Nguyễn Đình Thi, bay qua mùa xuân


Đỗ Lai Thúy

Mưa tạnh gầy bóng núi/Trời trong bóng trúc dài

Nguyễn Trãi

 

Nguyễn Đình Thi về tuổi đời, chẳng kém các nhà Thơ Mới bao xa, nhưng đã thuộc về một thế hệ khác. Bước vào thế kỷ XX, xã hội Việt Nam phát triển nước rút, khoảng cách giữa các thế hệ, vì thế, bị thu hẹp, đôi khi khá mỏng manh. Các lớp người văn nghệ cứ như những con sóng cắn đuôi nhau mà đi tới. Bởi vậy, tuy sống cùng một thời với các nhà Thơ Mới, nhưng Nguyễn Đình Thi khác với họ từ vốn sống, vốn tri thức đến thời điểm chín để có thể gia nhập vào một đỉnh sóng kế tiếp khác của thơ ca thế kỷ.

Thơ Mới khởi phát từ năm 1932, với một tinh thần cách mạng mạnh mẽ, và đến đầu những năm 40 đã đạt đến thiên đỉnh. Người ta có thể thấy sự toàn bích của nó ở Lửa thiêng của Huy Cận, Thơ say của Vũ Hoàng Chương. Nhưng bất kỳ một trào lưu nghệ thuật nào đạt đến độ viên mãn đều đẻ ra những công thức mới, những sáo ngữ mới có khả năng cầm tù cái mới. Bích Khê, Đinh Hùng nổi loạn, Xuân thu nhã tập chủ trương đổi mới cả lý thuyết lẫn thực hành. Nguyễn Xuân Sanh cách tân thơ bằng sự phá bỏ tính liên tục để thay thế vào đó tính gián đoạn:

Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi

Chén vàng dâng ướp nhạc lòng đời

(Bình tàn thu – 1942)

Những từ ngữ được đặt cạnh nhau dường như không hề có liên hệ cú pháp hoặc ngữ nghĩa tạo cho câu thơ một âm hưởng lạ lùng, những hình ảnh đẹp một cách bí hiểm. Tuy nhiên, thơ Nguyễn Xuân Sanh như một nàng tiên chưa thoát hết lốt cá. Sự đều đặn về số chữ trong câu, số câu trong khổ, sự đơn điệu trong cách ngắt nhịp, nhất là sự chồng chất ngôn từ Hán Việt và hình ảnh sách vở đã cầm trói sáng tạo cất cánh. Xuân thu nhã tập đổi mới không trọn, bởi lẽ sáng tác của họ không theo kịp lý thuyết, không tạo ra được sức thuyết phục cho lý thuyết. Hơn nữa, trong ba nhà thơ của họ, thì người có nội lực thơ ca thì lại không có khả năng bứt phá, còn người muốn bứt phá thì thi lực lại non. Thắng lợi của một trào lưu nghệ thuật, như vậy, đòi hỏi sự đồng bộ của nhiều nhân tố, mà có được sự đồng thời, sự cùng lúc đó thì đôi khi lại phụ thuộc vào ngẫu nhiên, hay còn gọi là số phận của nghệ thuật dân tộc.

Nguyễn Đình Thi sớm đến với Cách mạng tháng Tám. Cuộc cách mạng xã hội này đã kích thích trong ông một tinh thần cách mạng nghệ thuật. Bởi thế, thơ Nguyễn Đình Thi khác với Thơ Mới. Cái khác ấy ở ông có hai khởi nguyên: tâm hồn nhà thơ và hiện thực những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Hai dòng sống này cuốn vào nhau để cất lên một tiếng thơ mới. Điều này vừa thể hiện ở sáng tác thơ vừa ở lý thuyết thơ trong “tuyên ngôn” Mấy ý nghĩ về thơ được viết vào 12-9-1949 trước thềm Hội nghị Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc.

