Nguyễn Xuân Khánh, từ cấu trúc nghệ thuật đến cấu trúc tư tưởng


Phạm Xuân Thạch

Năm 1986, trong một bài viết mang tên Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu có viết: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”([1]). Cần nhớ rằng thời điểm Trần Đình Hượu viết bài viết này là gần một năm trước khi diễn ra Đại hội lần thứ sáu của Đảng cộng sản Việt Nam, là thời điểm Chiến tranh lạnh chưa hề có dấu hiệu kết thúc, các quan hệ giao lưu khoa học, văn hóa, tư tưởng giữa Việt Nam và các nước phương Tây vẫn còn hết sức khó khăn. Trước đó ba năm là thời điểm Benedict Anderson xuất bản cuốn sách Cộng đồng tưởng tượng – suy tư về nguồn gốc và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc (Imagined communities – Reflections on the Origin anh Spread of Nationnalism). Thật khó có thể hình dung ra sự tiếp xúc của Trần Đình Hượu với công trình này bởi lẽ những tiếp xúc của ông với phương Tây chủ yếu là thông qua tiếng Nga và tiếng Pháp vậy mà phải hơn mười năm sau, tới tận năm 1996, công trình này mới được dịch sang Pháp văn. Thế nhưng, vẫn có thể nhận ra những điểm tương đồng kỳ lạ giữa hai nhà tư tưởng khi cùng suy tư về căn cước dân tộc (identity national), dân tộc tính (nationality), hay nói như Trần Đình Hượu: “đặc sắc văn hóa dân tộc”. Không cực đoan đến mức như tác giả của Cộng đồng tưởng tượng khi ông này cho rằng toàn bộ cái gọi là “quốc gia”, “dân tộc” chỉ là những “cộng đồng chính trị được tạo lập trên sự tưởng tượng” và vì thế nên chỉ là những ”tạo vật văn hóa” (cultural actifact), Trần Đình Hượu vẫn công nhận rằng những tất cả những yếu tố đó đều là những hiện hữu khách quan có tính lịch sử, một đối tượng tồn tại khách quan (tương tự như giới tự nhiên). Tuy vậy, khác với một “cảm nhận thông thường” (sens commun), rõ ràng Trần Đình Hượu đã nhận thấy tính lịch sử của những yếu tố gọi là “bản sắc văn hóa” hay “dân tộc tính” khi ông cho rằng “vốn văn hóa dân tộc, không phải cái hình thành vào thời kì định hình mà là cái ổn định dần, tồn tại cho đến trước thời cận hiện đại” – nghĩa là một yếu tố được từng bước hình thành và chịu sự tác động của nhiều yếu tố mang tính hoàn cảnh tự nhiên và xã hội nên có những biến đổi trong tiến trình lịch sử. Điều quan trọng hơn nữa, với trích đoạn nói trên, Trần Đình Hượu đã phân biệt được một cách sòng phẳng giữa “đặc sắc dân tộc” với tư cách là một tồn tại khách quan và sự diễn dịch đặc sắc dân tộc qua các thời kì khác nhau dưới tác động của những mục tiêu chính trị (có lẽ ở đây, không thể không nhắc đến một sự gặp gỡ khác, không hẹn mà nên, giữa Trần Định Hượu và Michel Foucault khi suy tư về quyền lực và văn hóa). Rộng hơn nữa, có thể khẳng định rằng trong suốt tiến trình lịch sử của một dân tộc, dân tộc tính/ bản sắc dân tộc/ đặc sắc văn hóa dân tộc là những yếu tố thường trực dược tái diễn dịch và một trong những tác nhân tích cực góp phần vào quá trình tái diễn dịch đó chính là những hư cấu văn chương.

Nguyễn Xuân Khánh là một trường hợp đặc biệt của văn chương Việt Namđương đại. Bắt đầu bước vào sự nghiệp văn chương vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, viết văn trong mười năm và sau đó ngừng xuất hiện trong đời sống văn học chính thống, Nguyễn Xuân Khánh tái xuất hiện trong đời sống văn chương sau gần hai mươi năm lưu văn với tiểu thuyết Hồ Quý Ly, hành trình văn chương của Nguyễn Xuân Khánh là một hành trình với rất nhiều những chuyển động ngược chiều. Từ trung tâm bị văng ra ngoại biên rồi lại từng bước được tái khẳng định trong văn học trung tâm và được thừa nhận từ phía các thiết chế văn chương chính thống thông qua các giải thưởng văn chương. Không những thế, sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh còn là một cuộc “ngược dòng” về đề tài. Khởi đầu sự nghiệp với các đề tài đương đại, mối quan tâm này theo đuổi Nguyễn Xuân Khánh cả trong giai đoạn ông không thể xuất bản tác phẩm. Vậy mà từ khi bắt đầu quay trở lại với đời sống văn chương, Nguyễn Xuân Khánh lại từ bỏ hẳn mạch đề tài mà ông đã từng theo đuổi suốt nhiều năm để chuyển hướng sang một tìm tòi mới: đề tài lịch sử. Không những thế, cả ba tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh được xuất bản sau năm 2000 đều hướng vào những giai đoạn ít nhiều “khuất lấp” của lịch sử Việt Nam: giai đoạn cuối Trần đầu Hồ trước khi nhà Minh xâm lược Đại Việt và giai đoạn thuộc Pháp, kéo dài suốt từ cuộc xâm lược Hà Nội lần thứ nhất, qua thời kỳ của các cuộc khởi nghĩa Cần vương của các sĩ phu văn thân, thời kì thành lập những đồn điền đầu tiên của người Pháp ở Đông Dương, qua cuộc kháng chiến chống Pháp 1946–1954 cho đến tận thời kì hậu chiến. Tất nhiên, có thể nói, một số khuynh hướng đề tài của văn học Việt Nam đương đại cũng ít nhiều để lại dấu vết trong những tiểu thuyết này mà điển hình là đề tài Cải cách ruộng đất và đề tài Kháng chiến chống Mỹ. Tuy vậy, có thể nói, nếu đặt trong tổng thể sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh sau 2000, những mảng hiện thực này chỉ là những cuộc “ghé qua” mờ nhạt.

Đặt trên một phối cảnh rộng lớn hơn, sau 1986, dưới tác động của chính sách Đổi mới toàn diện do Đảng cộng sản khởi xướng, có thể nhận thấy hai khuynh hướng nổi lên một cách rõ rệt. Trước hết, văn hóa dân tộc/ bản sắc văn hóa dân tộc được tái khẳng định tầm quan trọng trong đời sống xã hội và trong các sinh hoạt văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện một cách rõ nét trong những chủ trương văn hóa của Đảng cộng sản. Thứ hai, như là một hệ quả tất yếu của Đổi mới, dường như đã diễn ra một tiến trình tái diễn dịch bản sắc dân tộc/ dân tộc tính/ đặc sắc văn hóa dân tộc, khuynh hướng đã được thể hiện trong bài viết của Trần Đình Hượu mà chúng tôi đã dẫn ở trên. Trong tiến trình tái diễn dịch đó, bên cạnh sự tham gia của các khoa học xã hội và nhân văn, các hư cấu nghệ thuật có một vai trò quan trọng. Đó là điều đã diễn ra trong hội họa (với sự tái khẳng định những nghệ sĩ ít nhiều mang tính cách underground thời Bao cấp), điện ảnh và đặc biệt văn chương. Có lẽ, đó là một trong những nguyên nhân khiến cho một trong những bộ phận sáng tác phát triển mạnh và liên tục nhất của tự sự hư cấu giai đoạn Đổi mới chính là những tự sự về đề tài lịch sử. Vậy, liệu giữa khuynh hướng này và việc chuyển hướng sang đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh trong những tiểu thuyết giai đoạn sau 2000 của ông có một mối liên hệ nào? Đó sẽ là câu hỏi chính của nghiên cứu này.

