Nhà lý luận Tzvetan Todorov


Trần Huyền Sâm soạn

Tzvetan Todorov là một sử gia, lý luận gia có tầm ảnh hưởng rộng lớn ở châu Âu. Sinh tại Bulgarie 1939, trong một gia đình thủ thư. Tốt nghiệp Đại học Sofia năm 1962, sang Pháp 1963 và định cư cho đến nay.

Tzvetan Todorov từng là chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ – nghệ thuật thuộc CNRS. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng quan trọng như:  giải Hàn lâm khoa học, đạo lí và chính trị, giải Hàn lâm Pháp, giải châu Âu, giải Hoàng gia Asturies.

Đóng góp của ông về  lĩnh vực nghiên cứu văn học gồm có:

– Thành lập cùng với Gérard Genette tạp chí Poétique (Thi Pháp)  năm 1970. Một chuyên san đặc biệt của khoa nghiên cứu  văn học

– Đề xuất khái niệm narratologie, hay tự sự học, và góp phần xác lập phân môn nghiên cứu này,

– Chuyển dịch một cách có hệ thống thuyết Hình thức Nga sang Pháp và góp phần làm thay đổi căn bản môi trường nghiên cứu văn học của Pháp thập niên 60, 70, 80 thế kỉ trước…

Tác phẩm chính:

L’esprit des Lumières (Tinh thần Ánh sáng), Robert Laffont, 2006.

– Les Aventuriers de l’absolu (Những kẻ đi tìm tuyệt đối), Robert Laffont, 2006.

 Le nouveau désordre mondial. Réflexions d’un Européen (Xáo trộn mới trên hoàn cầu. Suy ngẫm của một kẻ châu Âu), Robert Laffont, 2003; Livre de poche, 2005.

– Devoirs et Délices. Une vie de passeur. Entretien avec Catherine Portevin (Bổn phận và khoái lạc. Một đời truyền đạt. Nói chuyện với Cathérine Portevin), Seuil, 2002; Points, 2006.

– Germaine Tillion. Avec Christian Bromberger (Germaine Tillion. Viết với Christian Bromberger), Actes Sud, 2002.

– Montaigne ou la découverte de l’individu (Montaigne hay là phát hiện cá nhân con người), La Renaissance du livre, 2001.

– Eloge de l’individu. Essai sur la peinture flamande de la renaissance (Tôn vinh con người. Luận về hội họa xứ Flandres thời phục hưng), A.Biro, 2000; Points, 2004.

– Mémoire du mal, Tentation du bien (Hoài niệm về cái ác và sự quyến rũ của cái thiện ), Robert Laffont, 2000; Livre de poche, 2002.

– Le Jardin imparfait. La pensée humaniste en France (Khu vườn không hoàn hảo. Tư tưởng nhân bản ở Pháp), Grasset, 1998; Livre de poche, 2000)

– Benjamin Constant: la passion démocratique (Benjamin Constant: đắm say dân chủ, 1), Hachette Littératures 997; Livre de poche, 2004.

– L’Homme dépaysé (Con người lạ nước lạ cái)Seuil, 1996.

– Les Abus de la mémoire (Kí ức nhũng loạn), Arléa, 1995; Arléa Poche, 1998.

-La Vie commune (Sống chung), Seuil, 1995; Points, 2003.

Une tragédie française (Một bi kịch Pháp), Seuil, 1994; Points 2004.

– Eloge du quotidien. Essai sur la peinture hollandaise du XVIIè siècle (Tôn vinh cuộc sống hằng ngày), A.Biro, 1993; Points, 1997.

– Face à l’extrême (Đối diện với cực hình), Seuil, 1991; Points, 1994.

– Les Morales de l’Histoire (Những Bài học của Lịch sử), Grasset, 1991; Hachette littératures, Pluriel 1997.

-Nous et les autres (Chúng ta và kẻ khác)Seuil, 1989; Points, 1992.

– Frêle Bonheur, essai sur Rousseau (Hạnh phúc mỏng manh, luận về Rousseau), Hachette Littératures, 1985.

– Critique de la critique (Phê bình của phê bình), Seuil, 1984.

– La conquête de l’Amérique (Cuộc chinh phục châu Mỹ)Seuil, 1982; Points, 1991.

– Mikhail Bakhtine, le principe dialogique (Nguyên tắc đối thoại), Seuil, 1981.

– Symbolisme et Interprétation (Tượng trưng và diễn dịch), Seuil, 1978.

– Les Genres du discours (Các loại diễn ngôn), Seuil, 1978.

– Théorie du symbole (Lý thuyết của biểu tượng), Seuil, 1977; Points, 1985.

– Dictionnaire encyclopédique des sciences du langage – avec Oswald Ducrot (Từ vựng bách khoa khoa học ngôn ngữ – viết với Oswald Ducrot), Seuil, 1972 ; Seuil, 1978.

– Poétique de la prose (Thi pháp văn xuôi), Seuil, 1971; Points, 1980.

– Introduction à la littérature fantastique (Dẫn luận về văn chương kỳ ảo),  Seuil, 1970; Points, 1976.