Thơ Nguyễn Đình Thi là thơ trực tiếp. Trực tiếp vì thơ ông là tiếng nói đầu tiên “toé lên ở nơi giao nhau giữa tâm hồn và ngoại vật”. Tiếng nồng thơm của đứa trẻ khi lần đầu tiên cất tiếng. Tiếng trinh nguyên của vũ trụ khi vừa thoát khỏi hỗn mang. Nhà thơ, theo Nguyễn Đình Thi, bao giờ cũng là con người đầu tiên, và nhìn sự vật, nói về sự vật bằng con mắt và tấm lòng của con người đầu tiên ấy. Đó là nhìn và nói bằng hình ảnh. Chỉ có hình ảnh mới có khả năng đập mạnh cùng một lúc vào cả đầu óc lẫn trái tim người đọc. Mỗi câu thơ là một sự lựa chọn tối ưu hàng nghìn phương án diễn ra trong tiềm thức của nhà thơ. Trong căn hầm sáng tạo tiền ngôn ngữ này vật liệu chọn lựa chỉ có thể là những hình ảnh. Và những ảnh hình thơ được lựa chọn đó ở Nguyễn Đình Thi xuất hiện khi “đụng chạm với hành động hàng ngày, tâm hồn tự nảy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa loé lên khi búa đập sáng”. Và, cũng nhờ trực tiếp như vậy, nên “hình ảnh còn tươi nguyên, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột, lạ lùng, mới tinh chưa có vết nhoè của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước”.

Hình ảnh thơ Nguyễn Đình Thi không phải là ảnh chụp, bởi ông không làm thơ tả cảnh. Bởi ảnh chụp là nhìn sự vật từ bên ngoài, một thứ nhìn mà không thấy. Hình ảnh thơ là hình ảnh tâm trạng, một lối nhìn sự vật từ bên trong. Hình ảnh thơ Nguyễn Đình Thi cũng không phải là tư duy so sánh ví von, là thứ dễ trở thành sáo ngữ. “Thơ không phải là tư duy bằng hình ảnh. Thơ là nơi tư tưởng, tình tự quấn quýt với hình ảnh như hồn với xác để tạo ra cái biết toàn thể, biết bằng tất cả tâm hồn, không phải chỉ biết bằng ý niệm, bằng trí thức”.

Muôn ngàn đêm hẹn nhau họp đêm nay

Bến Phan Lương nép bên rừng im lặng

Ngang đồi một tia vàng bay vút

Một vầng sao ngời muôn vàn sao

Tung lên hoa lửa

Bụi ngọc ngập trời

Rơi rơi trên đầu trên cổ

Trên ngón tay

Triệu triệu sao

Rừng Việt Bắc

 

Ngàn sao phơi phới đang bay

Lòng ta ngợp ánh vàng

Mắt không thấy nữa

Núi lại núi gọi thầm

Hà Nội dưới kia

Hà Nội ngước lên nhìn

Bốn phương nín thở

Những lề đường mòn cũ

Vàng nhộp ánh đèn

Hà Nội…

 

Ngoài xa rì rào tiếng sóng

Sông Lô đang cuộn

Như dòng sông sao chảy giữa đêm mờ

Trôi tới chân trời xa vút

Ôm những bờ ngô bãi mía quê hương

Ta đứng đây bến thuyền đang nhộn nhịp

Những hành quân áo lá toả bên bờ

Những rừng cây rung gió say sưa

Ngàn sao nghiêng nghiêng chào vẫy

Bãi cát thắp lên từng dòng đuốc lửa

Đò bơi tíu tít mặt sông

Người vẫn sang vô tận trong đêm

Rầm rập đi trong rừng tối

Ta bước đi giữa dòng người như trẩy hội.