Từ hai đến ba và hơn nữa

Xét trên bình diện thi pháp thể loại, một hiện tượng có thể được ghi nhận trong các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh giai đoạn sau năm 2000 là việc phá vỡ tính lưỡng phân của hệ thống nhân vật. Hiện tượng này được ghi nhận ngay từ tiểu thuyết đầu tiên của giai đoạn “tái xuất hiện” – Hồ Quý Ly – và trở nên rõ nét trong các tiểu thuyết tiếp theo của ông – Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa. Được hoàn thành năm 1999, là kết quả của một quá trình lao động nhiều năm, Hồ Quý Ly là tiểu thuyết đầu tiên góp phần tái định vị Nguyễn Xuân Khánh trong đời sống văn chương đương đại. Đặt trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử trong văn chương Việt Nam hiện đại, đây là một tiểu thuyết ít nhiều dị biệt. Phát triển trong bối cảnh thuộc địa và giải thuộc địa, chủ nghĩa dân tộc là một trong những lực tác động về văn hóa – tư tưởng rất mạnh lên tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại và khiến cho đề tài chống ngoại xâm là một đề tài mang tính chất chủ lưu. Tất nhiên, trước năm 1945, dưới tác động của những yếu tố thị trường, bên cạnh đề tài này, nhà văn cũng đi vào những âm mưu tranh đoạt trong đời sống vương triều, những giai đoạn mang tính chất nội chiến của lịch sử để phát triển theo hướng lãng mạn hóa hoặc võ hiệp hóa tiểu thuyết lịch sử, tuy vậy, từ sau Cách mạng tháng Tám, những khuynh hướng này gần như bị giải thể hoàn toàn, đặc biệt là ở miền Bắc sau năm 1954. Những vấn đề của chiến tranh giải phóng dân tộc, sự trỗi dậy của tinh thần dân tộc và tinh thần ái quốc khiến đề tài của tiểu thuyết lịch sử nói riêng và hư cấu về lịch sử nói chung chủ yếu đều quay về những giai đoạn chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc. Trên một phương diện, chính điều này cũng liên quan đến sự diễn dịch dân tộc tính/ đặc sắc dân tộc/ bản sắc dân tộc trong một thời đoạn lịch sử. Cách thức khai thác đề tài lịch sử trong hư cấu hiện đại ở Việt Nam chỉ thực sự có sự thay đổi sau đổi mới mà một trong những người tiên phong phải kể đến là Nguyễn Huy Thiệp với những truyện ngắn gây nhiều tranh cãi của ông như Phẩm tiết, Kiếm sắc, Vàng lửa. Đặt trong tiến trình đó, có thể thấy Hồ Quý Ly thuộc một dòng chảy khác của tự sự hư cấu về đề tài lịch sử trong văn chương Việt Nam đương đại, khi mà nhà văn hướng mối quan tâm vào những mâu thuẫn có tính nội tại của xã hội Việt Nam trong quá khứ. Có thể xếp vào “dòng” này những tiểu thuyết như Giàn thiêu của Võ Thị Hảo. Tuy vậy, từ một khía cạnh khác, Hồ Quý Ly cũng là tiểu thuyết mang dấu ấn của tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa rõ nét nhất trong bộ ba tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh. Dấu ấn đó được thể hiện qua kết cấu với tính lưỡng phân tương đối triệt để của hệ thống nhân vật với một bên là Hồ Quý Ly với những khát vọng cải cách và một thứ Khổng giáo pha trộn Pháp gia và một bên là các Hoàng đế nhà Trần hoặc chìm đắm trong sự sa đọa, hoặc bạc nhược trong một thứ Phật giáo mang tính hoàng cung. Đây là kiểu kết cấu với hai tuyến đối lập rất phố biến trong các tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa 1945–1975, tất nhiên, thời cuộc đã khiến những vấn đề xoay quanh Đổi mới và sự cường thịnh quốc gia thay thế cho các vấn đề có tính “truyền thống” của tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa về đề tài chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hơn thế nữa, ngay trong cấu trúc của hai hệ thống nhân vật này cũng có sự phân hóa với khuynh hướng giải thể tính lưỡng phân và “làm nhẹ” tính “không đội trời chung” của các tuyến đối lập. Điều đó được thể hiện qua những xung đột nội tâm của Trần Nghệ Tông, Trần Thuận Tôn và Hồ Quý Ly về vấn đề phương tiện và mục đích cũng như những mối quan hệ chằng chịt giữa các nhân vật. Hồ Nguyên Trừng lấy con gái của một người thuộc phái “bảo hoàng” và là bạn tri kỉ của Trần Khát Chân, cột trụ sức mạnh của các hoàng đế triều Trần. Cũng không phải là ngẫu nhiên khi một phần lớn dung lượng của tiểu thuyết được dành cho điểm nhìn của Hồ Nguyên Trừng, người con trai cả nhưng không được truyền ngôi của Hồ Quý Ly. Chính tính tự phân hóa đó đã khiến trong tiểu thuyết hình thành một tuyến nhân vật tương đối độc lập với những xung đột quyền lực. Có thể xếp vào tuyến nhân vật này Hồ Nguyên Trừng, Sử Văn hoa, Phạm Sinh, thậm chí cả Phạm Sư Ôn và Trần Khát Chân. Tất nhiên, từng nhân vật cụ thể trong “tuyến” này sẽ luôn luôn phải chịu những lực tác động “hút” về phía bên này hay phía bên kia của quyền lực. Như vậy, có thể nói, tính lưỡng phân một cách gay gắt của tiểu thuyết đã bước đầu bị giải thể để thay thế bằng một cấu trúc phức tạp hơn. Cấu trúc ấy giống như một thứ “ngập ngừng mang tính tiểu thuyết” tương ứng với tình thế lịch sử được tái hiện trong hư cấu: sự dùng dằng giữa khát vọng đổi mới và những vương vấn với hào quang quá khứ, giữa khát mục đích và phương tiện, giữa một khuynh hướng “đổi mới bằng mọi giá”, mục đích biện minh cho phương tiện và một thứ bạc nhược đóng kín trong vỏ đạo đức và dung túng cho cái ác cùng sự mục ruỗng.

Khuynh hướng giải thể tính lưỡng phân của hệ thống nhân vật có thể được ghi nhận một cách rõ nét trong những tiểu thuyết lịch sử tiếp theo của Nguyễn Xuân Khánh – Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa. Những tiểu thuyết này khai thác những giai đoạn tương đối đặc biệt trong lịch sử Việt Nam: giai đoạn thuộc Pháp với hai thời điểm khi Pháp mới sang xâm lược miền Bắc và thành lập những đồn điền đầu tiên (trong Mẫu Thượng ngàn) và thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (trong Đội gạo lên chùa). Tất nhiên, ở Đội gạo lên chùa, quãng thời gian được tái hiện còn kéo dài qua giai đoạn Cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông thôn và kháng chiến chống Mỹ cho đến tận thời kì hậu chiến. Đây là những mảng hiện thực gần như vắng bóng trong văn học ViệtNam đương đại. Hơn thế nữa, cái độc đáo còn thể hiện trong “cái nhìn thế giới” của người viết khi tái hiện những mảng đề tài này.

