Nhân đọc bài “Góp bàn về mấy chữ có liên quan đến bài thơ Nam quốc sơn hà” của Lại Văn Hùng


Lê Văn Quán

1. Lại Văn Hùng (LVH) tác giả bài viết này cho tôi là: “đã cố ý trích văn của PGS. Bùi Duy Tân theo kiểu: ‘gọt chân cho vừa giầy’. Điều đó không khỏi làm cho người đọc hiểu lầm sai mạch văn và lập luận của PGS. Bùi Duy Tân. Kiểu trích dẫn làm méo mó văn của người khác như vậy để phê phán, theo chúng tôi nghĩ có lẽ nên chấm dứt.” (3, tr.73).

Thế thì, chính LVH dẫn đoạn văn của PGS. Bùi Duy Tân mà tôi sử dụng ở bài ‘Bàn về hai chữ ‘Thiên thư’ trong bài thơ Nam quốc sơn hà” in ở Tạp chí Hán Nôm, số 2(69)-2005 cũng là theo kiểu “gọt chân cho vừa giầy”, “làm méo mó văn của người khác”, làm cho bạn đọc hiểu lầm về tôi.

Bài của tôi viết ở Tạp chí Hán Nôm, số 2(69)-2005, chẳng có xuyên tạc ý văn của PGS. Bùi Duy Tân, và cũng chẳng làm cho người đọc hiểu sai mạch văn, lập luận của PGS. Bùi Duy Tân. Tôi viết bài này là để chứng minh cho bạn đọc thấy các nhà Nho Việt Nam không phải thực dụng như PGS. Bùi Duy Tân đã viết: “Nhân sĩ thời Ngô, Đinh, Lê, Lí lấy trời hộ mệnh cho ý thức tự chủ của người thiêng hóa độc lập, chủ quyền, sát hợp với tâm thức người đời, lời thơ như mang sứ mạng của trời đất, ngân vang của thần thánh, xứng đáng là bước thăng hoa của tư tưởng Việt Nho.” (TCHN 2/05, tr.69). Vì thế, tôi lược bớt những câu PGS. Bùi Duy Tân nói đến “mớ” lí luận của Khổng Nho. Những chỗ tôi lược bớt đều có ba chấm (…), và có ghi lại số trang ở phần chú thích phía sau, để các bạn cần đọc, tra xét lại.

Nhưng khi viết về bài viết của tôi, LVH đã cắt xén bỏ hẳn câu của PGS. Bùi Duy Tân mà tôi đã trình bầy ở trên, không hề có chấm chấm (…) gì cả, để bạn đọc hiểu lầm về tôi và bào chữa cho lập luận của PGS. Bùi Duy Tân.

Nếu là người có thực tâm, thì LVH nên viết đầy đủ đoạn văn đó như sau: “Bài thơ cả quyết quyền ngự trị sông núi nước Nam là của vua Nam. Dám khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Nam nhỏ bé bên cạnh nước Bắc to lớn như thế chỉ có thể là Trời. Trời ở đây ẩn trênthiên thư, nhưng cũng có hàng chục văn bản có từ Hoàng thiên ở đầu câu thứ hai (Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư). Trời theo Khổng Nho là vô hình, linh diệu, chủ tể của vũ trụ, lấy thiên mệnh, thiên lí, thiên ý, thiên uy điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định phận số cho muôn loài. Trời và người là “tương dữ”, “hợp nhất”, “thông đạt”. Trời nhìn nghe qua dân nhìn dân nghe, Trời thương dân, dân muốn là trời muốn… Vua thay trời trị dân thống nhất thiên ý dân tâm – Vua trị dân theo ý trời thì yên ổn, được mùa, trái ý trời thì ra tai, trời nổi can qua v.v… Cả mớ lí luận về Trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ Thiên mệnh, được người Việt tiếp biến theo quan niệm “thực dụng”, chỉ cốt làm rõ: Nước Nam là của vua / người Nam, đó là ý Trời, kẻ nào xâm lược nước Nam là trái nghịch ý Trời, là chống lại xu thế phát triển của lịch sử, tất sẽ bại vong. Nhân sĩ thời Ngô, Đinh, Lê, Lí, lấy trời hộ mệnh cho ý thức tự chủ của Người; thiêng hóa độc lập, chủ quyền, sát hợp với tâm thức người đời, lời thơ như mang sứ mạng của đất trời, ngân vang của thần thánh, xứng đáng là bước thăng hoa của tư tưởng Việt Nho” (4, tr.19).

Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy những chỗ PGS. Bùi Duy Tân lập luận: Từ chủ quyền lãnh thổ cho đến nước Nam là của vua/ người Nam đều là ý trời. Thậm chí ý thức tự chủ của người Nam cũng là do trời hộ mệnh. Nghĩa là trời, đất, người nước Nam đều là do trời chi phối hết.

Ngoài ra, nếu đọc thêm những câu PGS. Bùi Duy Tân khái quát lí luận của Khổng Nho về trời lại càng thấy trời là siêu nhân, “điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định phận số muôn loài.” Như thế, chúng ta càng thấy ý nghĩa của cả đoạn văn trên là trời quyết định tất thảy mọi sự việc ở đời. Điều đó thể hiện tôi không “làm cho người đọc hiểu sai mạch văn và lập luận của PGS. Bùi Duy Tân như LVH đã viết (3, tr.73).

2. Từ 分 野 này phiên âm Hán Việt là “phân dã” hay “phận dã”?

Trước hết, nói về âm đọc của chữ 分 Chữ này theo ý kiến của LVH “có hai cách đọc là “phân” và “phận”. Đó là LVH dựa vào Hán ngữ đại từ điển do các tác giả Trung Quốc biên soạn.

Tôi căn cứ theo Từ điển Hán Việt của các tác giả Việt Nam biên soạn, chữ 分 này có ba cách đọc:

– Đọc “phân” có nghĩa là: chia ra, chia riêng ra.

– Đọc “phận” có nghĩa là: chức vị của người.

– Đọc “phần” có nghĩa là: một góc ở trong toàn thể. (5, tr.106-109).

Qua đó, ta thấy các nhà Nho Việt Nam tiếp thu Hán học một cách có sáng tạo cho phù hợp với lối nói của người Việt Nam. Chứ không phải như LVH nghĩ, ở Hán ngữ có hai âm đọc khi chuyển sang Hán Việt cũng có hai âm đọc.

Thế thì, từ 分 野 này nên đọc như thế nào?

Trong tay tôi không có Hán ngữ đại từ điển, nhưng một bạn ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã photocopy phần từ 分 trình bày trong Hán ngữ đại từ điển cho tôi. Trước khi phiên âm từ 分 野 này theo cách đọc Hán Việt, tôi đã tra cứu các từ điển sau:

  • Thiều Chửu: Hán Việt tự điển, Nxb. Văn hóa – thông tin, 1999, tr.632 viết: “野 dã: cõi, người ngày xưa chia vạch bờ cõi, theo đúng như các vì sao, nên gọi là phân dã 分 野 .”
  • Trần Văn Chánh: Từ điển Hán Việt, Hán ngữ cổ đại và hiện đại,Nxb. Trẻ, 2004, tr.259 viết: “分 野 phân dã [fēn yě] – giới hạn.”
  • · Từ hải, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, năm 1989, trang 310 ghi hai cách đọc của chữ 分 theo âm phổ thông Trung Quốc (âm Bắc Kinh):

分 (1) fēn (thanh 1, âm Hán Việt đọc là phân – LVQ).
(2) fèn (thanh 4, âm Hán Việt đọc là phận và phần – LVQ).

Đến phần dẫn các từ thì từ nào đọc thanh 4, Từ hải ghi thêm âm đọc “fèn” ở bên phải từ ấy, như 分 外 (fèn – ) (tr.310), 分 际 (fèn – ) (tr.311). Nếu một từ có hai cách đọc, Từ hải giải thích nghĩa của từ có cách đọc ở thanh 1 trước, tiếp đó ghi thanh 4 (fèn – ) rồi mới giải thích nghĩa của từ đó, như từ 分 子 phân tử, 分 子 (fèn – ) phần tử. (tr.310). Còn chữ 分 trong từ 分 野 (tr.311) không có âm đọc ở thanh 4. Như vậy, chữ 分 ở đây đọc thanh 1, âm đọc Hán Việt là “phân”, và từ 分 野 này có âm đọc Hán Việt là “phân dã”. Sau đó Từ hải giải thích nghĩa của từ “分 野 phân dã” khá rõ. Chúng tôi tạm lược thuật nghĩa của từ đó như sau: Một khái niệm trong Chiêm tinh của Trung Quốc cổ đại cho rằng trên mặt đất các châu, quận, bang, quốc đối ứng với khu vực nhất định trên trời. Có lẽ khởi nguồn ở thời Xuân thu Chiến quốc, rất sớm đã thấy ở các sách Tả truyện, Quốc ngữ v.v… Cái điều phân chia ranh giới (phân chia bờ cõi), phản ánh đại thể lấy “thập nhị thứ làm chuẩn”(1), đã in câu chuyện sớm nhất Vũ Vương đánh Trụ, tượng trời của trời đó là Tuế tinh tại thuần hỏa, do đó (分 野 ) phạm vi (bờ cõi) của nhà Chu là thuần hỏa.

