “lấy động tả tĩnh”. Nhịp thơ 4/3 chắc gọn, cấu trúc câu thơ giống như một lời kể, kể để gợi không khí, để nhấn mạnh hoàn cảnh. Âm thanh tiếng gà báo hiệu thời gian đã quá nửa đêm, cho thấy không gian vẫn chìm trong bóng tối tĩnh mịch. Lời thơ dung dị vọng lại âm thanh đời thư­ờng, gần gũi. Câu thơ thứ nhất đậm chất hiện thực, thực trong cảnh và thực trong tâm thế của người tù.

Đọc Tảo giải ta thấy: Đứng ở trung tâm của bức tranh thiên nhiên là hình ảnh con người đang chủ động đón nhận từng cơn gió núi lạnh buốt thổi tới. Theo mạch logíc thông thường, người đọc tưởng sẽ nghe thấy ở đây một lời than đau xót, hay phẫn uất bất bình, vậy mà sau khoảnh khắc lắng nghe tiếng gà giục thời gian trôi mau, người từ Hồ Chí Minh đã ngẩng đầu ngắm trăng sao và ghi lại vẻ đẹp đầy chất thơ, sống động lạ thường của bầu trời.

Xét về cách sử dụng từ ngữ, ta thấy tác giả thật tinh tế:

“Nhất thứ kê đề dạ vị lan”

(Gà gáy một lần đêm chưa tàn)

Chưa tàn” (dạ vị lan) chứ không phải là đêm tối, bởi “chưa tàn” có nghĩa là sẽ tan: “Gà gáy một lần, đêm chưa tàn”. Lời thơ hàm nghĩa một sự vận động, thời gian chuyển dần về sáng. Theo ý nghĩa đó, âm thanh tiếng gà đâu chỉ báo hiệu trời đêm, mà còn báo hiệu một ngày mới đang đến. Âm thanh đó phần nào xua đi sự vắng lặng của đêm lạnh và mở ra một cuộc hành trình mới. Như vậy, ngay từ bước chân đầu tiên, Bác đã quên đi cảnh ngộ gian truân của mình để hướng về vũ trụ đang chuyển vần. Nói hồn thơ Nguyễn Ái Quốc thật rộng mở, phóng khoáng, tràn đầy niềm tin tưởng lạc quan là vì thế .

Nếu như câu thơ thứ nhất nghiêng về thông báo hiện thực, thì câu thơ thứ hai lại tràn đầy cảm xúc lãng mạn, cảnh thơ chuyển đổi bất ngờ thi vị. Sự xuất hiện của hình ảnh trăng, sao khiến cho không gian thơ tràn đầy ánh sáng:

“Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san”

Điểm nhấn của bức tranh thiên nhiên là cảnh trăng sao nâng đỡ nhau, giao hoà quấn quýt, là sức vươn lên mạnh mẽ của trăng sao như để thoát khỏi màn đêm tăm tối lạnh giá. Theo nguyên tác, câu thơ thứ 2 phải được hiểu là: “…vượt lên đỉnh núi mùa thu” chứ không phải “vượt lên ngàn”. Bản dịch thơ chưa sát nghĩa. Phải là trăng lên đỉnh núi mùa thu, thì bức tranh phong cảnh mới được miêu tả cụ thể hơn và đẹp hơn nhiều. Lúc này, con người hướng về thiên nhiên bao la bằng cái nhìn tinh tế nhạy cảm, trìu mến. Bức tranh thiên nhiên của đêm thu đã để lại ấn tượng sâu đậm về sự sống, về ánh sáng. Dường như người tù đã tìm thấy sự hoà hợp giữa tâm hồn mình với thiên nhiên, rung cảm trước vẻ đẹp của trăng sao rực rỡ mà dịu dàng đó. Trong nguyên tác từ “ủng” gợi lên không khí ấm áp sinh động, thể hiện được niềm hứng khởi trong lòng người đi và hai chữ “thu san”đặc tả hình ảnh đầy chất thơ. Nói chất trữ tình cách mạng hòa với bút pháp hiện thực là vì vậy.