1947

(Đêm mít tinh)

Trực tiếp và giàu hình ảnh, thơ Nguyễn Đình Thi là thơ cảm giác. Thơ lãng mạn chủ yếu là thơ truyền cảm. Thế giới thi ca của nó được đặt trên lưng của cái tôi tình cảm. Nó lấy tình cảm của nó ra để làm đối tượng kể tả. Mỗi bài thơ là một bể chứa năng lượng cảm xúc để truyền sang cho người đọc theo nguyên tắc bình thông nhau. Thơ Tượng trưng là thơ gợi cảm. Chủ nhân vương quốc thơ của nó, không chỉ là con người xã hội, con người hữu hình, mà chủ yếu là con người tâm linh, con người vô hình. Đi vào lãnh địa huyền bí ấy, người ta phải dùng đến biểu tượng, kể cả biểu tượng tôn giáo, dùng âm nhạc, một thứ âm nhạc ma mị, đều đều, thầm thì để dẫn dụ. Thơ Tượng trưng là một thế giới hoàn chỉnh, hài hoà, cô đúc, mơ hồ, có sức mời gọi. Nhưng thế giới nghệ thuật khép kín, tự đầy đủ trong bản thân nó này, không còn thích hợp trong thời đại phản kháng. Thơ cảm giác là thơ của các giác quan, thơ của một con người đang căng mình ra trước một thế giới mới. “Tôi không thích, Nguyễn Đình Thi thổ lộ, những bài thơ nói ra tâm tình. Nó phải nói cảm xúc, cảm xúc là tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi, tay sờ, cảm thấy thế nào, nói thế ấy” (ĐLT nhấn). Thơ cảm giác gây phản ứng bởi nó không quen thuộc, đúng hơn chưa quen thuộc với cái lỗ tai Thơ Mới quen gắn thơ với nhạc, một thứ luật lệ bên ngoài. Thơ cảm giác dựa vào những tiêu chí khác, những luật lệ bên trong, gần với bản chất của thơ hơn. Hình như hành trình đi tới các thể loại văn học là hành trình gạt bỏ những dị chất để nó trở về với tinh chất, với thực chất của nó. Thơ, vì vậy càng đi xa càng trở về với tiếng nói đầu tiên.

Thơ cảm giác Nguyễn Đình Thi, có thể nói, là thơ nhịp điệu. Nhịp điệu xưa nay vẫn là xương sống của thơ. Nhưng trước đây người ta chưa nhận thức ra điều đó, bởi thơ còn chưa tách hẳn người anh em sinh đôi của nó là nhạc: thơ cần tựa vào vần điệu. Nhịp điệu, vì thế không phát huy được sức lực vốn có của nó. Nguyễn Đình Thi giải phóng thơ khỏi vần, khỏi câu thơ có cùng một số chữ, cùng một cách ngắt nhịp để đưa nhịp điệu lên bình diện thứ nhất và duy nhất của thơ.

Dừng chân trong mưa bay

Ướt đầm mái tóc

Em em nhìn đi đâu

Môi em đôi mắt

Còn ôm đây

Nhìn em nữa

Phút giây

Chiều mờ gió hút

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy

1948

(Không nói)