Tái hiện các giai đoạn lịch sử nói trên, điều tất yếu là một trong những xung đột làm nền cho sự vận động của tác phẩm là những xung đột do quá trình thực dân hóa tạo nên, giữa người Việt Namvà những kẻ xâm lược đến từ Pháp. Tuy vậy, trong từng tiểu thuyết, người viết luôn có ý thức trong việc phức tạp hóa những xung đột này. Điều này trước hết bắt nguồn từ việc nhà văn có ý thức trong việc tạo nên sự phân hóa trong từng tuyến nhân vật. Có lẽ, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là sự thể hiện trọn vẹn cái sứ mạng mang tinh thần hiện sinh chủ nghĩa của A. Camus: thấu hiểu hiện thực và con người thay cho sự kết án. Trong Mẫu Thượng ngàn, những kẻ xâm lược không được trình hiện như những “ác quỷ đến từ bên ngoài” mà được “tiểu thuyết hóa” theo một tinh thần riêng. Có đến ba thế hệ những kẻ chinh phục từ người anh Philippe Messmer, người chinh phục thuộc địa, kẻ sùng bái Henri Rivierre, qua người em nghệ sĩ Pierre Messmer, kẻ luôn bị người anh chế giễu là mềm yếu đến Julien Messmer, kẻ cai trị tàn bạo. Mỗi nhân vật trong số ba người này lại là đại diện của một lập trường đối với người An Nam từ thái độ cai trị “ôn hòa” của Philippe, thái độ kính trọng nền văn hóa bản địa của Pierre cho đến thái độ thù địch tàn bạo của Julien. Ngay trong tuyến nhân vật những cha cố công giáo, những kẻ tiếp tay cho cuộc chinh phục thuộc địa của Hải quân Pháp, giữa cha Puginier, một lãnh tụ Công giáo luôn chiến đấu hết mình cho sự thắng thế của Thiên chúa trên mảnh đất An Nam và cha Colembert, người thầy tu sống và chết ở một cái làng Bắc Việt, người mang dáng dấp của những học giả như Léopold M. Cadière đã có một sự phân hóa nội tại về lập trường. Mẫu Thượng ngàn cũng cũng là tác phẩm độc đáo khi trình hiện một hình ảnh khác của những kẻ hợp tác với người Pháp trong nền cai trị thuộc địa. Không chỉ là những kẻ vô liêm sỉ như Quản Boong, một biến thể lưu manh hóa của Trạch Văn Đoành (nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao) trước 1945 mà còn có cả những người như ông Trưởng Cam, một giáo dân đã giúp Philippe đi tìm thi thể Henri Rivierre bị quân Cờ đen hành quyết và cũng là chỗ dựa của Philippe khi xây dựng đồn điền Messmer. Vậy mà, chính Trưởng Cam lại là người chịu ơn của vợ chồng ông Cử Khiêm, một nhà Nho đã tuẫn tiết vì chống Pháp và cũng chính Trưởng Cam là người đã cưu mang người vợ ông Cử Khiêm sau khi người chồng tuẫn tiết. Từ một phía khác, ngay trong những người yêu nước chống Pháp cũng có sự đa dạng hóa nội tại từ thế hệ những người sĩ phu như cụ Đồ Tiết, Trịnh Huyền cho đến thế hệ Vũ Xuân Huy. Bên cạnh đó, khoảng cách giữa hai tuyến đối lập đó lại được “làm đầy” bởi một loạt những nhân vật khó có thể xác định được một cách rõ nét lập trường về mặt chính trị như vị học giả Roger Fromentin, người Hoa Kiều nghiện thuốc phiện Lềnh, đám hào lí các loại trong làng Cổ Đình như Hương Ất, Lý Cỏn, những người phụ nữ có số phận kì lạ như bà Tổ cô, bà Ba Váy cho đến những người như ông Phủ Lễ, ông Hộ Hiếu hay họa sĩ Đinh Công Tuấn. Hiện tượng tương tự cũng có thể được ghi nhận trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa. Tương tự như Mẫu Thượng ngàn, thế giới của những người Pháp trong Đội gạo lên chùa có sự phân hóa giữa “người sĩ quan cao thượng và thuần chủng” ít nhiều có cảm tình với người Việt Nam Thalan; viên sĩ quan phòng nhì nham hiểm mang hai dòng máu Bernard và người lính mang tinh thần phản chiến Gustave. Trong những tuyến nhân vật khác cũng tồn tại sự phân hóa này. Có một sự khác biệt về mặt phẩm chất và lập trường giữa những kẻ vô sỉ một cách tuyệt đối như Quản Mật và những người hào lý có phần “tài tử” như chánh Long hay giữa ông sư – nhà cách mạng Vô Trần và người cán bộ Đội cải cách Khoát.

Bên cạnh khuynh hướng phức tạp hóa hệ thống nhân vật dựa trên những khác biệt về tính cách và lập trường, có thể nói, ở từng nhân vật, luôn có một nỗ lực của nhà văn trong việc tìm hiểu và lý giải những cơ chế bên trong thúc đẩy hành vi của nhân vật. Trong thế giới nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh không phải không có những con người là hiện thân của một cái ác hay sự đê tiện giản đơn như kiểu Quảng Boong, hương Ất hay Julien trong Mẫu Thượng ngàn. Tuy vậy, kiểu nhân vật này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Hơn thế nữa, nhà văn luôn cố gắng phân tích và lý giải cái cội rễ sâu kín, cái nguyên nhân khởi thủy đã thúc đẩy hành động của nhân vật, khiến nhân vật đọa lạc sâu vào cái ác. Đó có thể là căn bệnh “quỷ ám” bởi một ý thức hệ và một lý tưởng mù quáng mà tê liệt toàn bộ khả năng tự phê phán của những kẻ vây quanh Hồ Quý Ly như Nguyễn Cẩn hay Hồ Hán Thương và phần nào, chính Quý Ly, hoặc của những biến thể hiện đại như Philippe hay Julien, những đại diện của một thế giới tự cho mình là văn minh trong cuộc tiếp xúc với một dân tộc bị coi là “bán khai”, “dã man”. Đó có thể là những bi kịch số phận của những kẻ hoặc bị kẹt giữa hai dòng máu như Tây lai Bernard sĩ quan Phòng Nhì hay những người vợ lẽ bị bỏ rơi trong gia đình địa chủ trong Đội gạo lên chùa. Chính cái khuynh hướng đào sâu phân tích và lý giải hành vi con người từ nguồn gốc tiểu sử đó đã khiến cho trong từng tiểu thuyết, dù có thể lặp lại một số đề tài đã tương đối quen thuộc trong văn chương như đề tài cuộc kháng chiến chống Pháp hay cuộc Cải cách ruộng đất, nhà văn đều rọi được một ánh sáng mới mang tinh thần nhân bản và khoan dung.