Hai câu tiếp trở lại với hiện thực “Giải đi sớm” thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người tù, người chiến sĩ trên đường xa. Trong nguyên tác: Người tù bị giải đi từ lúc trời còn rất sớm, khi gà gáy lần thứ nhất thì Bác đã ở (dĩ tại) trên đường rồi. Người chiến sĩ ấy ung dung, chủ động đứng nhìn bầu trời đầy trăng sao và nhìn con đường xa thẳm. Đọc câu thơ thứ hai ta thấy rõ tư thế bình tình hiên ngang của chủ thể trữ tình. Phần dịch thơ chưa lột tả được sắc thái tinh tế đó, vì “cất bước” là mới bắt đầu hành động lên đường, lời thơ thiên về sắc thái bằng phẳng, nhẹ nhàng. Từ đường thẳm được thêm vào làm cho âm hưởng câu thơ đuối đi.

Biện pháp điệp ngữ (chinh, trận) thoáng gợi nỗi gian truân lạnh lẽo. Hai tiếng “chinh nhân”(người đi xa) tạo ra âm điệu rắn rỏi, khoẻ khoắn, hào hùng. Hai chữ “chinh đồ” có lẽ không đơn giản chỉ một con đường xa thẳm cụ thể, lời thơ có xu hướng khát quát về con đường đời, con đường cách mạng đã thử thách tôi rèn người chiến sĩ. Câu thơ thứ tư dịch chưa thật chuẩn, cách dùng từ, giọng văn không thích hợp với tinh thần thép, bản lĩnh thép của nhân vật trữ tình. Nếu “ nghênh diện” là sự chủ động của con người, thì “rát mặt” lại là sự chịu đựng thụ động. Ở nguyên tác, từ “nghêng diện” diễn tả khá rõ cái tư thế chủ động, sẵn sàng đón nhận thử thách và quyết tâm vượt qua mọi vất vả hiểm nguy của người tù. Đây cũng chính là biểu hiện của ý chí thép, tinh thần thép, nghị lực phi thường của con người trong thơ Bác.

Khổ thơ thứ hai tả cảnh chuyển lao vào lúc bình minh, thể hiện cảm nhận về một thời đại mới, về một tương lai rạo rực niềm vui chiến thắng

Phương đông màu trắng chuyển thành hồng

Bóng tối đêm tàn quét sạch không

Hơi ấm bao lao tràn vũ trụ

Người đi thi hứng bỗng thêm nồng

Câu thơ đầu ghi nhận sự đổi sắc của bầu trời. Câu thứ hai vẽ ra sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối. Câu thứ ba tả rất hay về sự giao hoà tuyệt đối giữa thiên nhiên và con người. Câu thứ tư gợi tả phong thái ung dung, đầy hứng khởi của người đi. Trong cảm quan của người lên đường đột ngột mở ra một chân trời phương đông rực rỡ ánh hồng, cảnh vật bừng sáng mau lẹ, hơi ấm đất trời và hơi ấm tâm hồn con người bừng dậy tràn ngập cả vũ trụ. Đêm thu lạnh, gió thu buốt giá nhường chỗ niềm vui sướng hân hoan. Hòa hợp với thiên nhiên tươi mới, người tù có thêm cảm xúc. Nguồn thi hứng vốn được gợi lên từ ánh sáng trăng sao, đến lúc này “bỗng thêm nồng”. Đặng Thai Mai nhận xét “nguồn cảm hứng lớn khiến cảnh bình minh trong một ngày thường bỗng có khí thế của cảnh bình minh chung cho cả một thời đại”.