Gọi thơ Nguyễn Đình Thi là thơ không vần không chỉ là một cách gọi có tính lịch sử theo kiểu hoán dụ, mà rất tiêu biểu, rất trúng của “trường phái trọng vần” của Thơ Mới bây giờ đã trở thành thơ cũ. Tuy nhiên, cách gọi này, dù vô tình hay cố ý, dễ làm cho người đọc hiểu lầm Nguyễn Đình Thi có chủ ý từ đầu làm thơ không vần. Tức thi nhân là kẻ hình thức chủ nghĩa. Thực ra, Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần là tuân theo quy luật nội tại của thơ, tức nhịp điệu. “Tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đạt tới độ cảm xúc mãnh liệt, nếu cần nói hơi dài, dùng câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn. Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tưởng nó cần phải khoẻ, gần gũi, xù xì, chất phác, chung đúc tự nhiên. Những bài thơ có cùng một nhịp đều đều, tôi không thể chịu được. Bài thơ chất phác kia tác động vào tâm hồn ta hơn”. Thơ ấy, cảm xúc ấy, tất phải nhịp điệu ấy. Một nhịp điệu chỉ tựa vào chính nó nên không cần đến vần. Hiểu như vậy mới thấy Nguyễn Đình Thi chính là người chống chủ nghĩa hình thức quyết liệt nhất: nhịp điệu mới phải có vần điệu mới. Có điều vần điệu ở đây bằng không (Zero). “Còn người dùng những điệu đều đặn mà nói được nội dung mới phải là thiên tài. Hình thức cũ để tả nội dung cũ. Nội dung mới, tự nó sẽ tìm đến hình thức mới”. Phép biện chứng đơn giản ấy chưa được những người chống Nguyễn Đình Thi biết đến, nên vô hình chung họ đã tách nội dung ra khỏi hình thức (một cấm kỵ trong nghệ thuật cho dù có tách ra để nghiên cứu), mà cho rằng nội dung và hình thức dù có tách nhau, mâu thuẫn nhau thì vẫn cứ là thơ. Quả thực, vấn đề ở đây không phải là thơ có vần hay không vần. Bởi “mỗi thể thơ có một khả năng, một thứ nhịp điệu riêng của nó”. Nhịp điệu thơ thay đổi khi nhịp sống của thời đại đổi thay. Người làm thơ phải cảm được nhịp sống của thời đại lớn của mình để sống và sáng tạo cùng nhịp với nó.

Nhịp điệu thơ Nguyễn Đình Thi là nhịp điệu của hình ảnh. “Nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bổng, trầm, lên xuống trầm như tiếng đàn êm tai, một người ngoại quốc không biết tiếng ta cũng có thể nghe thấy được. Nhịp điệu của thơ không giới hạn ở thứ nhạc ngoài tai ấy. Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh (ĐLT nhấn), tình ý, nói chung là của tâm hồn”.

Như vậy, nhịp điệu của hình ảnh, theo Nguyễn Đình Thi, không phải là nhịp điệu cú pháp, mà là thứ nhịp điệu chỉ nghe được bằng mắt. “Đó là nhịp điệu hình ảnh của những cảm xúc, hình ảnh, liên tiếp hòa hợp, mà giữa những tiếng và chữ gọi ra những ngân vang dài, ngay giữa khoảng lung linh giữa chữ, nhưng khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”.

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng thềm cũ ra đi lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Nắng nhuộm hương đồng ruộng hương

rừng chiến khu

Tháp rùa lim dim nhìn nắng

mấy cánh chim non trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người hung hăng một buổi

Tháng tám về rồi đây

hôm nay nghìn năm gió thổi

Đàn con hè phố môi hồng hớn hở

ngày hẹn đến rồi

Hôm nay nghìn năm trời muôn xưa

Các anh ngậm cười bãi sú ven sông

Hà Nội ơi núi rừng.

1948

(Đất nước)

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi thật là giản dị, cứ như lời cất lên của đất và nước. Toàn từ thuần Việt. Câu thơ được thốt ra y như lời nói thường. Tính chất trực tiếp này do nhà thơ hoàn toàn dựa vào thực tế, không tìm kiếm thi liệu ở sách vở. Nó ứ đầy chất sống, nó là sự sống, là cuộc đời. Những lời nói bình thường này không cần đến vần điệu, đến sự đều đặn, đăng đối. Tiếng nói tự nhiên và tự do này tìm lấy cho mình một nhịp điệu tự do. Nói vậy, tức Nguyễn Đình Thi đã học được thứ nghệ thuật cao cấp nói bằng một ngôn ngữ nguyên sơ. Đó là một ngôn ngữ vừa hồn nhiên một cách cố ý và cố ý một cách hồn nhiên. Bởi lẽ, nếu chỉ hồn nhiên không thôi thì sẽ là tiếng đám đông, phi nghệ thuật, còn nếu chỉ cố ý không thôi thì sẽ là tiếng nói nhân tạo của những chiếc lưỡi gỗ.