Về sau, Chiến quốc cũng lấy nhị thập bát tú để (劃 分 分 野) phân vạch phạm vi (ranh giới, bờ cõi), như ở Hoài Nam tử, thiên Văn huấnv.v…

Sau này lại do “Thập nhị thứ” cùng “Nhị thập bát tú” liên hệ với nhau, sau thời Tây Hán hai loại (分 野 ) phân chia ranh giới, phạm vi, bờ cõi nhịp nhàng ăn khớp thông nhau. Điều gọi là quan hệ đối ứng giữa trời đất hoàn toàn do người qui định, các nhà lịch sử thêm bớt khác nhau là điều tất nhiên. Nay lấy “Thập nhị thứ độ số” và “Châu, quận, quốc thứ” ở trong Tấn thư, thiên Văn chí lập thành bảng như sau:

 

Thập nhị
thứ
壽 星
Thọ tinh
大 火
Đại
hỏa
析 木
Tích mộc
星 紀
Tinh
kỉ
玄 枵
Huyền hiêu
娶 訾
Thú Tí (Tì)
降 婁
Hàng (Giáng)
Lâu
大 梁
Đại lương
實忱
Thwcj thầm
鶉 首
Thuần thủ
鶉 火
Thuần hóa
鶉 尾
Thuần vĩ
Nhị thập bát tú 角亢氐
Giác, Kháng, Đê
房心
Phòng, Tâm
尾箕
Vĩ, Ky (Cơ)
斗牛女
Đẩu Ngưu, Nữ
虛危
Hư, Nguy
室壁
Thất, Bích
奎婁胃
Khuê Lâu
Vị
昂 畢
Ngang Tất
觜 參
Tuy Sâm
井 鬼
Tỉnh, Quỷ
柳星張
Liễu, Tinh Trương
翼 軫
Dực, Chẩn

Phân


Trịnh

Tống

Yến
吳越
Ngô, Việt

Tề

Vệ

Lỗ

Triệu

Ngụy

Tần

Chu

Sở
兗 州
Duyễn
Châu
豫 州
Dù Châu
幽 州
U Châu
揚 州
Dương Châu
青 州
Thanh Châu
井 州
Tỉnh Châu
徐 州
Từ Châu
翼 州
Dùc Châu
益 州
Ých Châu
雍 州
Ung Châu
三 河
Tam hà
荊 州
Kinh Châu
  • Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán, năm 1987, bộ đao, tập tý, trang 339 cho biết:

分 : 1. Thanh bằng, âm phổ thông Trung Quốc đọc “fēn”.
2. Thanh khứ, âm phổ thông Trung Quốc đọc “fèn”(2).

Tiếp đến phần từ, từ nào thuộc thanh khứ, Từ nguyên ghi thêm số 2 vào bên phải chữ 分 , giống như Hán ngữ đại từ điển, ví dụ các từ: 分2子 (tr.339) 分2外 (tr.340), 分2际 (tr.341)……

Còn từ 分 野 này (tr.341) không có ghi số 2 ở bên phải chữ 分. Điều đó chứng tỏ chữ 分 này đọc thanh bằng, và từ 分 野 này đọc âm Hán Việt là “phân dã”, nghĩa của từ 分 野 (phân dã) giống như trong Từ hải, mà chúng tôi đã trình bầy ở trên, cũng là học thuyết Thiên văn cổ đem vị trí của 12 sao đối ứng với vị trí của châu, quốc ở trên mặt đất.