Khác với khổ thơ thứ nhất, khổ thơ thứ hai, gieo vần “ông” (thành hồng, nhất không, hốt gia nồng) – tạo ấn tượng về sự tròn đầy, ấp áp, chan hoà. Nếu như từ “hồng” kết thúc câu thơ thứ nhất khẳng định sức sống, qui luật khách quan tất yếu của cảnh vật, thì từ “nồng” khép lại bài thơ lại nhấn mạnh sức sống, lí tưởng tình cảm của con người. Màu hồng rực rỡ “hồng” biểu thị kết quả của qui luật thiên nhiên vận động và là sản phẩm của nhãn quan chính trị xa rộng của người chiến sĩ cộng sản, còn từnồng tạo nên vẻ đẹp tâm hồn thi sĩcho biết mức độ tình cảm của chủ thể trữ tình đối với thiên nhiên, cuộc sống. Cụm từ “bỗng thêm nồng” tả được trọn vẹn nhất, sâu sắc nhất sự vận động tâm trạng, phong thái của chủ thể trữ tình.

Sự tiếp nối của hai khổ hợp thành chỉnh thể nghệ thuật độc đáo, với tứ thơ trọn vẹn: “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”. Sự tiếp nối của hai khổ thơ cũng cho thấy rõ một nét phong cách thơ Hồ Chí Minh: Tư tưởng, hình tượng và không gian thơ thường vận động hướng tới sự sống, tương lai tươi sáng, ấm áp. Trong thơ Bác bao giờ cũng vậy, sự sống chiếm ưu thế, mặt trời hồng luôn xuất hiện xua tan bóng đêm dày đặc và làm cho bức tranh hài hòa hòa tươi thắm .Cả hai khổ thơ liên kết với nhau diễn tả một quá trình vận động của thiên nhiên, cảm xúc – đồng thời phản ánh chân lí của cuộc đời, chân lí cách mạng.

Sự kết hợp giữa t­ư duy nghệ thuật cổ điển phư­ơng Đông (khổ 1) và t­ư duy chính trị hiện đại (khổ 2) đã tạo nên giá trị độc đáo hiện đại của thi phẩm này. Nhìn bề ngoài mỗi một thế giới nghệ thuật có một hình tượng độc đáo riêng biệt. Bốn câu đầu khắc hoạ ấn t­ượng hình ảnh ng­ười chiến sĩ cách mạng chủ động đón nhận và hiên ngang v­ượt qua thử thách. Bốn câu sau miêu tả hình ảnh một thi nhân nồng nàn cảm xúc tr­ước cảnh cuộc sống đ­ương đổi thay. Nhưng thật ra đấy chỉ là biểu hiện đa dạng vẻ đẹp tâm hồn của Bác: Chất thép và chất tình đạn quyện vào nhau. Điểm nhìn nghệ sĩ tiếp nối cảm quan chiến sĩ. Ph­ương thức t­ư duy này tạo ra những hình ảnh thơ mới mẻ, khoẻ khoắn, hào hùng phá vỡ cách cấu tứ của thi ca truyền thống vốn ­ưa sự tĩnh tại.

Cái thần của bài thơ không chỉ ở chi tiết “bỗng thêm nồng” mà chủ yếu thần thơ toát ra từ cấu trúc chuyển hoá – tương phảnthời gian, không gian. Nhà thơ tạo ra các yếu tố tương phản đối lập để thể hiện nhận thức sự vật và biểu hiện cảm xúc. Sự đối lập bóng tối và ánh sáng ở đây xuất phát từ sự thống nhất của một bản lĩnh, một tâm hồn. Tất cả vận động chuyển hoá bởi cảm quan người nghệ sĩ hướng về tương lai và niềm tin cuộc sống. Hoài Thanh nhận xét : “Không thể nào có được những nét bút hùng tráng như vậy, nếu không có sẵn trong lòng một niềm tin sắt đá về một bình minh lớn trong lịch sử”.

Copyright © 2012-2013 – VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG 

Leave a Reply