– Grammaire du “Décameron” (Ngữ pháp của “Truyện mười ngày”), La Haye, Mouton, 1969.

– Poétique (Thi pháp), Seuil, 1968; Points, 1973.

– Littérature et signification (Văn học và ý nghĩa), Larousse, 1967.

– Ouvrages collectifs ou publiés sous la direction Marina Tsvetaeva, Vivre dans le feu. Confessions (Tác phẩm viết chung hay xuất bản dưới sự chủ biên của Marina Tsvetaeva,  Sống trong màn lửa. Tự thú), Robert Laffont, 2005.

– La fragilité du bien. Le sauvetage des juifs bulgares (Mong manh trắc ẩn. Giải cứu dân do thái Bulgarie), Albin Michel, 1999.

– Théorie de la littérature. Textes des Formalistes russes (Lý luận văn học. Những văn bản của các nhà Hình thức Nga), Seuil, 1965; Points, 2001.

-La littérature en péril (Văn chương lâm nguy),  Flammarion 2007

– La Peur des barbares. Au-delà du choc des civilisations ( Nỗi sợ hãi sự dã man. Bên kia cú sốc của nền văn minh),  Paris, Robert Laffont, 2008

Georges Jeanclos, Galerie Capazza et Biro & Cohen éditeurs, 2011

*   *

*

1. Tzvetan Todorov có một vị trí đặc biệt đối với văn học Pháp và thế giới. Tuy là đồ đệ của Roland Barthes, bạn thân của Gérard Genette, và là thành viên kì cựu của thuyết cấu trúc vào những thập niên 60, 70 thế kỉ trước ở Pháp, nhưng quan điểm mỹ học và hệ thống lý luận của ông hêt sức độc lập.

Không xem lý thuyết là một ngọn “lửa rơm” như Barthes, cũng không chỉ say mê trong các « hình thái” như Gérard Genette, với Tzvetan Todorov, lý luận là một khu vườn không bao giờ hoàn hảo, và mọi lý thuyết vẫn là lý thuyết hữu dụng, khi nó có khả năng giúp chúng ta khám phá chiều sâu nhân văn trong tác phẩm.

Ông luôn luôn có ý thức chống lại thái độ tuyệt đối hoá trong nghiên cứu khoa học (Đối diện với cực đoan, 1991). Không sùng bái các trường phái cổ điển, cũng không chạy theo các trường phái cách tân; song hành với những khám phá có tính đột biến, ông luôn làm mới lại các lý thuyết truyền thống (Thi pháp văn xuôi, 1971; Phê bình của sự phê bình, 1984). Đặc biệt, lý thuyết của ông luôn gắn với những suy tư về thân phận con người trước những biến động và hỗn loạn của xã hội châu Âu. Hơn 30 công trình nghiên cứu của ông trên các lĩnh vực khác nhau về văn học, lịch sử, xã hội … đều hướng đến tinh thần ấy: Cuộc chinh phục châu Mỹ (1982), Khu vườn chưa hoàn hảo (1998), Sự mong manh của đạo đức (1999), Hoài niệm cái ác và sự quyến rũ của cái thiện (2000), Bổn phận và khoái lạc (2002), Hỗn loạn trên hoàn cầu (2003), Những kẻ Tuyệt Đối (2006)…

2. Giới lý luận Pháp tiếp đón Tzvetan Todorov nồng nhiệt bởi nhiều lý do, nhưng trên hết, là vì ông có công đưa lý thuyết của Trường phái hình thức Nga vào môi trường văn học Pháp và, cùng với thuyết cấu trúc, góp phần làm thay đổi căn bản hướng nghiên cứu lịch sử, sang khuynh hướng nghiên cứu hình thức văn bản ở thập niên 60 (Lý luận văn học, Những văn bản của các nhà  hình thức Nga, 1966). Ông chính là người giúp độc giả Pháp thấu triệt lý thuyết đối thoại của M. Bakhtin, qua công trình nổi tiếng M. Bakhtin – Nguyên tắc đối thoại, 1981. Hiện nay, các công trình lý luận của Todorov vẫn đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu ở các trường Đại học Paris.

3. Là một nhà tư tưởng, sống và chứng kiến những biến động của châu Âu, Tzvetan Todorov luôn suy tư về thân phận con người trước những đổ nát của nhân loại. Các tác phẩm về chủ đề mỹ học, đạo đức và lịch sử đã được công chúng Pháp quan tâm như:  Nỗi sợ hãi sự dã man. Bên kia cú sốc của nền văn minh. Đặc biệt cuốnHoài niệm về cái ác và sự cám dỗ của cái thiện đã trở thành cuốn sách bỏ túi của nhiều giới.

Hiện ông chuyên tâm nghiên cứu theo hướng mỹ học và lịch sử – xã hội. Hình như ông đang hoài nghi các thành quả mà mình đã từng dấn thân sôi nổi hồi thập niên 60, 70, 80  thế kỉ trước?

Nguồn: Lời nói đầuVăn chương lâm nguy. Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nxb. Văn học, 2011 (Trần Huyền Sâm và Đan Thanh dịch, Trần Thiện Đạo hiệu đính). 

Leave a Reply