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất góp phần vào việc phá vỡ tính lưỡng phân của hệ thống nhân vật và xung đột trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh chính là việc nhà văn đã “xếp chồng” nhiều xung đột và nhiều mối quan hệ lên trên những xung đột có tính nền tảng của tiểu thuyết. “Chiến lược” này của nhà tiểu thuyết được thực hiện dưới hai hình thức: sự đan chéo các mối quan hệ hoặc sự “xếp lớp” những xung đột. Trong Hồ Quý Ly, không chỉ có những đối đầu giữa phái “cải cách” của Hồ Quý Ly và phái “bảo hoàng” ủng hộ các hoàng đế nhà Trần mà còn có cả những cảm thông và những tình cảm kỳ lạ giữa những nhân vật thuộc về mỗi tuyến đối lập mà điển hình là mối quan hệ kỳ lạ giữa Hồ Nguyên Trừng và Trần Khát Chân. Đặc biệt, ở những tiểu thuyết về sau của Nguyễn Xuân Khánh, Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa, chằng chịt những mối quan hệ kiểu đó. Lý Cỏn trong Mẫu Thượng ngàn vừa là một lý trưởng phải chấp nhận quyền lực của người Pháp nhưng đồng thời cũng lại bị ràng buộc bởi tình thầy trò với gia đình cụ Đồ Tiết, một gia đình có đến hai thế hệ tham gia những cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Ông trưởng Cam vừa bị ràng buộc bởi cộng đồng tôn giáo của mình vừa chịu ơn của hai vợ chồng ông quan theo đạo Khổng đã cứu vớt ông trong giai đoạn sát Đạo. Con người trong thế giới của Nguyễn Xuân Khánh bị trói buộc trong muôn vàn mối quan hệ khiến cho nhiều khi, không thể hành động dứt khoát theo một ý thức hệ hoặt theo một lựa chọn chính trị nào. Chính “cái nhìn thế giới” đó đã giúp Nguyễn Xuân Khánh có được một cái nhìn khác về cái làng Việt Nam giữa những sóng gió của lịch sử, nơi thường trực giao động giữa những lực đối kháng và hòa giải. Hơn thế nữa, ngay cả những đối kháng, xung đột trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh cũng thường là không chỉ đơn giản bị thúc đẩy bởi một lực tác động mang tính ý thức hệ duy nhất. Khuynh hướng này đặc biệt được thể hiện rõ trong Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa. Như đã nói, lấy bối cảnh là giai đoạn thuộc Pháp, từ giai đoạn khởi đầu đến buổi hoàng hôn của một chế độ (Nguyễn Xuân Khánh đặc biệt nhạy cảm với những thời điểm có tính cách chuyển tiếp). Bên cạnh những xung đột mang tính dân tộc giữa người Việt Nam và người Pháp, còn chồng lên cả những xung đột giữa những tôn giáo và những nền văn hóa cũng như những xung đột có tính cách dòng tộc và đặc biệt, những xung đột mang tính cá nhân. Vấn đề các tôn giáo – ý thức hệ đặc biệt là một nỗi ám ảnh trong các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Nếu như trong Hồ Quý Ly đó là xung đột giữa một thứ Khổng giáo mang tinh thần nhập thế, khai phóng, canh tân nhuốm màu sắc Pháp gia và một thứ Phật giáo mang màu sắc quý tộc, được thể hiện tập trung nhất trong hình tượng vị vua cuối cùng của vương triều Trần Trần Thuận Tôn thì ở Đội gạo lên chùa cũng như Mẫu Thượng ngàn, đó là xung đột giữa duy lý, khoa học phương Tây và cái hồn nhiên, thần bí phương Đông, giữa Thiên chúa giáo và Khổng giáo. Điều đặc biệt là ở giữa những xung đột này luôn luôn tồn tại những lực có tính hòa giải: tôn giáo thờ Mẫu trong Mẫu Thượng ngàn hay Phật giáo trong Đội gạo lên chùa. Và đặc biệt là vai trò của những người phụ nữ, được thể hiện không chỉ như những con người của bổn phận và nghĩa vụ mà còn là đại diện của những sức mạng mang tính bản năng, dục tính và sự khoan dung.

Như vậy, có thể nói, xét một cách tổng thể, các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh thể hiện một khuynh hướng bền vững giải thể tính lưỡng phân trong cấu trúc ngữ nghĩa của tiểu thuyết để đạt đến sự phức tạp hóa của những cấu trúc nội tại. Theo hình dung của M.Bakhtin, đó chính là tính đa thanh của tiểu thuyết được tạo nên bởi sự cân bằng và đối thoại của những lập trường, những hệ thống giá trị và ý thức hệ. Nếu như trên bình diện ngữ nghĩa, tính đa thanh trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được tạo nên bởi sự phức tạp của hệ thống nhân vật, những hệ thống giá trị và những mâu thuẫn có tính nền tảng chi phối hành động nhân vật thì trên bình diện thi pháp, có nhiều con đường khác nhau trong việc tạo lập tính đa thanh đó. Quan sát từ Hồ Quý Ly đến Đội gạo lên chùa, có thể thấy một sự giao động giữa cấu trúc, tạm gọi là, “kiểu kịch” và cấu trúc “kiểu truyện kể thuần túy”. Lấy bối cảnh là thế giới cung đình và giới quý tộc, Hồ Quý Ly dày đặc các nhân vật tư tưởng, từ Hồ Nguyên Trừng, Hồ Quý Ly, đến Trần Thuận Tôn, Sử Văn Hoa. Tương ứng với kiểu nhân vật này, cấu trúc tiểu thuyết được tạo dựng, một phần quan trọng dựa trên những đối thoại và độc thoại. Cấu trúc “kiểu kịch” này được tiếp nối trong Mẫu Thượng ngàn, một tiểu thuyết cũng hết sức phong phú các nhân vật tư tưởng, từ Pierre, Philippe, nhà bác học René, cha cố Colombert, người Hoa kiều Lềnh cho đến những nhà Nho như ông Vũ Huy Tân, ông Cử Khiêm và cả những người thanh niên trẻ như Đinh Công Tuấn, Vũ Xuân Huy. Tuy nhiên, trong Mẫu Thượng ngàn, sự hiện diện của những người bình dân khiến cấu “nồng độ” của cấu trúc kiểu kịch như trong Hồ Quý Ly được làm nhạt bớt với những dòng chảy miên man của truyện kể. Đến Đội gạo lên chùa, cấu trúc truyện kể gần như thắng thế và lấn át cấu trúc “kiểu kịch” toàn bộ tiểu thuyết trở thành dòng chảy nối tiếp nhau, gối nhau của những truyện kể, giống như câu chuyện được kể bởi một người phụ nữ nông thôn mà sự xuất hiện của mỗi nhân vật lại có thể làm rẽ ngoặt sang một truyện kể mới. Đan xen vào đó là những đối thoại mang tính triết lý về đạo Phật, về chính trị và lý tưởng sống. Điều này bắt nguồn từ việc những nhân vật tiểu thuyết mang tính chất con người tư tưởng đậm nét nhất đều theo đuổi hoặc một thứ đạo Phật mang tinh thần nhập thế và hành động (theo kiểu Vô Úy hoặc theo kiểu Khoan Độ), một thứ triết lý tôn giáo được kết tinh trong những châm ngôn ngắn gọn, những ngụ ngôn và những thái độ hành xử, hoặc một thứ lý tưởng sống mang tinh thần dấn thân kiểu Vô Trần. Thêm vào đó Đội gạo lên chùa cũng là tiểu thuyết mà số lượng nhân vật có tính cách bình dân, nhân vật số phận – tính cách chiếm vị thế tràn ngập và lấn át kiểu nhân vật tư tưởng. Như vậy, có thể nói, bằng những con đường khác nhau, tính đa thanh đã được tạo nên trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, cả trên bình diện ngữ nghĩa lẫn bình diện thi pháp, dưới những hình thức hết sức đa dạng. Vấn đề cần được đặt ra là liệu đằng sau cấu trúc thi pháp phải chăng là một cấu trúc tư tưởng?