  • Khang Hy tự điển, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, tập Tý, bộ Đao, tr.72 chỉ giải thích âm đọc và nghĩa của chữ, không có phần dẫn từ, cho nên không ghi từ 分 野 này.

Tôi lại tra thêm các từ điển Hán Việt hiện đại, như quyển của Nguyễn Kim Thản chủ biên, Nxb. Thế giới, 1994; quyển Từ điển Trung Việt,Nxb. KHXH, H. 2001; quyển Từ điển Hán Việt do Hầu Hàn Giang, Mạch Vĩ Lương chủ biên, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh – 1997. Tất cả các từ điển vừa kể trên đều ghi từ này là: “分 野 fēn yě”, đọc thanh 1 (thanh bằng – LVQ) với nghĩa là “ranh giới, giới hạn”.

Nhưng LVH căn cứ vào Hán ngữ đại từ điển cho rằng tổ hợp từ 分 野 này đọc là “phận dã”. Một số bạn ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm khi nghe biết điều đó, liền nhắc tôi tra thêm Trung văn đại từ điển. vìTrung văn đại từ điển cũng nhiều chữ Hán lắm, không kém gì Hán ngữ đại từ điển. Tôi tra cứu thêm Trung văn đại từ điển, Trung Hoa dân quốc ngũ thập niên tứ nguyệt sơ bản, tập Tý, bộ Đao, tr.242, bên cạnh từ 分 野 không có ghi chú âm đọc thanh khứ.

Bài viết của LVH dựa vào Hán ngữ đại từ điển, phiên âm từ 分2野 là “phận dã” cũng chỉ là suy đoán, không có gì chắc chắn. Và LVH cho là “nếu phiên “phân dã” thì ý nghĩa khác hẳn chữ không liên quan gì đến việc phân chia bờ cõi”. (3, tr.74).

Nhưng Hán ngữ đại từ điển không ghi âm đọc Hán Việt, mà ghi theo âm của người Trung Quốc đọc chữ Hán. Nhất là chữ 分 đọc thanh khứ, ghi theo âm đọc phổ thông Trung Quốc là “分fèn” chuyển sang âm đọc Hán Việt không nhất luật đều đọc thanh khứ là “phận”, nó còn có thể đọc ở thanh bằng “phần”, mới nhìn chúng ta tưởng có âm đọc khác nhau là do nghĩa của từ. Trái lại, các nhà Hán ngữ học Trung Quốc đã chứng minh tiếng Hán ở thời thượng cổ chưa có thanh khứ. Chữ Hán đọc thanh khứ ở thời trung cổ có hai nguồn gốc: Một là từ thanh nhập biến ra; hai là từ thanh bằng và thanh thượng biến ra. (6, tr.102).

Qua đó, ta thấy từ 分2野 đâu chỉ có đọc là “phận dã”, huống hồ Từ hải, Từ nguyên chỉ có ghi một âm đọc ở thanh bằng với nghĩa là “phân chia ranh giới, giới hạn, bờ cõi.” Thậm chí, Từ hải còn lập bảng vị trí các ngôi sao trên trời đối ứng với vị trí các châu, quận, quốc ở dưới đất mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên giống như cái bảng ở Hán ngữ đại từ điển (tr.984) đưa ra thì không thể nói “分 野 phân dã” có nghĩa khác với “phận dã”.

Chính vì những lẽ đã trình bày trên, đến lúc này tôi vẫn theo cách phiên âm Hán Việt và chú giải nghĩa của bậc túc Nho Thiều Chửu và các tác giả Việt Nam biên soạn từ điển Hán Việt – phiên âm đọc từ 分 野 này là “phân dã” với nghĩa là: ranh giới, giới hạn, bờ cõi. Nói như vậy không có nghĩa tôi bảo thủ, mà là có đầy đủ luận chứng khoa học như đã trình bày ở trên.

LVH còn nói là “Câu thứ hai của bài Nam quốc sơn hà đã được đọc là”:

“Tiệt nhiên phận định tại thiên thư”

Câu này có thể ở một vài tác giả nào đó viết ở đâu đó như thế, nhưng không được lưu truyền thông dụng trong dân chúng. Còn ở trong các sử sách, như Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1971; Thơ văn Lí Trần, tập I, Nxb. KHXH, H. 1977; và gần đây trong quyển Lịch sử Việt Nam, Nxb, Thuận Hóa, năm 2004, của tác giả Huỳnh Công Bá đều vẫn viết là:

“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.”