Thơ Nguyễn Đình Thi, tóm lại, chứa ở bề sâu của nó những mầm mống sau này sẽ trở thành xu hướng chủ đạo cho nền thơ hiện đại: tính gián đoạn, tính đồng hiện, cái ngẫu nhiên gây bất ngờ, tham vọng nới rộng biên giới thơ để thu nạp vào nó cả văn xuôi, cả âm nhạc (lối kết cấu nhiều bè), cả hội hoạ (lối xé dán), cả điện ảnh (lối lắp ráp).

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, không phải chỉ mỗi Nguyễn Đình Thi làm thơ tự do, thơ không vần. Hồng Nguyên có Nhớ, Trần Mai Ninh – Nhớ máu Tình sông núi, Hữu Loan – Đèo Cả… Đó là “hướng động” của cả một thời đại mà chỉ những tâm hồn tươi trẻ, nhạy cảm mới nắm bắt được. Tuy vậy, các nhà thơ trên chỉ sáng tác có một hai bài thơ tự do, lại không phải là thơ cảm giác, không có nhịp điệu của hình ảnh, không có tính gián đoạn, nhất là không có một quan niệm mới, hoàn chỉnh, nhất quán về thơ hiện đại như Nguyễn Đình Thi, nên thơ họ vô sự, còn thơ Nguyễn thì được đưa vào nghị sự ở Hội nghị Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc ngày 25, 26, 27, 28 tháng Chín năm Bốn Chín.

Ý kiến trong cuộc tranh luận này có thể chia thành hai loại. Một, nhận xét thơ Nguyễn Đình Thi từ những tiêu chí của chính bản thân thơ. Hai, từ tiêu chí ngoài thơ. Loại ý kiến thứ nhất tiêu biểu là của Xuân Diệu. Từ mỹ học Thơ Mới, lấy Thơ Mới làm hệ quy chiếu, “ông hoàng thi ca” một thời này đã mô tả thơ Nguyễn Đình Thi rất chính xác, dĩ nhiên như là một bức tranh âm bản. Theo ông, thơ Nguyễn Đình Thi đầu Ngô mình Sở, không kết dính, nhiều câu thừa, có tính đầu óc, khó hiểu, không hợp lý, câu thơ cô đúc quá lại không vần nên không truyền cảm. Nhưng đáng buồn cho Xuân Diệu, những nhược điểm ông nêu trên lại chính là ưu điểm nếu nhìn từ chuẩn thơ hiện đại. Bởi đó chính là tính gián đoạn, thơ cảm giác, thơ hình ảnh, thơ nhịp điệu… Xuân Diệu, ngoài ý muốn của ông, đã tôn vinh thơ Nguyễn Đình Thi bằng một hình ảnh đẹp: “Những nét thơ rất đẹp, nhưng chỗ này một nét, chỗ kia một nét, tán loạn như trong một bức tranh siêu thực”.

Những người khác, “văn hoá thơ” kém hơn Xuân Diệu, thì chỉ nhìn vào những tiêu chí bề ngoài, “hình thức chủ nghĩa”. Như Thanh Tịnh, với tư cách là người khai sinh ra thể loại tấu, thơ – tấu, thì cho rằng thơ Nguyễn Đình Thi không có vần, trúc trắc, khó đọc. Ngô Tất Tố, một dịch giả thơ Đường, kiên quyết hơn, tuyên bố đã là thơ thì phải có vần, “không có vần thì đừng gọi là thơ”. Có người kẻ cả cho thơ Nguyễn Đình Thi chỉ là thí nghiệm.