Đến cấu trúc tư tưởng

Nếu nhìn từ góc độ xã hội học văn bản (sociocritique)([2]) hiện tượng phân giải tính lưỡng phân về xung đột và hệ thống nhân vật cũng như sự gia tăng tính đa thanh về ngữ nghĩa cũng như về thi pháp của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh chính là một biểu hiện của hiện tượng phức tạp hóa về mặt ý thức hệ. Theo quan điểm xã hội học văn bản, bản thân các ý thức hệ cũng có dạng thức của những truyện kể (narration) bởi lẽ cũng minh giải sự vận động của thế giới bằng cách quy giản thành những xung đột cơ bản của hai tác nhân có tính đối lập (như kiểu quân tử – tiểu nhân hoặc vô sản – tư sản). Đặc trưng cấu trúc của ý thức hệ (idéologie) là những nhị phân có tính tuyệt đối bất khả hòa giải theo kiểu Tốt – Xấu, Thiện – Ác, Ta – Địch. Trong hình dung đó với tư cách là một sản phẩm chịu tác động của ý thức hệ, người viết trần thuật hư cấu cũng đứng trước lựa chọn hoặc là một diễn dịch mang tính minh họa ý thức hệ để tạo nên một diễn ngôn mang tính ý thức hệ (discours idéologique – điển hình được các nhà phê bình phương Tây lựa chọn là loại tiểu thuyết trinh thám về James Bond của Ian Fleming) hoặc tạo nên những diễn ngôn mang tính phi/ phản ý thức hệ (discours anti-idéologique mà điển hình được lựa chọn là Kẻ xa lạ của A.Camus hoặc Kẻ nhìn trộm của Alain Robbe Grillet). Sự đối lập giữa dạng thức thứ nhất và dạng thức thứ hai của tự sự chính là sự đối lập giữa tính phản tư và tính tất yếu, giữa đối thoại và độc thoại, giữa tính đa trị (ambivalence), hay nói cách khác, sự nhập nhằng, và tính lưỡng phân, tính nhị nguyên (dualisme). Trong nghiên cứu của mình, Pierre V.Zima, tác giả của giáo trình về xã hội học văn bản chỉ tính đến những điển hình mang tính cực đoan (đối lập giữa một bên là tiểu thuyết trinh thám, văn chương đại chúng của Ian Fleming và một bên là văn chương tiền phong của các tác giả Hiện sinh chủ nghĩa hoặc Tiểu thuyết mới) của hai dạng diễn ngôn nói trên. Trên thực tế, theo chúng tôi, giữa những biểu hiện có tính cực đoan đó có tồn tại những dạng thức mang tính trung gian mà tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là một điển hình.

Như đã trình bày trong những phần trên, trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, một số tuyến xung đột mang tính cơ bản vẫn được duy trì. Điển hình là xung đột mang tính dân tộc giữa người Việt Namvà người Pháp được thể hiện trong các tiểu thuyết Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa. Có thể nói đây cũng là yếu tố mang tính ý thức hệ bền vững và xuyên suốt trong cả ba tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh và ngay cả xung đột chính của Hồ Quý Ly, xét đến cùng, cũng là một xung đột liên quan đến vấn đề dân tộc. Đó là xung đột giữa những lời giải cho cùng một câu hỏi: điều gì là tốt cho dân tộc Việt? Tất nhiên, chồng lên trên xung đột đó, luôn là những xung đột khác liên quan đến quyền lực, dòng họ, tham vọng cá nhân… Như vậy có thể nói, tinh thần dân tộc chủ nghĩa chính là yếu tố mang tính ý thức hệ bền vững nhất, nằm ở “lõi” của các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh. Mối quan tâm của nhà tiểu thuyết chính là mối quan tâm liên quan đến những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa dân tộc (nationalisme): điều gì là tốt cho dân tộc này, đâu là con đường đi, là sức mạnh mang tính nền tảng của dân tộc, cái gì là bản sắc dân tộc, dân tộc tính, cấu trúc tư tưởng, tinh thần của dân tộc, bản lĩnh của dân tộc này sẽ được khẳng định như thế nào trong những đối đầu với cái ngoại lai cũng như với chính nhưng xung đột mang tính nội tại. Theo chúng tôi, đây chính “trục chính” về mặt tư tưởng của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh. Không phải là ngẫu nhiên trong Hồ Quý Ly cũng như trong Mẫu Thượng ngàn “dày đặc” những đối thoại xoay quanh chủ đề này: đối thoại giữa những kẻ làm nên lịch sử như Hồ Quý Ly và Trần Nghệ Tông, giữa những kẻ xâm lược cũ và mới như Julien hay người Hoa kiều Lềnh (một người đầy tớ già và nghiện thuốc phiện, cái bóng thảm hại của những kẻ đô hộ phương Bắc); đối thoại giữa những con người bị buộc phải tham gia vào lịch sử như Sử Văn Hoa, Hồ Nguyên Trừng, Trần Khát Chân hay ông Phủ Lễ, ông Vũ Huy Tân, Cử Khiêm và cả Đinh Công Tuấn, Vũ Xuân Huy. Nó được thể hiện dưới những tên gọi khác nhau như “vận nước” hay “hồn đất”. Nó được thể hiện qua tình yêu cháy bỏng của con người với Đất và Làng, qua hình ảnh đẫm máu cái chết của người địa chủ già tài hoa, bị treo trên ngọn cây, mắt dõi nhìn cái làng đã gắn bó với mình cả cuộc đời và ngực đón nhận những viên đạn của Tòa án nhân dân trong Cải cách ruộng đất.

Tất nhiên, hướng tiểu thuyết vào các vấn đề mang tính dân tộc chủ nghĩa không phải là yếu tố đặc biệt hoặc mới mẻ ở nhà văn này. Điều đáng lưu tâm là mối quan tâm đặc biệt của nhà văn đến những thời điểm mang tính tạo lập – lựa chọn, những giai đoạn có tính cách chuyển đổi của Quốc gia – Dân tộc. Thời điểm được tái hiện trong Hồ Quý Ly là thời điểm chuyển giao giữa hai triều đại, hai lựa chọn của dân tộc. Đó là tình thế khi mà một triều đại đã mất hết sức sống, không còn sản sinh ra được những con người kiệt xuất đủ để giữ vai trò dẫn dắt dân tộc như đã từng giữ trong quá khứ nhưng lại có “vốn xã hội” là uy tín của tổ tiên là những người lãnh đạo dân tộc đối đầu và chiến thắng những cuộc xâm lược của nước ngoài (lịch sử cho thấy đó là một thứ “vốn xã hội” đặc biệt có giá trị ở Việt Nam) trong khi đó một triều đại mới với khát vọng đem đến sự thay đổi và cường thịnh nhưng lại không có cội rễ trong xã hội và công cụ duy nhất là sức mạnh bạo lực và sự đàn áp. Đó cũng là sự lựa chọn giữa bảo thủ và canh tân, giữa một thứ Khổng giáo đề cao chữ Nhân kết hợp với một thứ Phật giáo mang màu sắc Thiền (mà đại diện là Trần Nghệ Tông và trên một phương diện, Trần Thuận Tôn) với một thứ Pháp gia đề cao thủ đoạn và sự thực tế (mà đại diện là Hồ Quý Ly). Giữa những sự lựa chọn ấy là những phản ứng mang tính trung dung, hoặc là những nghiền ngẫm trí thức của Hồ Nguyên Trừng (mang tính phê phán, cả với Trần Nghệ Tông lẫn Hồ Quý Ly), hoặc dưới dạng một xung năng bạo lực thuần túy, một phản ứng đòi quyền sống bằng bạo lực (cuộc khởi nghĩa của Phạm Sư Ôn, người thầy chùa).

Khác với Hồ Quý Ly lựa chọn một giai đoạn lịch sử đã lùi rất xa vào quá khứ, hai tiểu thuyết sau của Nguyễn Xuân Khánh lại lựa chọn tái hiện những thời điểm tương đối gần với thời hiện đại: giai đoạn Pháp thuộc. Tuy vậy, suy cho cùng, về bản chất, đó cũng vẫn là những thời đoạn có tính cách tạo lập – lựa chọn, đó là hai thời điểm quan trọng của Đông Dương thuộc Pháp, khi nền cai trị thực dân được thiết lập với những đồn điền được cấy ghép vào bên cạnh/ bên trên cơ cấu làng xã và thời điểm kết thúc của xứ thuộc địa với những đồn binh đối đầu với làn sóng Việt Minh. Trong Đội gạo lên chùa, chồng lên xung đột mang tính dân tộc giữa người Việt Nam và người Pháp còn là xung đột giữa văn minh phương Tây với khoa học, sức mạnh vật chất và tinh thần duy lý và văn minh phương Đông với tất cả sự huyền bí cổ truyền của mình cùng với sức mạnh tinh thần của những nhân cách bất khuất. Phương Đông xưa cũ có thể thất bại trong cuộc chiến tranh quân sự trước phương Tây nhưng đến lượt mình, chính những người phương Tây như nhà bác học René, nhà nghệ sĩ Pierre, thầy tu Colembert đều phải cúi mình trước một điều gì đó, một sức mạnh sâu thẳm của xứ sở này, sức mạnh mà họ không lý giải được nhưng lại có thể cảm nhận được. Thậm chí, ngay chính Philippe hay Julien, những kẻ chinh phục và cai trị, cách này hay cách khác, cuối cùng, cũng phải cúi mình trước sức mạnh đó. Trong cả Mẫu Thượng ngàn lẫn Đội gạo lên chùa, không gian của hư cấu gần như đều chỉ thu rút về một cái làng Bắc bộ, một cái làng cổ truyền nhưng cái làng đó giống như một mảnh đất mà những hạt giống văn minh – văn hóa sẽ được gieo cấy, sẽ bị thử thách, đào thải hoặc được thu nhận. Những kẻ chinh phục đến rồi đi. Cái thân phận là những “chú Khách” không chỉ là thân phận của người Hoa kiều già, dư đảng của Cờ đen mà rồi cũng sẽ là số phận của những kẻ như anh em nhà Messmer. Làng chiến thắng cái ngoại lai không phải bằng sức mạnh vũ lực mà bằng sức mạnh văn hóa của mình. Những đồn bốt cùng những đạo quân chinh phục đến rồi qua đi. Và cả những cái ấu trĩ, cái giản đơn đến ngây thơ (và cả tàn bạo) của một vài chính sách (như Cải cách ruộng đất) cũng sẽ bị văn hóa Làng gạn lọc bằng cái sức mạnh văn hóa nhân bản của mình. Làng đón nhận các tôn giáo. Thiên chúa giáo thâm nhập vào xứ sở này không phải chỉ qua ngôi nhà thờ được xây dựng trên nền của chùa Báo Ân đổ nát sau loạn lạc ở Hà Nội mà chính là qua ngôi nhà thờ làng được xây dựng nên bởi Cha Colembert, người nghệ sĩ Pierre và những giáo dân An Nam trong đó có cả những người như ông Trưởng Cam. Khổng giáo bám rễ sâu vào lịch sử của ViệtNam từ thời Hồ Quý Ly cho đến khi người Pháp xâm lược. Thậm chí qua sự tiếp nối âm thầm về thế hệ giữa những bậc cha ông của họ Vũ Xuân và nhà cách mạng trẻ Vũ Xuân Huy, Khổng giáo sẽ còn tiếp tục để lại ảnh hưởng trong văn hóa Việt. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, Khổng giáo hiện ra qua những nhân cách cao thượng và cứng cỏi như Sử Văn Hoa, như những sĩ phu Vũ Huy Tân, Phùng Khiêm trong giai đoạn đầu kháng Pháp, qua những nhà nho làng xã như cụ đồ Tiết, cụ Tú Cao. Những nhà Nho đạo Khổng có thể có những hành động “sát thân thành nhân” phi thường như cái chết mang tính cách tuẫn tiết của Sử Văn Hoa hay cụ Cử Khiêm nhưng khi được gieo trồng vào văn hóa làng, cái cực đoan, tính độc tôn và kỳ thị ngoại giáo của Khổng giáo bị kiềm chế vào đào thải. Những Nho sĩ của làng Cổ Đình cũng phải chung sống và “chung sống hòa bình” với đạo Mẫu và những tín ngưỡng có tính cách ma thuật, “thứ khoa học của vùng rừng núi” như lời Philippe. Làng giống như điểm hội tụ. Cuộc hành trình tôn giáo của người tu sĩ Vô Úy là cuộc hành trình từ núi thiêng Yên Tử trở về ngôi chùa làng, được chọn như nơi sống và chịu Nghiệp, để thực hành đúng cái triết lý “cư trần lạc đạo thả tùy duyên”.

Việc quay trở về với làng xã và văn hóa làng xã không phải là một tìm tòi mới. Mô tả làng như một xã hội thu nhỏ với chồng chéo những thứ quan hệ đặc biệt là quan hệ họ tộc, với đủ mọi loại người từ lớp “chính cư” đến lớp “ngụ cư”, từ ông tiên chỉ đến người mõ, từ những nhân cách cao thượng đến những loại người đê hạ. Ở phương diện đó, Nguyễn Xuân Khánh không làm được gì nhiều hơn những gì mà văn chương hiện thực phê phán trước Cách mạng đã làm cũng như không đi xa hơn được những nhà văn viết về nông thôn thời Đổi mới như Tạ Duy Anh, Nguyễn Khắc Trường, Ngô Ngọc Bội hay Đào Thắng([3]). Dẫu vậy, điểm đặc biệt ở Nguyễn Xuân Khánh chính là ông thấy được và chỉ ra được cái cơ chế tự điều chỉnh, tự kiềm chế của văn hóa làng, cái tinh thần khoan dung của làng xã. Con người ở làng không chỉ là con người của những thế lực chính trị, những hệ tư tưởng mà còn sống trong chồng chéo những mối quan hệ từ thầy trò đến gia tộc, dòng họ. Đó là chưa kể đến những quan hệ có tính phe phái (điều mà Nam Cao đã mô tả rất sinh động trong các truyện ngắn về nông thôn trước Cách mạng). Điều đó khiến cho mỗi hành động của một con người không chỉ là một hành động ý thức hệ. Và đó cũng chính là yếu tố nếu không phá vỡ thì cũng làm phức tạp hóa tính ý thức hệ trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Cụ Đồ Tiết là một nhà nho nhưng chính em trai của cụ lại là một thầy phù thủy sống trong ngôi chùa làng đổ nát và con gái lại là một người phụ nữ lấy chồng là người chủ đồn điền và cuối cùng sống phần đời còn lại trong điện thờ Mẫu của vùng. Lý Phượng hay Quản Mật là những kẻ hoặc phải chấp nhận sự cai trị Pháp, hoặc là tay sai của người Pháp nhưng lại là con của Chánh Long, một nhà Nho, chức sắc của làng, bạn thân của sư cụ Vô Úy. Xét trên một phương diện, Lý Cỏn và Trịnh Huyền ở hai phía đối lập về ý thức hệ, một bên chống Pháp, một bên phải chấp nhận và làm tay sai cho Pháp nhưng ở giữa họ lại là mối quan hệ thầy trò giữa Lý Cỏn và Đồ Tiết, cha của Trịnh Huyền. Chính vì vậy nên trong hành động của những con người này luôn có bị ràng buộc bởi những quan hệ chằng chịt đó. Bên cạnh đó, cũng không thể không kể đến một thứ sức mạnh kỳ lạ mang tính hòa giải: sức mạnh dục tính của những người đàn bà. Những người đàn bà trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh có vai trò hóa giải thù hận, chiến thắng bạo lực và trung hòa cái cực đoan mang tính ý thức hệ của những người đàn ông. Với tất cả những yếu tố đó, có thể nói tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là một sự trình hiện bằng hư cấu tiến trình cấu trúc dân tộc tính Việt Nam cả từ phía tầng lớp trí thức tinh hoa (Hồ Quý Ly) lẫn tầng lớp trí thức bình dân và đại chúng (Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa). Tiến trình đó được hình dung như là một tiến trình dung hợp – tiếp nhận, chọn lọc – đào thải những khuynh hướng mang tính ý thức hệ, tôn giáo và tư tưởng ngoại lai, là sự điều hòa trong tính đa dạng về lối sống và là một sự lắng đọng, tích tụ sau những đào thải. Đó là sự chung sống của Khổng giáo, Phật giáo và Thiên chúa giáo và sau đó, Chủ nghĩa Cộng sản kết hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu và những tính ngưỡng cổ sơ trong một tinh thần khoan dung và nhập thế. Những cái cực đoan, những triết lý trừu tượng và cả những huyễn tưởng bị đào thải mà thay vào đó là sự điều hòa, “phải chăng”, là tính thực tế và sự duy tình. Và ở dưới những lớp tôn giáo và tín ngưỡng là một dòng chảy cuồn cuộn của bản năng sống mạnh mẽ của dục tình.

Một dòng chảy khuất lấp

Như đã nói, trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, có một mối quan tâm đặc biệt đến những giai đoạn có tính cách tạo lâp – lựa chọn, những giai đoạn có tính cách chuyển đổi của lịch sử, xã hội và văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, với hai tiểu thuyết Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa, tính chất này lại được gắn với thời kì Pháp thuộc, giai đoạn mà người Việt Nam đối diện với chủ nghĩa thực dân phương Tây. Đặt trong phối cảnh rộng lớn của toàn bộ nền văn học, có thể nói, đây không phải là những lựa chọn duy nhất nhưng cũng không phải là những lựa chọn phổ biến. Ở đây, cần phải làm rõ hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất, kể từ 1986 đến nay, vấn đề bản sắc dân tộc, vấn đề đặc sắc văn hóa dân tộc luôn tồn tại trong toàn xã hội như một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của đời sống xã hội. Vấn đề đó được cụ thể hóa trong những đường lối văn hóa của Đảng lãnh đạo mà điển hình là khẩu hiệu: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Vấn đề này cũng được thiết chế hóa trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở bậc đại học qua hệ thống môn học về Cơ sở văn hóa Việt Nam (mà có lẽ, được khởi đầu bằng cuốn giáo trình gây nhiều tranh cãi và bê bối Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm), môn học hiện diện trong gần như hầu hết các trường Đại học của hệ thống giáo dục quốc dân, bên cạnh các môn khoa học Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề tái nhận thức về tính dân tộc, về bản sắc văn hóa dân tộc, đã là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tự sự về đề tài lịch sử trở thành một trong những bộ phận phát triển mạnh mẽ của văn chương Việt Nam đương đại. Tuy vậy, lại có thể thấy rằng người viết về đề tài lịch sử luôn phải chịu một tác động rất lớn từ phía dư luận xã hội và công chúng, từ phía “lẽ phải thông thường”, “cảm nghĩ thông thường”. Điều đó được biểu hiện qua những phản ứng, thường là mang tính phê phán mạnh mẽ từ phía công chúng và giới phê bình đối với các tác phẩm viết về đề tài danh nhân có những khía cạnh khác biệt hoặc trái ngược với hình dung thông thường về nhân vật lịch sử của công chúng. Không chỉ giới hạn trong những tranh luận về truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp thời kỳ đầu Đổi mới, những tranh luận này còn kéo dài cho đến tận gần đây với những tiểu thuyết viết về Nguyễn Trãi, Hải Thượng Lãn Ông (Vạn Xuân và Lãn Ông của Yveline Féray) hoặc gần đây hơn là Hội thề của Nguyễn Quang Thân. Chính điều này khiến cho người viết trần thuật về đề tài lịch sử thường chọn con đường thỏa hiệp với hình dung phổ biến về nhân vật lịch sử hơn là thay đổi hình dung đó và điều đó làm hạn chế tính phức tạp nội tại, tính tiểu thuyết của tác phẩm.

Từ một phía khác, cũng phải thấy rằng sự vận động của đề tài không thể tách rời khỏi những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Hệ quả trực tiếp của những chủ trương “đổi mới tư duy”, “nhìn thẳng vào sự thật” đã dẫn đến việc nhiều mảng hiện thực bị khuất lấp trong một thời gian dài của lịch sử hiện đại được tái xuất hiện và ít nhất tạo nên một sức hấp dẫn lớn đối với người sáng tác văn chương mà điển hình là đề tài Cải cách ruộng đất, Kháng chiến chống Mỹ và trên một phương diện nào đó, cả thời kì bao cấp. Điều này dẫn đến việc nhiều mảng đề tài khác có nguy cơ trở thành những “vùng đất bị lãng quên” của văn chương đương đại. Thời thuộc Pháp là một mảng đề tài như thế. Nhìn xa hơn vào trong lịch sử, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, hiện thực thời thuộc Pháp đã được trình hiện trong văn chương Việt Nam, cả trong thơ ca lẫn trong tự sự hư cấu như một giai đoạn đen tối của lịch sử dân tộc để đối lập với tính ưu việt và tốt đẹp của chế độ mới với công thức điển hình như trong thơ Nguyễn Đình Thi: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Đó cũng chính là logic khiến Nguyễn Công Hoan đặt tên cuốn tiểu thuyết về thời thuộc Pháp của mình là Đống rác cũ. Sự vận động của đề tài này suốt từ trong kháng chiến chống Pháp cho đến tận giai đoạn mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội đã củng cố cách hình dung đó. Và sau đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ với những vấn đề chính trị và văn hóa của nó. Và dường như hình dung về thời thuộc địa đã trở nên ổn định, “bất khả tư nghị”.

Nhưng trên thực tế, ngay sau Đổi mới, vẫn có một số nhà văn quay trở lại với đề tài này, theo cách này hay cách khác. Có thể kể đến Nỗi buồn chiến tranh và một số truyện ngắn của Bảo Ninh (La Mácxâye, Tiếng vĩ cầm của kẻ thù, Vô cùng xưa cũ) hoặc Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân. Các nhà văn này cũng có những lựa chọn tương đối giống Nguyễn Xuân Khánh: hướng vào những giai đoạn có tính tạo lập – chuyển đổi. Có điều, khác với Nguyễn Xuân Khánh, cách tiếp cận của họ đối với thời thuộc địa mang tính gián tiếp nhiều hơn là trực diện. Là một nhà văn của kháng chiến chống Mỹ, thời thuộc địa hiện diện trong tự sự hư cấu của Bảo Ninh qua hình ảnh của những con người, đặc biệt những văn nghệ sĩ tàn tích của chế độ cũ. Trong Nỗi buồn chiến tranh, đó là hình ảnh của cha và dượng nhân vật chính, người lính Kiên, một họa sĩ thời “Mỹ thuật Đông Dương” và một nhà thơ thời “tiền chiến” họ là những con người lạc thời và lạc loài, sống trong giai đoạn một chế độ mới và một xã hội mới được kiến tạo, bị lịch sử gạt ra ngoài lề trở thành những con người lạc thời và lạc loài và rồi biến mất không để lại dấu vết. Toàn bộ tranh của cha Kiên đã bị chính ông tiêu hủy trong một cơn xung động tâm lý kỳ lạ và sau chiến tranh, khi Kiên từ mặt trận trở về, sẽ không còn lại một chút nào dấu vết của ngôi nhà cũ, nơi dượng và mẹ anh từng sống. Đó chỉ là những con người chỉ hiện diện thoáng qua nhưng lại để lại những ám ảnh to lớn cho nhân vật.

So với Bảo Ninh, lựa chọn của Nguyễn Quang Thân trong Con ngựa Mãn Châu gần với Nguyễn Xuân Khánh hơn. Tiểu thuyết của ông lấy bối cảnh là một cái làng ở gần thành phố Vinh với thời gian hư cấu rút gọn trong khoảng chưa đầy một năm, từ nạn đói năm 1945 cho đến khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ nhưng đó lại là giai đoạn có ý nghĩa bản lề đặc biệt quan trọng: buổi hoàng hôn của thời thuộc địa và buổi bình minh của chế độ mới. Tương ứng với sự thu rút của không – thời gian, thế giới nhân vật cũng gần như chỉ tập trung xoay quanh một gia đình thuộc thành phần công chức – chủ trại. Tuy vậy, trái ngược với sự thu rút về không – thời gian và nhân vật là tham vọng của người viết tiểu thuyết: tái hiện lại tình thế phức tạp của lịch sử, sự tan vỡ của thuộc địa và sự kiến tạo của một thế giới mới. Từng con người sẽ có những con đường riêng của mình: người vợ, con một nhà Nho Duy tân lạc thời mang tinh thần lãng mạn và chất lý tưởng cố hữu lựa chọn đi theo cách mạng chỉ vì một nguyên nhân hết sức riêng tư và để rồi chết ngay trong những năm đầu chiến tranh; người chồng, ông Tham Chinh, một người trung lưu thành đạt điển hình của xã hội thuộc địa chọn con đường đi theo Quốc dân đảng dù nhận thức rõ cái mục nát của chính đảng này chỉ vì không thể chấp nhận nổi việc đứng cùng hàng ngũ với những người vô sản thất học và không thể chịu đựng nổi sự tan vỡ của xã hội đẳng cấp để cuối cùng lựa chọn cái chết bằng cách tự vẫn và người em, Huy, một thanh niên trí thức, từ bỏ tất cả, và chấp nhận bị mất tất cả, kể cả mối quan hệ vô cùng thiêng liêng với anh trai, để trở thành một người lãnh đạo Việt Minh ở địa phương và cuối cùng, tan biến trong những trận bão của lịch sử. So với cái nhìn mang tính tổng hợp, đồng thời hướng vào cả các phương diện văn hóa, tôn giáo và ý thức hệ của Nguyễn Xuân Khánh, cái nhìn của Nguyễn Quang Thân trong Con ngựa Mãn Châu mang nặng tính ý thức hệ. Dẫu vậy, cái nhìn đó không phải không để lại không ít điều phải suy nghĩ nơi người đọc, đặc biệt là lời tiên tri của người anh, trong đêm vĩnh biệt người em về số phận của người trí thức trong cơn bão của lịch sử.

Như vậy, có thể nói, dù không thuộc vào dòng chủ lưu của đời sống văn chương nhưng vẫn có một dòng chảy bị khuất lấp của sáng tác hướng về giai đoạn thuộc địa – thời Pháp thuộc – theo những cách nhìn khác nhau mà trong đó, Nguyễn Xuân Khánh là người thể hiện mối quan tâm một cách bền vững nhất. Hầu hết các tác giả thuộc khuynh hướng này đều không có khuynh hướng thay đổi tuyệt đối nhận thức về lịch sử theo hướng lật ngược lại mọi hệ giá trị đã được khẳng định. Với Nguyễn Xuân Khánh, điều đó được thể hiện qua việc duy trì đối kháng mang tính dân tộc giữa người ViệtNamvà người Pháp. Tuy vậy, trong nhận thức về giai đoạn này của những nhà văn như Nguyễn Xuân Khánh, Bảo Ninh hay Nguyễn Quang Thân đã có một sự phức tạp hóa. Thời thuộc địa được đặt trong phối cảnh của những tái suy tư về dân tộc tính, về bản sắc văn hóa dân tộc, về các giai đoạn lịch sử của dân tộc. Trong phối cảnh đó, thời thuộc địa, nói gì thì nói, vẫn là một giai đoạn phát triển mà người ta không thể chỉ đối xử một cách đơn giản bằng một sự phủ nhận “trọn gói”. Nó vẫn là một bước phát triển, dù đầy những dị dạng, vẫn để lại cho lịch sử dân tộc cho sự vận động của văn hóa và xã hội ViệtNamnhững giá trị nhất định: chủ nghĩa cá nhân, tự do, tinh thần bình đẳng, văn hóa phương Tây,… Thậm chí sau những xáo trộn lịch sử của những thay đổi xã hội và những cuộc chiến tranh, đến một lúc, người ta sẽ nhận thấy không ít những giá trị của thời thuộc địa lại trở nên cần thiết với xã hội đương đại. Đó chính là cái điều ám ảnh của Kiên khi nhớ về cha anh, một người đã tiên tri thấy những khủng khiếp hủy diệt cái Đẹp đang sắp diễn ra, về dượng anh, một người đã tiễn anh đi bộ đội bằng lời khuyên phải sống để trải nghiệm. Tất nhiên, trong khuynh hướng đó cũng như trong một khuynh hướng rộng hơn, tái diễn dịch bản sắc văn hóa dân tộc, dân tộc tính, không phải không hình thành nên những “cliché”, những công thức mới kiểu như khuynh hướng đề cao nữ tính, cái đẹp phồn thực, khuynh hướng Phật giáo thế tục trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Nhưng, sự xuất hiện của những “cliché” đó không ngăn cản việc thời thuộc địa, có lẽ sẽ tiếp tục còn là một chủ đề suy tư hấp dẫn của văn chương.

Trong một cái nhìn rộng lớn hơn, bằng cách này hay cách khác, những giá trị của thời thuộc địa vẫn tiếp tục tái xuất hiện và hiện diện trong đời sống. Kiến trúc “kiểu Pháp”, âm nhạc và văn chương “tiền chiến”, hội họa “Mỹ thuật Đông Dương”, … và rất nhiều giá trị khác nữa, những thức một thời bị coi như những cấm kỵ, hoặc lặng lẽ, hoặc ồn ào (thậm chí quá lố, như trường hợp của căn bệnh sùng bái “biệt thự kiểu Pháp” của lớp thị dân mới nổi) quay trở lại, được xã hội thừa nhận, thậm chí nhiều khi coi như những chuẩn mực. Quá khứ giống như bóng ma trong Hăm lét vẫn không thôi ám ảnh con người hiện tại./.

[1] Trần Đình Hượu, “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc”, [Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, s.1/1986], trong Nhiều tác giả, Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa, Hồ Sĩ Vịnh chủ biên, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật xuất bản, H., 1993, tr.39

[2] Về xã hội học văn bản, có thể xem thêm Pierre V.Zima, Giáo trình phê bình xã hội học (Manuel de Sociocritique), Picard, Paris, 1985. Trong giáo trình này, ngay trong phần mở đầu, tác giả định nghĩa hai khái niệm phê bình xã hội học (sociocritque) và xã hội học văn bản (sociologie du texte) là những khái niệm đồng nghĩa và việc lựa chọn khái niệm phê bình xã hội học trong số nhiều khái niệm khác chỉ là lựa chọn một cách định danh ngắn gọn hơn cụm từ xã hội học văn bản.

[3] Ở điêm này cũng phải ghi nhận một khuynh hướng quay trở lại với bút pháp hiện thực phong tục trước Cách mạng của nhiều nhà văn trong giai đoạn đầu Đổi mới mà điển hình là Nguyễn Khắc Trường hay Đào Thắng.

Nguồn: Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh, Nxb. Phụ nữ – Viện Văn học, 2012

Leave a Reply