Tôi cũng chưa hề thấy tác giả nào viết là “định phân”, nhưng LVH viết: “Dễ thấy là trong trường hợp ấy, không thể nào đọc là “định phân” được”. (3, tr.74). Một câu nói vu vơ bâng quơ, với dụng ý gì ?

3. LVH nói: “Vậy thì cái quyết định “phận dã” (cách quy định phận giới, địa phận) ấy là do đâu? Rõ ràng là ở “thiên thư” – ở Trời, chỉ có uy Trời, qua “Thiên thư” mới định được “phận”. (3, tr.74). Thế thì, tôi hỏi LVH “uy Trời” ở đây là ai ? là cái gì ? lại có thể “điều phối” biến hóa việc thế gian, quyết định phận số muôn loài.” – Chẳng phải cái “uy Trời” ấy là giai cấp thống trị phong kiến Trung Hoa đấy ư ?

Học thuyết Khổng Nho (Nho giáo) rất phù hợp với yêu cầu của chế độ phong kiến Trung Hoa. Giai cấp thống trị phong kiến Trung Hoa sử dụng học thuyết ấy như là một công cụ để biện hộ cho địa vị thống trị của mình, và duy trì trật tự xã hội phong kiến, nghĩa là giai cấp phong kiến Trung Hoa đã chính trị hoá Nho giáo. Đúng như GS. Nguyễn Khánh Toàn đã phát biểu: “Chế độ ấy hoàn toàn hủy diệt giá trị của con người. Nó kết hợp độc ác, tàn nhẫn thú tính với quỷ quyệt, xảo trá, lật lọng được thần thánh hóa dưới cái áo khoác huyền hoặc “theo mệnh trời” (7, tr.14). Với học thuyết Khổng Nho như thế, các nhân sĩ, các nhà Nho Việt Nam thời đó “tiếp biến” một cách “thực dụng” như thế không”?

Nhất là, bài thơ Nam quốc sơn hà sau khi ra đời lại được người đời gắn với truyền thuyết dân gian, chứa nhiều yếu tố tưởng tượng, huyền ảo, nhằm thần linh hoá nhân vật. Bài thơ xuất hiện ở thời kì lịch sử, Nho giáo chưa lấn át được Phật giáo, như ý kiến tôi đã đề cập ở bài “Bàn về hai chữ “thiên thư” trong bài thơ Nam quốc sơn hà” (8, tr.69).

Bài thơ này chắc đâu là của Nho giáo sáng tác. Biết đâu là của các sư tăng sáng tác thì sao? Hiện nay các nhà nghiên cứu còn băn khoăn về tác giả của bài thơ. Cho nên, ở đây vấn đề văn bản học là điều rất quan trọng. Đầu thời Lí, chữ Hán chưa được phổ cập ở Việt Nam. Nhưng trước đó đã có các nhà sư chuyển dịch kinh Phật từ chữ Phạn ra chữ Hán rồi; có nhà sư đã làm thơ bằng chữ Hán (xem Thơ văn Lí – Trần). Nhà Lí còn đặt các phẩm cấp các tăng quan: đứng đầu là chức Quốc sư, rồi đến các chức Tăng thống, Tăng lục, Tăng chính… Người muốn thành tăng phải được thụ giới và ở các giới trường long trọng và được nhà nước cấp bằng. (9, tr.235). Điều đó chứng tỏ nhà Lí đã đào tạo các tăng quan rất có bài bản và các Tăng thống, Tăng lục đã thông thạo chữ Hán lắm rồi. Vì vậy, chúng ta cũng không thể loại trừ khả năng bài thơ Nam quốc sơn hà là do Tăng thống, Tăng lục… sáng tác.

