Nguyễn Công Dương, học trò thi sĩ Bàng Bá Lân (Bài 1): “Người thơ” dưới lũy tre làng


Huy Thông (ghi)

Nhắc đến những bài thơ viết về tre được in trong SGK, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến bài thơTre Việt Nam của nhà thơ xứ Thanh – Nguyễn Duy. Nhưng có một bài thơ khác cũng viết về cây tre, được sáng tác trước đó và cũng được in trong SGK là bài Lũy tre (SGK lớp 2 – bộ cũ) của nhà thơ Nguyễn Công Dương – người được nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét là “hồn thơ đất bãi đã thành phẩm hạnh của phù sa”…

Học với Bàng Bá Lân “nhiễm” thơ văn Nguyễn Nhược Pháp

Sinh ra trong một gia đình địa chủ ở làng Bạch Trữ (Tiến Thắng, Mê Linh, Vĩnh Phúc – nay là Hà Nội) nhà thơ Nguyễn Công Dương có quãng tuổi thơ “nhiều biến động”. Xưa, nhà ông giàu nhất làng, đất đai rải rác mỗi nơi mỗi mẫu, trong nhà toàn hoành phi, câu đối, sập gụ, tủ chè, xe đạp, xe máy. Học cấp 1, thầy giáo dạy ông không ai khác chính là nhà thơ Bàng Bá Lân – người có tên trong Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài Chân) và là tác giả của những vần thơ “để đời”: “Cổng làng rộng mở. Ồn ào/Nông phu lững thững đi vào nắng mai…”.Ông kể về người thầy đã là thiên cổ của mình: “Thời Pháp thuộc, thầy giáo hay dùng thước gõ tay học sinh và ngoéo tai, nhưng thầy Bàng Bá Lân không bao giờ đối xử với học trò như thế. Thầy Lân luôn nhẹ nhàng nên học sinh rất quý thầy. Nếu thấy viết chưa đẹp thầy lại cầm tay khẽ khọt: Con phải viết thế này nhé, làm thế này này… Tôi đã học thầy đức tính ấy nên sau này làm thầy dạy học, tôi cũng chưa bao giờ ngoéo tai hay “oánh” học trò bằng thước kẻ”.

“Có người sau khi đọc xong Lũy tre đã gặp tôi “khuyên” nên chữa câu thành “Sao, sao rơi đầy cành”“Sao, sao rơi đầy thềm” cho logic. Tôi bảo nếu chữa thành Sao, sao rơi đầy thềmlà đúng vận, nhưng cực kỳ vô lý vì mưa, hay lá có thể rơi đầy thềm chứ sao thì không thể rơi đầy thềm được. Vả lại, khi tôi trẻ con hóa, tôi tưởng tượng những ngôi sao, mặt trăng, mặt trời dù là rất cao, rất xa nhưng những cành tre, ngọn tre vẫn có thể với tới, những vì sao có thể đậu trên ngọn tre, khóm tre của làng nên… không sửa”. (nhà thơ Nguyễn Công Dương)

Ông cũng cho biết là mình chịu ảnh hưởng rất nhiều từ thơ của Bàng Bá Lân và đặc biệt là Nguyễn Nhược Pháp. Chả thế mà, đầu tiên viết Lũy tre, ông chọn thể thể thơ lục bát. Nhưng sau khi đọc lại thấy không nhuyễn, ông đã viết lại bằng thể thơ 7 chữ (thất ngôn). Đọc đi đọc lại thấy vẫn chưa ưng, định bỏ, nhưng sau khi đọc xong bài Đi chùa Hương đã lại vội vàng “áp dụng luật mới” – thể thơ ngũ ngôn (5 chữ) để viết lại Lũy tre.

Ngồi đợi mẹ viết Lũy tre
Lớn lên, nhà thơ Nguyễn Công Dương đi học dưới Hà Nội, cách nhà gần 50 cây số, và ngay từ hồi đó, ông đã đi đi về về đều đặn bằng xe máy. Mỗi lần đi học về, ông thường không “phi xe” về làng mà gửi lại ngoài Tiền Châu (cách nhà ông hơn 3km) rồi bách bộ về nhà. Sau cải cách ruộng đất, gia đình nhà thơ được dân làng cho mượn căn nhà một gian hai chái mái nặng rạ rơm, lá tre rụng mục, phủ dày để ở tạm. Từ đó, cuộc đời nhà thơ “sang trang mới”. Bản thân ông phải đi kéo vó tôm và chịu nhiều sự kỳ thị. Thậm chí, trước nhà ông là cả một lũy tre dày, dài, nhưng nếu xách dao ra chặt một tay tre để làm cần câu cũng bị phạt…Một ngày kia, “ngồi buồn dưới bóng tre làng” đón mẹ, ông viết:

Mỗi sớm mai thức dậy, 
Lũy tre xanh rì rào, 
Ngọn tre cong gọng vó 
Kéo mặt trời lên cao. 
Những trưa đồng đầy nắng, 
Trâu nằm nhai bóng râm 
Tre bần thần nhớ gió 
Chợt về đầy tiếng chim. 
Mặt trời xuống núi ngủ
Tre nâng vầng trăng lên 
Sao, sao treo đầy cành 
Suốt đêm dài thắp sáng. 
Bỗng gà lên tiếng gáy 
Xôn xao ngoài lũy tre 
Đêm chuyển dần về sáng 
Mầm măng đợi nắng về… 

(Làng Bạch Trữ, tháng 9 năm  1969)

Lũy tre đăng lần đầu tiên trên báo Văn nghệ, số Xuân, ngày 4/1/ 1975. 8 năm sau (1983) bài thơ được in trong SGK. Ngoài Lũy tre, nhà thơ Nguyễn Công Dương có rất nhiều thơ viết cho thiếu nhi đã đăng ở rất nhiều báo, tạp chí ở trung ương và địa phương.
Phát khóc vì các bức thư của các em

 Nhà thơ Nguyễn Công Dương, sinh năm 1939. Bút danh Bạch An, Phổ Ái. Ngoài ra ông còn hai bút danh khác được nhà thơ Tú Mỡ đặt cho là Gai Tre và Gai Cọ. Ông từng làm giáo viên tiểu học kiêm lang y (y học cổ truyền). Ông có hơn 500 bài thơ viết cho thiếu nhi, 5 tập thơ và nhiều giải thưởng văn học.

Đã có rất nhiều kỷ niệm vui, cảm động xung quanh những bài thơ viết cho trẻ em mà ông đã từng đăng báo. Chẳng hạn, ngày xưa, báo Nhi đồng mỗi khi in thơ ai đều in kèm địa chỉ cụ thể của tác giả. Chính vì thế mà mỗi bài thơ nhà thơ Nguyễn Công Dương được in là mỗi lần có hàng trăm thư của các em nhỏ gửi về cho ông.Ông kể: “Có rất nhiều thư của các cháu nhỏ tuổi gửi về cho tôi. Mỗi lần nhận hàng trăm thư từ tay ông bưu tá, nhìn lướt qua tôi cũng đã biết là các “fan” nhầm vì toàn thấy “to” (người nhận) Bạn Nguyễn Công Dương… Mở thư ra thì vừa buồn cười vừa cảm động. Chẳng hạn có cháu viết: “Bạn Nguyễn Công Dương mùa Hè không được bêu  nắng, đi tắm sông, tắm suối đấy nhé vì ở quê mình có nhiều bạn đi tắm sông, tắm suối bị nước cuốn trôi. Bạn cố gắng trong những ngày Hè giúp đỡ cha mẹ nhé…”. Tôi đã phát khóc vì câu dặn dò này vì chừng này tuổi đầu, có 7 đứa con, 2 đứa chắt rồi thì còn đâu mẹ nữa mà tranh thủ giúp đỡ. Hay: “Cháu xem TV thấy bác hơi bị… gầy và hom hem đấy nhá. Bác cố gắng tập thể dục, giảm ăn thịt, bù rau xanh… Cháu gửi biếu bác bộ quần áo thể thao Adidas và một đôi giày để bác năng tập thể dục”…Có chuyện bất ngờ hơn là có cậu học trò ở Lương Tài, Bắc Ninh chép thơ ông để viết lên báo tường. Nhưng rồi do cô giáo không biết nên tập hợp một số bài thơ hay gửi đi đăng báo Thế giới trong ta. Sau đó tòa soạn gửi báo biếu và nhuận bút về cho “tác giả” thì cậu học trò mới biết và đích thân viết thư gửi ông. Thư viết có đoạn:“Thưa bác, bác thông cảm cho cháu. Quả thật, cháu không cố ý đạo thơ bác, nhưng do cô giáo cháu không biết nên cháu “bỗng dưng” trở thành tác giả bài thơ của bác ạ…”.

Nguồn:http://thethaovanhoa.vn. Bài đăng trên Văn học nhà trường đã được sự đồng ý của tác giả

Leave a Reply