Thơ Nguyễn Đình Thi cũng được một số người bênh vực như Nguyên Hồng, Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng. Các tiếng nói này hoặc chỉ bênh vực cho thể loại thơ tự do nói chung (Văn Cao), hoặc cho thơ Nguyễn Đình Thi có tính chất trường hợp, riêng lẻ, chỉ phản ánh tâm hồn anh (Nguyễn Huy Tưởng), riêng Nguyên Hồng coi thơ Nguyễn Đình Thi “không còn là thí nghiệm nữa, mà đã là thành công rồi”. Chưa ai trong số họ chỉ ra được thơ Nguyễn Đình Thi là một kiểu thơ khác, dựa trên một mỹ học khác, tức mỹ học hiện đại chủ nghĩa.

Khép lại ý kiến loại thứ nhất và bắc cầu cho loại ý kiến thứ hai là kết luận của Xuân Diệu: “Ý thơ có thể lờ mờ, điệu tâm hồn thì không thể lờ mờ”. Điệu tâm hồn ở đây, trong bối cảnh văn nghệ bấy giờ, có thể hiểu là lập trường quan điểm của tác giả. Điều mà Xuân Diệu chỉ nói xa xôi thì Tố Hữu lại nói sát sàn sạt. Ông cho thơ Nguyễn Đình Thi có “nội dung lạ”. Cái lạ đó là cái cá nhân mà văn nghệ kháng chiến đang muốn gạt bỏ, bởi vậy đọc Nguyễn Đình Thi sẽ gặp phải cái mình đang chối bỏ đó. “Tôi thấy ghét thơ anh Thi ghê lắm vì tôi thù ghét cái cá nhân nó lại trở về với tôi”. Hà Xuân Trường nối điêu Tố Hữu cho thơ Nguyễn Đình Thi cá nhân vì cảm xúc cũ, vì “con người anh Thi không ăn khớp với kháng chiến”. Cảm xúc cũ là vì còn nói đến đau thương, mất mát, còn nói đến nỗi buồn của tâm hồn mình, còn xa rời quần chúng. “Thơ anh Thi chỉ phản ánh một phần nào tâm hồn của anh, chứ không nói tiếng nói của đại chúng. Thơ anh như hạt ngọc lung linh chứ không phải dòng suối lôi cuốn người ta đi” (Nguyễn Huy Tưởng). Kết thúc toàn bộ cuộc tranh luận, Tố Hữu cho lời cuối: “Những bài thơ của anh Thi tôi cho là không hay vì chưa nói lên được nỗi niềm của quần chúng”.

Như vậy, người sáng tạo thời nào chí ít cũng phải chịu hai trở lực. Một là những quan niệm thẩm mỹ, những quan niệm nghệ thuật một thời đã từng là cách mạng, là số ít, là bị trị, thì nay đã thành số đông, thống trị, xơ cứng và bảo thủ. Hai là thời cuộc bao giờ cũng có những áp lực hợp lý của nó, dù là sự hợp lý vì nó đang tồn tại. Bởi vậy, trước cái định mệnh nghiệt ngã muôn thuở đó, ứng xử cá nhân của người nghệ sĩ là yếu tố quyết định.

Sau Hội nghị Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc, có người nói, Nguyễn Đình Thi chữa tất cả những bài thơ không vần thành có vần. Còn nhà thơ thì cho rằng anh không chữa mà ngay từ đầu đã sáng tác hai bản: một, có vần và hai, không vần. Tôi tin lời Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên nếu đúng như vậy, thì sự việc cũng chẳng khác đi bao nhiêu. Bởi lẽ, sau đó Nguyễn Đình Thi không làm thơ không vần nữa. Và ở tập thơ in sau đó, Người Chiến Sĩ, 1956, ông chỉ tuyển những dị bản thơ có vần. Nhưng điều đáng nói hơn là khi đặt hai văn bản ấy cạnh nhau thì văn bản được “vần điệu hoá” đã làm cũ thơ Nguyễn Đình Thi đến hàng chục năm trời. Đây là bài thơ Không nói có vần:

Dừng chân trong mưa bay

Liếp nhà ai ánh lửa

Yên lặng đứng trước nhau

Em em nhìn đi đâu

Em sao em không nói

 

Mưa rơi ướt mái đầu

Mỗi đứa một khăn gói

 

Ngày nào lần gặp sau

Ngập ngừng không dám hỏi

Chuyến này chắc lại lâu

Đoàn thể gọi

 

Chiều mờ gió hút

Nào đồng chí – bắt tay

 

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy

Bài thơ bị kéo dài ra, xếp thành từng khổ. Vần đã che lấp mất nhịp điệu tự nhiên của lời nói thường buột ra từ trái tim của nhà thơ. Sự vần điệu hoá cũng làm cho bài thơ mất đi tính cá nhân, trở thành tiếng nói của anh cán bộ, nhất là khi được chêm vào những từ như ánh lửa, đoàn thể, đồng chí, bắt tay… Cũng một chiều hướng như vậy, bài Đường núi đến năm 1994 mới được tuyển lại trong tập Tuyển tập Nguyễn Đình Thi, nhưng Tiếng ai hát lênh đênh được thay bằng Tiếng ai hát trên nương, còn Ta nghe ta hát một mình thì bằng Đâu đây tiếng suối rì rào

Nguyễn Đình Thi là người sớm bắt được mạch đập của thơ hiện đại chủ nghĩa thế giới. Ông đã tìm ra cho mình một thi trình vào chủ nghĩa hiện đại. Nhưng, có thể ông chưa đủ kiên trì, một sự kiên trì cần thiết để biến cái trực giác mỏng manh, thoáng chốc ấy thành một quan niệm nghệ thuật bền vững. Và nhất là đủ trơ lỳ không sợ mất mát, để đi đến tận cùng con đường ấy. Bởi, lẽ của một nhà thơ, như J.P.Sartre nói, mất là được.

Lý giải hiện tượng này, có người cho Nguyễn Đình Thi chịu áp lực quá nặng nề của thời thế. Ông lại là con người ham hưởng thụ đời sống, thích đoàn thể, mít tinh, nên không thể đi mãi được trên đường núi  trong tình trạng âm thầm không nói. Tôi nghĩ, có lẽ còn có một nguyên nhân nào đó sâu xa hơn, nằm trong chính con – người – nhà – thơ. Đó là sự lưng chừng, không dứt khoát ở Nguyễn Đình Thi giữa hai cực đối lập: truyền thống và cách tân, giữa mỹ cảm cũ và mới, thơ có vần và thơ không vần, truyện thơ (Mẹ con đồng chí Chanh – 1953) và thơ trữ tình tự do… Còn áp lực muôn thuở của thời thế chỉ là điều kiện để cho sự lưỡng phân này bộc lộ. Đã thế, Nguyễn Đình Thi lại đa tài.