Điều mà mọi người đều thấy, nhà nước phong kiến duy trì tôn giáo cũng là do: “Tôn giáo luôn được các giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ áp bức tinh thần, một phương tiện củng cố địa vị thống trị của họ.” (10, tr.601). Đối với nhà nước phong kiến thời Lí, điều đó cũng không phải là ngoại lệ. Cho nên lúc đó vua quan nhà Lí đã dùng hình thức tôn giáo (thần Phật) đọc bài thơ lên để qui tụ, tập hợp lực lượng, động viên tướng sĩ đoàn kết quyết tâm đánh thắng giặc phương Bắc. Sau này được nhân dân tín ngưỡng (ngưỡng mộ) tôn bài thơ là thơ thần, chứ không phải như LVH nói: “Quả thật, người xưa thường tin rằng sở dĩ con người có thêm niềm tin và có thêm dũng khí là được trời đất giúp sức, thần linh phù trợ.” (3, tr.74).

LVH còn cho tôi “chỉ lấy ra một quan niệm về “Thiên mệnh” của Đổng Trọng Thư để cho rằng nói “Thiên mệnh” là duy tâm và vội vàng quy chụp, trong khi “thiên mệnh” còn được quan niệm theo nhiều cách khác nhau,”… (3, tr.74) Khoa học là khách quan, là sự thực lịch sử, tôi không qui chụp cho ai cả, LVH nói như vậy hoàn toàn không đúng. Tôi không chỉ lấy một quan niệm về “Thiên mệnh” của Đổng Trọng Thư, mà trước đó (8, tr.69) tôi đã nói đến “cái thuyết “Thiên mệnh” này vừa ra đời thì đã bị các nhà triết học Trung Hoa thời bấy giờ như Dương Hùng, Hoàn Đàm, Vương Sung, Vương Phù, Tuân Diệt, Trọng Trường Thống… phê phán là cái mê tín của thần học và cái hoang đường của sấm vĩ. Đặc biệt là ở cuối thời Đông Hán, Trọng Trường Thống phủ nhận “Quân quyền thần thụ” (Quyền của vua do trời trao cho).

Theo LVH “Thiên mệnh” còn được quan niệm theo nhiều cách khác nhau. Điều đó để các bạn đọc trả lời, lịch sử phán xét. Đây là bài trao đổi ý kiến không cho phép viết dài, nếu Tạp chí Hán Nôm thấy cần bàn về quan niệm “Thiên mệnh” và cho phép trao đổi bàn luận trên tạp chí, tôi sẵn sàng gửi bài trao đổi, bàn luận tiếp.

Nhân đây tôi chân thành cảm ơn các bạn ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã cung cấp cho tôi các loại từ điển chữ Hán, để tôi viết bài này.

CHÚ THÍCH

(1) Từ hải giải thích “thập nhị thứ”: Một chế độ của một vòng trời chia thành 12 bộ phận, dùng để đo lường vị trí và sự vận động của hành tinh, nhật, nguyệt. Trong hai sách Tả truyện, Quốc ngữ lúc đầu thấy nhiều thứ danh (tên thứ), chủ yếu dùng ở vị trí sao Mộc. Tình hình phân chia sớm nhất của 12 thứ mãi vẫn chưa luận bàn chính xác (Sđd., tr.128).

(2) Ở Từ nguyên ghi đầy đủ cách phiên thiết, vận mẫu, thanh mẫu, thanh điệu. Ở đây, tôi chỉ ghi phần thanh điệu để các bạn tiện theo dõi.

(3) Lại Văn Hùng: “Góp bàn về mấy chữ có liên quan đến bài thơ Nam quốc sơn hà”, Tạp chí Hán Nôm, số 3(70)-2005.

(4) Bùi Duy Tân: Việt Nho qua một số tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam, Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Việt Nam, H. 2004, tr.319.

(5) Đào Duy Anh: Từ điển Hán Việt, Nxb. Trường Thi, 1957; Xem thêm Trần Văn Chánh: Từ điển Hán Việt, Hán ngữ cổ đại và hiện đại,Nxb. Trẻ, 2004, tr.256-260.

(6) Vương Lực: Hán ngữ sử cảo, Thượng sách, Khoa học xuất bản xã, tháng 8 năm 1958.

(7) Nguyễn Khánh Toàn: Một số vấn đề của khoa học nhân văn, Nxb. KHXH, H. 1992.

(8) Lê Văn Quán: “Bàn về hai chữ ‘Thiên thư’ trong bài Nam quốc sơn hà”, Tạp chí Hán Nôm, số 2(69)-2005.

(9) Đào Duy Anh, Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb. KHXH, phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỉ XIX.

(8) Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội./.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 4 (71) năm 2005

Leave a Reply