Đa tài cũng có thời của nó. Thời Tiên Tần ở Trung Hoa, thời Hy Lạp cổ đại, thời Phục hưng và Lãng mạn ở châu Âu xuất hiện nhiều nghệ sĩ đa tài. Đó là những thời đại hướng tâm. Con người còn sống hài hòa với chính bản thân nó, nên tinh lực của họ được tập trung, các tài năng trong họ đều đi về một hướng. Còn ở thời đại ly tâm, con người không trùng khít với bản thân, nó bất hòa với chính nó, tinh lực bị phân tán, các tài năng trong họ dễ trở thành cản trở nhau. Các năng lực thi ca, âm nhạc, văn xuôi, kịch nói ở Nguyễn Đình Thi tuy không đến nỗi cản trở nhau, nhưng dễ làm cho người nghệ sĩ ngộ nhận là mình làm gì cũng được. Bởi thế, khi thơ không vần bị phê phán, Nguyễn Đình Thi không tiếp tục vượt lên chiến thắng định mệnh mà rẽ sang văn xuôi, kịch nói để tự do khẳng định mình ở Xung kích, Vỡ bờ, Vào lửa, Mặt trận trên cao nguyên, Con nai đen, Giấc mơ, Rừng trúc… Tôi không dám chắc Nguyễn Đình Thi, như lập thuyết của nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh, có thuộc về thiểu số “người khôn” biết đào nhiều “hang”, phòng khi bị bịt hang này thì đã có hang kia mà sáng tác? Nhưng tôi đoán chắc rằng việc ông không chuyên canh thơ, không đi đến cùng trong cách tân nhằm đưa thơ Việt sớm thoát khỏi cái ách của Thơ Mới lúc này đã trở nên nặng nề để đi đến thơ hiện đại chủ nghĩa là một thiệt thòi lớn cho thơ Việt Nam chung và thơ của cá nhân ông nói riêng. Bởi lẽ, xét cho cùng, thì dẫu đa tài, Nguyễn Đình Thi chủ yếu vẫn là một nhà thơ. Và, “thơ, như ông thổ lộ, đó là một cái thiết tha nhất của tôi, và cũng là cái tìm tòi rất khổ của tôi”.

Thơ Nguyễn Đình Thi là một cột mốc lớn trên hành trình đổi mới thơ sau 1945. Sau ông, từ 1956, lại khởi đầu một đợt đổi mới khác là các nhà thơ Nhân văn Giai phẩm. Thơ Trần Dần, Lê Đạt phần nào cách tân dưới ảnh hưởng của thơ Maia. Trước hết, tinh thần sáng tạo ngôn ngữ của Maia thời Vị lai, thời của “đám mây mặc quần”, đã truyền cho các nhà thơ Việt Nam này sự thức nhận ngôn ngữ. Còn Maia thời “Cộng sản ngoài Đảng”, thời đồng nhất cách mạng thi ca với cách mạng xã hội, đã làm sống lại ở một xứ sở khác lối thơ diễn đàn với cách nói khoa trương và thể thơ bậc thang.

Nhưng nhóm Nhân văn Giai phẩm, hoặc quá hưng phấn với cái nội dung chính trị văn nghệ nên chưa sẵn sàng để hiến thân cho nghệ thuật hoặc họ mới chỉ đang đi những bước đầu tiên thì bị khựng lại, nên những cách tân thực sự về thi pháp của họ chỉ được thực hiện vào thời hậu Nhân văn, khi họ bị cách ly hầu như hoàn toàn với xã hội, khi bản thân họ, với tư cách một nghệ sĩ, bị đặt vào tình thế “cách tân hay là chết?”.

Nguyễn Đình Thi sau Bốn Chín phân thân thành hai con người, người nghệ sĩ và ông quan văn (nghệ). Sự giằng co giữa hai con người đó là “bất phân thắng phụ”. Khi thời cuộc không thuận cho con người thư lại thì con người nghệ sĩ trỗi dậy, và Nguyễn Đình Thi có Con Nai Đen, có Nguyễn Trãi Ở Đông Quan, có Giấc Mơ, có những bài thơ như Hoa vàng, Một khoảng trời xanh kia… Nhưng sự tán phát tinh lực, sự xuất hiện đơn độc những bài thơ không vần giai đoạn này không tạo lập một phong trào. Cái thời điểm một cánh én có thể làm nên cả mùa xuân đã trôi qua cùng với năm 1949. Như vậy, thơ Việt Nam, ở miền Bắc sau Xuân thu nhã tập một lần nữa, lại nhỡ một chuyến xuân.

 

Rút từ: Đỗ Lai Thúy, Thơ như la mỹ học của cái khác, Nxb Hội Nhà văn – Song thuy Bookstore, H, 2012, tr.125 – 146. Bản gửi http://phebinhvanhoc.com.vn. Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply