Nhân đọc bài Hiệu ứng ‘thủ quyển’ trên Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn [chi] đồ


 

(PBVH): Bức thư họa Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ gồm hai phần họa và thư dài gần 10m, lưu lạc hơn 600 năm ở Trung Quốc, được nhà Thanh biên mục trong bộ Bí điện châu lâm – Thạch cừ bảo cấp tục biên cách đây hơn 200 năm (1790) và được in màu toàn bộ trong tuyển tập Thanh cung tán dật thư họa quốc bảo đặc tập cách đây gần 10 năm (2004) nhưng đến giữa năm 2012 chúng ta mới sao chụp được. TS. Nguyễn Nam là tác giả có công đầu tiên đưa thông tin và hình ảnh Trúc Lâm đại sĩ đến với độc giả Việt Nam. Nhân sự kiện đặc biệt này, Tạp chí Suối nguồn số 7 (11/2012) thực hiện số chuyên đề Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ, đăng tải trang trọng, trọn vẹn công trình khảo cứu của TS. Nguyễn Nam. Đây là “công trình nghiên cứu đầu tiên công phu nhất, đầy đủ nhất về bức thư họa”. Trong Thư Ban biên tập, tạp chí Suối nguồn số 7 cho biết: TS. Nguyễn Nam “đảm đương tất cả các phần phiên âm, dịch nghĩa, khảo chú, phân tích toàn bộ cuộn thư họa cũng như tổng kết phẩm bình những kết quả nghiên cứu của các học giả khác có liên quan đến bức thư họa. Tác giả, mặc dù có những hạn chế về sức khỏe và thời gian, đã làm việc hết sức miệt mài, cẩn trọng, với một tinh thần thật sự khiêm cung của nhà nghiên cứu khoa học. Cách trình bày từng vấn đề cũng mạch lạc, rõ ràng, dễ đọc, nhiều chỗ đi sâu vào chi tiết, và qua rất nhiều phụ chú ở từng trang viết, đã cung cấp thêm một lượng lớn thông tin tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu. Ban biên tập Suối Nguồn giúp rà soát lại một số thiếu sót nhỏ, dịch thơ cho các bài thơ, trình bày tranh ảnh minh họa, thực hiện các phụ bản, sách dẫn, giải quyết ổn thỏa những vấn đề rắc rối tế nhị về phương diện kỹ thuật… để có được tạm gọi là một “tiểu tập” có minh họa về Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ. Ngoài ra, tiếp nhận đề nghị của tác giả, chúng tôi cho in lịch về bức thư họa cũng như in lại toàn bộ bức thư họa với kích cỡ – màu sắc như thật đựng trong hộp đẹp để vừa tặng các cộng tác viên vừa phát hành rộng rãi  nhằm phổ biến hình ảnh bức thư họa trân quý này đến với mọi người

Http://phebinhvanhoc.com.vn cũng đã có dịp thông tin tới bạn đọc số chuyên đề này; chúng tôi đã đăng tải bài Bóng hình để lại và bức thư họa về Trúc Lâm đại sĩ của PGS.TS. Vũ Thanh giới thiệu công trình của Nguyễn Nam, đồng thời đã giới thiệu một số bài viết của chính TS. Nguyễn Nam như Ngắm tranh như đọc sách, xem phim: Đặc sắc thủ quyển trong hội họa Trung Hoa; Hiệu ứng “thủ quyển” trên Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ… Tác giả Nguyễn Quảng Minh nhân đọc bài Hiệu ứng thủ quyển trên Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ trên http://phebinhvanhoc.com.vn (ngày 25.4/2013) có đôi ý bàn thảo thêm. Mặc dù một số vấn đề trong bài viết này đã được thảo luận trong chuyên đề Bóng hình để lại của tạp chí Suối nguồn số 7, song để rộng đường dư luận, chúng tôi trân trọng gửi tới bạn đọc những suy tư, bàn bạc của tác giả Nguyễn Quảng Minh.

 *

Nhân đọc bài Hiệu ứng ‘thủ quyển’ trên Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn [chi] đồ

 

                                                                                    Nguyễn Quảng Minh

 

Trong rất nhiều bài viết trên báo in và báo mạng cũng như trong nhiều buổi thuyết trình về Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn chi đồ (viết tắt TLDSXS), chúng tôi chú ý đến bài Hiệu ứng ‘thủ quyển’ trên Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn [chi] đồ (gọi tắt bài Hiệu ứng) của ông Nguyễn Nam. Một bài viết khá tôn trọng bức họa thư và thường ‘nói có sách, mách có chứng’; số bài như vậy không nhiều. Là người ngoại đạo (không là họa sĩ, chẳng là người nghiên cứu [lịch sử] hội họa, và cũng chỉ biết lõm bõm dăm ba chữ chi hồ giả dã) nhưng vì hiếu kỳ thấy nhiều người bàn ra tán vào không cần đến chứng cứ nên chúng tôi chú ý đến TLDSXS. Đọc kỹ bài Hiệu ứng, chúng tôi chợt thấy vài ý sau, xin được viết ra đây, mong được lĩnh hội thêm từ các nhà nghiên cứu uyên thâm và các bạn nhiệt tình.

1. Chúng tôi nghĩ, trước hết cần hiểu đúng những hình trong TLDSXS; trên cơ sở đó mới bình và tán.  Chúng tôi không có cơ duyên được xem tận mắt bản gốc TLDSXS mà chỉ dùng bản do Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc) công bố dưới tên 陈鉴(竹林大士出山 全卷 宁省博物.jpg trên http://ishare.iask.sina.com.cn. Không rõ giữa hình ở format .jpg và tranh thực có khoảng cách chất lượng, màu sắc,… hay không? Những hình trong bài này (cắt từ TLDSXS hay lấy ở các nguồn khác có ghi rõ xuất xứ) đôi khi có photoshop nhưng chỉ về brightness và contrast.

TLDSXS đề cập một sự kiện ở Việt Nam, giai đoạn cuối thế kỷ 13 – đầu tk 14 vì vậy cần so sánh với thực tế ở ta, trên quan điểm lịch sử. Vì vậy, về sử liệu Việt Nam, chúng tôi căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch tiếng Việt theo bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 [1697] trên www.informatik.uni-leipzig.de. Những tài liệu gọi là lịch sử khác, nhất là những tài liệu mới viết, thường đều chỉ lấy thông tin từ đó rồi thêm thắt, trình diễn theo quan điểm mới, viết sử chứ không chép sử.

Việc đổi ngày tháng năm âm lịch sang dương lịch, do không tìm được các bảng quy đổi của Việt Nam, chúng tôi tạm dùng bảng của Trung Quốc trên http://sinocal.sinica.edu.tw/cgi-bin/sinocal/luso. của Academia Sinica Computing Center. Như vậy, đôi khi có thể sai lệch một vài ngày so với âm lịch Việt Nam hiện nay.

Vì tài sơ trí thiển, chúng tôi chỉ tập trung vào bức Họa (bài Hiệu ứng gọi là 畫心 Họa tâm), thấy/biết sao nói vậy, cố dùng hình ảnh thay cho lời, cố tránh chủ quan suy đoán hoặc do tình cảm dân tộc hoặc do ức thuyết tâm linh.

2. Về tên của bức Họa Thư TLDSXS.

Hinh 1

Hình 1. Dẫn thủ của Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn chi đồ.

Theo truyền thống hội họa Trung Quốc, nhất là vào thời Nguyên (1271-1368) giai đoạn cuối (Trần Giám Như vẽ TLDSXS đúng vào giai đoạn này), khi vẽ xong tác phẩm hội họa, họa sĩ thường viết ít chữ, đôi khi dưới dạng thơ hay kệ,.. ở bên bức họa, sau đó đem tranh đi ‘xin chữ’ bạn bè quen biết. Vì vậy họ mới gọi là 書畫圖 [thư họa đồ, một vài vị dễ tính trong chúng ta vừa dịch chữ vừa phiên âm hai chữ kia thành bức/tranh thư họa; nếu muốn đúng và hợp ngữ pháp tiếng Việt thì có thể là tranh có thư pháp (hoặc bức họa thư): trên cái gốc là bức họa người ta mới bình, tán,… và viết dưới dạng thư pháp][1]. Phần lớn những bức họa thư còn đến nay đều vẽ trên lụa, số lượng vẽ trên giấy không nhiều. Phần lớn cũng vẽ bằng mực tàu và màu[2], số chỉ vẽ bằng mực tàu không nhiều. TLDSXS thuộc loại không nhiều đó và có đủ những thành phần chính của một bức hoạ thư.

Dẫn thủ [tên] của TLDSXS gồm tám chữ lớn viết kiểu Triện 竹林大士 出山, chữ thứ bảy là chữ . Nhưng Dư Đỉnh trong bài Ký, Sư Bạc Hiệp trong bài Tán,… viết sau Trần Giám Như khoảng 60 năm và ngay ở bên bức Họa đã bỏ chữ . Những người Trung Quốc không tôn trọng tác giả TLDSXS đã bỏ chữ đó. Có thể họ cho rằng chi hồ giả giã chỉ làm rườm rà câu văn, làm tiếng Hán không trong sáng. Nếu ta theo họ, gọi bức này là Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ (tức cũng bỏ chữ đó) thì hóa ra 1) ta không tôn trọng nguyên tác và 2) ta cũng không còn là ta nữa! Phần rất lớn những thủ quyển nổi tiếng trước và sau TLDSXS đều thấy có tên có chữ nhưng không có chữ , thí dụ: 五百羅漢 (Ngũ bách la hán đồ của Lin T’ing-Kuei, cuối tk 12), 歸莊 (Quy trang đồ của He Cheng, khoảng 1224-sau 1315), 十六羅漢 (Thập lục la hán đồ của Wu Bin [, Ngô Bân], thời Minh 1368-1644), 仙源 (Tiên nguyên đồ của Kuncan [], thời Thanh),…[3]

Mặt khác, chính chữ không giống ai đó và những yếu tố ngữ văn khác trong bài Dẫn,… có thể giúp chúng ta gián tiếp suy ra nhân thân của quý vị họ Trần liên quan đến TLDSXS. Về tên của TLDSXS, chúng tôi nghĩ có hai cách, hoặc phiên âm Việt tên gốc thành 8 chữ Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ, hoặc dịch 8 chữ đó sang chữ Việt hiện đại, đại khái có thể là Tranh [vẽ] đại sĩ Trúc Lâm xuống núi.

Trên Dẫn thủ cũng còn thấy dòng Lạc khoản với 9 chữ nhỏ, kiểu Triện ‘Trung thư xá nhân Thạch điền Trần Đăng tả’. Trên bức Họa cũng có dòng Lạc khoản với cũng 9 chữ nhưng kiểu Khải ‘Chí Chính chấp tam niên hôn Trần Giám Như tả’. Theo logic thông thường thì Dẫn thủ được viết cùng lúc với tranh vẽ, tức năm Chí Chính thứ 23 (1363).

hinh 2

 Hình 2. Lạc khoản của Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ.

3. Về cách mở và xem TLDSXS. Bài Hiệu ứng đã dành nhiều chữ cho cách mở và xem thủ quyển. Chúng tôi cũng lúng túng khi học cách mở đó vì không thấy nói cuộn/mở từ đầu nào và vì chưa quen với đơn vị chiều dài ‘độ dài khoảng hai vai’. Chúng tôi hiểu lờ mờ rằng, theo cách hướng dẫn đó thì, 1) đầu tiên thấy Dẫn thủ; 2) tiếp theo được xem từng trích đoạn của bức Họa, bắt đầu bằng đoạn cuối của Đoàn đứng chờ đón; 3) cuối cùng được xem bài Dẫn, bài Ký và các bài Tán. Như vậy không bao giờ được xem toàn bộ bức Họa. Chúng tôi không rõ người Hoa thời Nguyên có mở và xem TLDSXS như đã hướng dẫn hay không? Có lẽ hình sau về TLDSXS thể hiện cách mở và xem thủ quyển như đã hướng dẫn. Xin chú ý, xem 5 lần, mỗi lần chỉ một trích đoạn; nói cách khác, bức Họa bị cắt thành 3 khúc, mỗi lần được xem một khúc. Người xem không có trí nhớ tốt như các nhà Nho thời xưa thí không có cơ hội so sánh đúng sai, lớn nhỏ; chẳng hạn như vua Trần Anh Tông là người được vẽ cao lớn nhất trong tranh, các vị đứng chờ đón (nửa bên phải tranh) cũng cao hơn các vị đang xuống núi (nửa bên trái tranh).

 

hinh 3

Hình 3. Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ thường bị cắt ‘máy móc’ thành 5 đoạn như trên.

 

Ngày nay, mở các bản mềm TLDSXS trên mạng, đều được đọc trước hết đoạn cuối bài tán của Tây Bích, lần ‘giở’ sang phải mãi mới đến bức Họa. Và được xem trước hết Lạc khoản rồi hai vị người Hồ đang nói chuyện riêng với nhau, rồi voi,… Chẳng vậy mà có bạn đã viết trên mạng ‘voi dẫn đầu mọi người’.

Từ khi biết TLDSXS, chúng tôi thường mở và xem theo một cách khác: download, in tranh, trải dài ra rồi chú ý tìm ngay Đại sĩ Trúc Lâm và sau đó là con của Người (vua Trần Anh Tông). Nói cách khác là trước hết tìm đến giữa bức Họa, cụ thể là khoảng trống rộng chừng 7cm giữa con hạc (đi đầu Đoàn đang xuống núi) và nhóm sáu vị béo tốt, mũ áo chỉnh tề (đứng đầu Đoàn đứng chờ đón). Sau đó mới xem lần lượt từ đầu đến cuối Đoàn đang xuống núi (trọng tâm của bức Họa, tức xem từ giữa sang bên trái bức Họa) rồi lại xem từ giữa sang bên phải bức Họa (tức xem từ đầu đến cuối Đoàn đứng chờ đón).

Chúng tôi thiển nghĩ, người xưa có cách xem khác chúng ta ngày nay vì: Trước đây người Hoa cũng như ông cha chúng ta đều viết/đọc chữ Nho (và chữ Nôm) từ trên xuống dưới theo dòng dọc và từ phải qua trái. Ngày nay chúng ta viết/đọc theo dòng ngang và từ trái qua phải. Tâm lý người ngày nay xem bức họa thư cũng là muốn xem ngay tranh, sau đó mới ngắm (thường không hiểu) các bài Dẫn, Ký, Tán,… Hơn nữa, ai chẳng muốn xem ngay nhân vật chính, trọng tâm của tranh. Nhiều người cũng muốn tự mình đánh giá bức Họa trước khi bị ảnh hưởng của các lời bình, tán. Hình như sự khác biệt về cách viết/đọc và tâm lý người xem này khiến cách mở và xem tranh phải khác.

Nhân đây cũng ghi thêm rằng chủ đề của TLDSXS là về một sự kiện xảy ra ở ngoài Trung Quốc mà phần rất lớn người Hoa không biết. Chính vì vậy mà 58 năm sau khi họa phẩm hoàn thành (vẽ năm 1363) Trần Quang Chỉ phải viết bài Dẫn (ngày 7 tháng 2 năm 1420) và Dư Đỉnh phải viết bài Ký (thứ tư ngày 8 tháng 3 năm 1420) trước khi để các vị khác tán [tụng, ca ngợi]. Có thể nói, không có bài Dẫn và bài Ký, người được xin chữ cũng như người xem không hiểu TLDSXS. Cũng cần thêm là, nhiều thông tin trong hai bài đó không khớp với chính sử Việt Nam, nhất là DVSKTT. Ngày nay, 641 năm sau khi bức tranh được vẽ, một số trong chúng ta lại quá tin những thông tin ở hai bài đó để tán sai về bức Họa. Cách xem tranh So sánh với thực tế theo quan điểm lịch sử-địa lý khác với cách Sùng bái tranh, tán tùy thích, không dựa vào tranh.

4. Về thời điểm Đại sĩ Trúc Lâm xuống núi trong TLDSXS.

 

Nhiều vị viết như đinh đóng cột là TLDSXS mô tả lần Thượng hoàng Trần Nhân Tông rời hành cung (họ gọi là động) Vũ Lâm về kinh. Họ dựa vào thông tin sau trong DVSKTT (Bản kỷ, q.VI, tr.3a): [Năm] ‘Ất Mùi, niên hiệu Hưng Long thứ 3… [1295], mùa hạ, tháng 6, Thượng hoàng trở về kinh sư. Vì [trước] đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm rồi lại trở về.’

Xin chú ý là, 10 tháng trước đó, tháng 8 năm Hưng Long thứ 2 (1294) Thượng hoàng còn ‘đích thân đi đánh Ai Lao, bắt được người và súc vật nhiều không kể xiết’ (tr.3a). Các thượng hoàng thời Trần còn nhiều uy quyền và tích cực hoạt động (Thượng hoàng Trần Nhân Tông còn định phế truất vua Trần Anh Tông khi bất ngờ thấy nhà vua say rượu [DVSKTT, Bản kỷ, q.VI], cũng chính Thượng hoàng hứa gả một công chúa cho vua Chiêm Thành vì vậy, sau đó Công chúa Huyền Trân phải ra đi…).

Bài Hiệu ứng đưa ra một thời điểm mới với nhiều thông tin chi tiết và hấp dẫn nhưng không ghi xuất xứ: ‘Sự kiện Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông xuống núi năm 1304 theo lời thỉnh cầu của con là vua Trần Anh Tông để truyền tâm giới Bồ tát cho nhà vua và triều thần, nhằm tăng cường ý thức lợi lạc cho muôn dân của triều đình được miêu tả trong cuộn thư-họa Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ do họa sư đời Nguyên Trần Giám Như hoàn thành năm 1363.’

Nhưng DVSKTT không nói gì đến hoạt động của Thượng hoàng Trần Nhân Tông trong năm 1304 [Giáp Thìn] mà chỉ cho biết: [Năm] Quý Mão, [niên hiệu] Hưng Long thứ 10 [1303], mùa xuân, tháng giêng, ngày 15 [tức thứ bảy ngày 10 tháng 2 năm 1303], Thượng hoàng ở phủ Thiên Trường [tr.17b], mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí.

Cũng theo DVSKTT, tự hiệu Trúc Lâm Đại sĩ (viết đúng ngữ pháp tiếng Việt thành Đại sĩ Trúc Lâm) xuất hiện lần đầu tiên (có lẽ cũng là lần duy nhất) ở tr.23b, quyển VI: [Năm] Mậu Thân, [niên hiệu] Hưng Long thứ 16 [1308] Mùa thu, tháng 11, ngày mồng 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Bấy giờ Thượng hoàng xuất gia, tu ở ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử, tự hiệu là Đại Sĩ Trúc Lâm. (gạch dưới của NQM). Ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16 là ngày thứ bảy 24 tháng 11 năm 1308, khi đó Đại Sĩ 51 tuổi ta.

Như vậy đến nay, chưa có đủ chứng cứ đáng tin ủng hộ một hay cả hai thời điểm trên, 1295 hay 1304. Câu hỏi vẫn còn nguyên đó.

Dù là năm 1295 hay năm 1304, trong hai năm này cũng chỉ có một thượng hoàng, đó là Thượng hoàng Trần Nhân Tông và cũng chỉ có một vua, đó là vua Trần Anh Tông. Phải khẳng định như vậy vì bài Hiệu ứng hai lần nói đến thượng hoàng Trần Anh Tông trong TLDSXS, trích: a) ‘tùng ở khoảng đầu tranh, tán rợp binh sĩ; tùng ở giữa tranh, che mát Thượng hoàng Trần Anh Tông…’ và b) ‘Bố cục của tranh thoạt như có đường phân cách giữa hai thế giới: tôn giáo (từ phân cảnh Đại sĩ đến cuối tranh) và thế tục (từ phân cảnh Thượng hoàng trở lên đầu tranh)’. (chữ nghiêng và gạch dưới của NQM)

Theo DVSKTT, Bản kỷ, q.VI, vua Trần Anh Tông:

– lên ngôi ngày 9 tháng 3 năm Quý Tỵ, niên hiệu Trùng Hưng thứ 9, từ sau ngày 9 tháng 3 là niên hiệu Hưng Long thứ 1 (tức thứ năm ngày 23 tháng 4 nằm 1293),

– rồi truyền ngôi cho con là Mạnh ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần, niên hiệu Hưng Long thứ 22, từ sau ngày 18 tháng 3 là niên hiệu Đại Khánh thứ 1 (tức thứ tư ngày 3 tháng 4 năm 1314) để lên làm Thượng hoàng.

Khi vua Trần Anh Tông trở thành Thượng hoàng Trần Anh Tông thì Đại sĩ Trúc Lâm đã hóa được 7 năm. Đại sĩ Trúc Lâm là tự hiệu của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, Ngài hóa ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16 (tức thứ bảy ngày 24 tháng 11 năm 1308).

5. Bài Hiệu ứng có nói đến các chuỗi tràng hạt ngắn trong TLDSXS. Nguyên văn đoạn liên quan như sau: ‘Học giả Cao Tự Thanh đã xem tranh rất kỹ và phát hiện các chuỗi hạt niệm châu ngắn được vẽ trong tranh dường như chỉ có 16 hạt, thay vì 18 như thường thấy. Chuỗi 16 hạt thực ra cũng được dùng nhiều, và được giải thích như tượng trưng cho “Thập lục tâm” trong Câu Xá tông Tiểu thừa, hay là tổng số của Thập Điạ và Lục Ba La Mật. Cũng như việc xuất hiện chuỗi niệm châu trong tay Đại sĩ, việc chuỗi niệm châu 16 hạt trong tranh phải được tìm hiểu không chỉ trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam thời Trần, mà còn trong bối cảnh văn hóa – tôn giáo của Trung Nguyên, khi họa gia vẽ tranh.  [Nguyễn Nam, Bóng hình để lại – Chuyên đề Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ, Đặc san Suối nguồn, số 7 (11/2012), trg. 69-74].

Chúng tôi tự hỏi, học giả Cao Tự Thanh và tác giả bài Hiệu ứng định nói đến chuỗi tràng hạt nào trong số 6 chuỗi thấy trong TLDSXS ? Chúng tôi thấy trong Đoàn đang xuống núi (phần bên trái bức Họa, tính từ khoảng trống trước con hạc đến hết bức Họa; ngắn hơn chừng 20cm so với phần bên phải Đoàn đứng chờ đón), có 4 chuỗi tràng hạt ngắn và 2 chuỗi dài; phần lớn đều bị che lấp một phần, không chuỗi nào được vẽ hoàn chỉnh. Ba chuỗi ngắn (1, 3 và 4) đưọc xâu bằng dây cứng nên trông tròn vo, không bị trọng lực trái đất hút xuống; chỉ chuỗi thứ 2 vẽ gần như thấy trong thực tế.

hinh 4

 thấy 12 hạt lần bên tay phải giả thuyết: 12+4  thấy 10 hạt lần bên tay phải giả thuyết: 10+4  thấy 10 hạt*lần bên tay trái giả thuyết: 10+4+3  thấy 10 hạt lần bên tay trái giả thuyết: 10+4

* Bị che lấp 2 lần: lưng vị đội nón thúng có thể che 4 hạt và 4 ngón tay – 3 hạt.

Hình 4. Bốn chuỗi tràng hạt ngắn.

 

hinh 5

 Hình 5. Hai chuỗi tràng hạt dài.

Chúng tôi đã thử vẽ tiếp cả 4 chuỗi tràng hạt ngắn với giả thuyết là các hạt trong một chuỗi đều lớn bằng nhau và thấy số hạt ở mỗi chuỗi một khác, từ 14 đến 17 hạt. Một ý nghĩ ‘phạm thượng’ ló ra: ‘họa sư Trần Giám Như’ có thể đã không chú ý đến số hạt khi vẽ. Hình ‘voi trắng chở kinh’ (tên gọi theo gợi ý của Dư Đỉnh trong bài Ký) hậu thuẫn mạnh mẽ cho ý nghĩ trên (xin xem tiếp trong bài này). Hai chuỗi tràng hạt dài chỉ lộ ra một đoạn ngắn, không đủ cơ sở để suy đoán vẽ tiếp.

6. Về nhóm đi đầu Đoàn đang xuống núi. Ngoài Đại sĩ ngồi cáng võng, còn 9 người (4 trước cáng và 5 sau cáng) trong nhóm này. Nếu phân theo màu đậm nhạt thì 3 vị mặc áo màu nhạt và 6 vị – áo màu đậm. Tất cà 9 người đều đi chân đất và không thấy họa sĩ vẽ quần của họ, dù họ có râu ria hay không.

hinh 6

 

Hình 6. Nhóm đi đầu Đoàn đang xuống núi.

 

Trong số những người đi trước cáng, ngoài vị người Hồ đầu hói, mày và ria rậm, râu quai nón ngắn, mặc áo nhạt màu, ống tay áo hẹp, thắt lưng ‘bó que’ còn có 3 vị tóc rậm, che kín gáy, mặc áo xẫm màu, ống tay áo cũng hẹp, thắt lưng nhạt màu ‘bó que’; vị đi giữa có ria mép cong, cụp, râu cầm kiểu râu dê, người đậm và cao lớn hơn hai vị kia. Vị vác lọng (cán ngắn khác thường) bên vai trái, vai phải so cao, không râu ria, người mảnh khảnh, lưng hơi cong (có vẻ lọng quá nặng với vị này!). Vị thứ ba khiêng cáng bên vai trái, hai tay nắm lấy đòn cáng, cũng không râu ria, người mảnh khảnh, lưng hơi cong (có vẻ cáng cũng quá nặng!).

hinh 7

 Tốp bốn vị đi trước cáng.  Tốp năm vị đi sau cáng.

Hình 7. Những vị đi trước và đi sau bên cáng võng của Đại Sĩ Trúc Lâm.

Đi sau cáng thấy 5 người, trong đó có 2 tăng nhân tóc đã thế phát (tương tự như Đại sĩ), ria mép và râu cầm lún phún, áo cà sa vắt sang phải, ống tay áo rộng; một vị vác phướn bên vai phải, một vị vác tích trượng cũng bên vai phải. Ba vị còn lại mặc áo xẫm màu, giống hệt 3 vị đi trước cáng, thắt lưng nhạt màu ‘bó que’, ống tay áo hẹp. Một vị có râu ria, người đậm đà, dáng hơi cong cong, cao hơn hẳn 2 vị kia, đứng sát ngay bên sau cáng, hai tay cầm quạt lông (hay lá [?], cán quạt có lẽ bằng gỗ – không thấy vẽ các mấu, các đoạn, nếu là tre – và khá mảnh so với cái quạt lớn và dày). Hai vị kia không râu ria, dáng mảnh khảnh, thấp hơn vị có râu, lưng hơi cong (có lẽ vì cáng quá nặng?). Vị không râu ria, đứng sát phía sau cáng, để đòn cáng đè lên vai trái, hai tay ôm lấy đoạn đòn cong; vị kia hai tay vịn vào đầu mút đòn cáng. Như vậy cả bốn ‘phu cáng’ (tóc kín gáy, ba không râu ria, chỉ một có) đều để tay lên đòn khiêng. Đáng chú ý là bốn vị không râu (trước và sau cáng) đều thấy vẽ lưng cong cong, chỉ hai vị có râu được vẽ lưng thẳng (dù đang vác quạt hay khiêng võng). Trông mặt hai vị không râu ria sau cáng có cảm giác tính nữ khá rõ. Phải chăng đó là bốn thị nữ? Nếu đúng vậy thì đó là bốn người nữ duy nhất trong thế giới người nam ở TLDSXS.

hinh 8

 ‘Thị nữ’ thứ nhất.  ‘Thị nữ’ thứ hai.  ‘Thị nữ’ thứ ba và thứ tư.  Hai gương mặt và những bàn tay nhiều tính nữ.

Hình 8. Bốn vị có vẻ là thị nữ.

 

Đòn khiêng cáng bằng tre cong lên, võng vải (hoặc lụa hay gấm chơn,…?) buộc thắt hoa lên đầu đòn. Không thấy đoạn tre căng ngang võng cho dễ ngồi, như thường dùng gần đây. Đòn cáng cong lên có vẻ khó khiêng nhưng người ngồi cáng lại thoải mái. Vài thế kỷ sau, loại đòn cáng võng cong này vẫn còn thấy ở Đàng Ngoài như thấy trong đám cưới dưới đây (Baron, trước năm 1685).

hinh 9

Hình 9. Cáng võng với đòn khiêng cong thời vua Lê chúa Trịnh.

7. Về vị người Hồ khiếm thị. Sau đạo sĩ Lâm Thời Vũ [đội] 黃冠 (hoàng quan, mũ vàng?)[4], thấy hình hai tăng nhân giắt nhau qua cầu. Một vị người Hồ[5] (có vẻ bị khiếm thị, trán hói, tóc rậm dài kín gáy, râu quai nón, ria mép rậm) có quần áo (áo thụng dài, ống tay áo rất rộng, quần không thấy rõ, hai ống chân đều đeo vòng, bàn chân phải dài to, thấy rõ cả 5 ngón). Vị này bị gió mạnh bạt từ sau lưng rất rõ, người giắt vị đó bằng cây gậy lại không có dáng vẻ người Hồ mà chỉ có ria mép, tóc đã thế phát, áo thụng rộng tay, quần bó đến mắt cá chân nhưng không bị gió bạt, vạt áo chỉ hơi cong bình thường như những vị khác, tức ngược với chiều gió thấy ở tăng nhân có vẻ khiếm thị.

 

hinh 10

Hình 10. Tăng nhân người Hồ có vẻ khiếm thị.

Tăng nhân người Hồ đi ngay sau vị khiếm thị, vai phải vác khiên, quay đầu nhìn voi (chúng tôi đoán là quản tượng) cũng không bị gió bạt. Ngọn lau gần ngay đấy bị gió mạnh rạp xuống, cùng chiều với áo cà sa của tăng nhân người Hồ khiếm thị. Lá cây lớn phía trên đám lau bị gió thổi rạp cũng lại êm gió.

Mặt nước dưới cầu và gần ngay bụi lau bị gió thổi rạp cũng chỉ lăn tăn sóng. Không rõ vì nguyên nhân gì mà ở một chỗ, chỉ một người và lau hứng gió mạnh, những người khác và lá cây lớn, cao cùng mặt nước gần ngay đó thì không?

hinh 11

 

Hình 11. Nghịch cảnh vì gió trong Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ.

Những vị chúng tôi gọi là tăng nhân người Hồ cũng là một đối tượng thường được vẽ trong hội họa Trung Quốc và được gọi là 羅漢 (la hán, dịch là arhats). Ít nhất có hai tập tranh chuyên vẽ các la hán:五百羅漢 (Ngũ bách la hán đồ của Lin T’ing-Kuei [林庭珪, Lâm Đình Khuê] và Zhou Jichang [周季常, Chu Quý Thường] cuối tk 12) và 十六羅漢 (Thập lục la hán đồ của Wu Bin [, Ngô Bân], thời Minh 1368-1644). Dưới đây là 4 trích đoạn đáng chú ý về các la hán.

hinh 12

Các la hán đang cầu đảo (1) Các la hán giặt bên suối (2) Vị la hán đứng thiền (3) Các la hán bên cầu đá trên núi Thiên Thai (4)
(1) trích từ Ngũ bách La hán đồ của Lin T’ing-Kuei (林庭珪, Lâm Đình Khuê, cuối tk  12, đời Nam Tống), vẽ khoảng 1178-1188. cùng với  周季常 Chu Quý Thường.  Mực tàu và màu trên lụa, 112,8×53,4cm. Daitoku-ji, Kyoto, Nhật Bản.(2) trích từ  Ngũ bách La hán đồ nhưng do Zhou Jichang (周季常, Chu Quý Thường) vẽ. Mực tàu và màu trên lụa. Freer Gallery of Art, Smithsonian Institution, Washington D.C., USA.(3) đoán là do Chang Yuan (sống khoảng 890-930) vẽ. Mực tàu và màu trên lụa, 149×74,9cm., Bảo tàng nghệ thuật tỉnh Osaka, Nhật Bản. (4)  tác phẩm của Chen Chun (陳淳,Trần Thuần, 1483–1544). Freer Gallery of Art, Smithsonian Institution, Washington D.C., USA.

Hình 12. Bốn hình về tăng nhân người Hồ trong các thủ quyển kinh điển Trung Quốc.

Các họa sĩ Trung Quốc thường gán cho các la hán nhiều phép lạ (xin xem hình đầu tiên trong 4 hình trên). Có lẽ Trần Gián Như cũng theo cách suy tư đó nên tăng nhân người Hồ khiếm thị có thể hô phong hoán vũ, như ta thấy cảnh bất thường ở trích đoạn trên.

DVSKTT, Bản kỷ, q.VI, tr.27b có một thông tin về hai tăng nhân người Hồ ở ta: [Năm] Tân Hợi, [niên hiệu] Hưng Long thứ 19 [1311] Nhận con gái của nhà sư người Hồ là Du Chi Bà Lam vào cung. Sư đã sang ta vào thời [Trần] Nhân Tông, vẻ người già nua, tự nói là 300 tuổi, có thể ngồi xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên ngực, làm cho trong bụng lép kẹp, chỉ còn da bụng và

xương sống thôi. Sư chỉ ăn lưu hoàng, mật, rau dưa, ở mấy năm thì về nước, đến nay lại sang ta. Vua

[Trần Anh Tông] lấy con gái sư là Đa La Thanh vào cung. Nhà sư sau mất ở Kinh sư. (Đời [Trần] Minh Tông [1314-1329] có sư người Hồ là Bồ Đề Thất Lý sang ta, cũng có thể gồng nổi trên mặt nước, nhưng nằm ngửa mà nổi, không giống nhà sư Du Chi).

Thông tin từ DVSKTT càng củng cố giả thuyết hô phong hoán vũ! Vẫn còn cần thêm bắng chứng khả tín cho giả thuyết trên.

8. Về ‘voi trắng chở kinh’. Nhóm cuối cùng của Đoàn đang xuống núi gồm một thớt voi và 3 vị, đều có dáng vẻ người Hồ. Đi trước voi thấy một vị dáng vẻ người Hồ, đầu quay lại ngước nhìn voi, vai phải vác một thanh mác dài, cán mảnh nhưng nặng (làm lưng vị này hơi còng, cán cũng bằng kim loại chăng ?). Vị này trán hói, tóc rậm màu xẫm, râu quai nón không dài, áo quần như phần lớn các vị người Hồ (áo hơi rộng, dài quá gối, thắt lưng bên ngoài, ống tay áo bó, có vẻ hơi xắn, quần hẹp ống, ngắn trên mắt cá chân, chân đất), bàn tay phải đặt trên cán mác. Vị này là quản tượng chăng?

hinh 13

Hình 13. ‘Voi trắng chở kinh’.

Voi to, béo tốt, tai hình thù không rõ rệt (nếu không nói là rất lạ) nhưng ngắn chỉ bằng hai phần ba đầu (ở voi thật thường dài quá đầu), chân đồ xộ, ngắn so với thân. Chân nào cũng đều thấy rõ 5 móng ngón đều nhau (so với ảnh chụp chân voi thật: 3 móng trước to và 1 móng sau nhỏ). Đoạn đầu vòi voi cong như hình cái móc câu, thật khác thường. Với thời gian và thay đổi môi trường, voi có thể biến dị nhưng chắc chắn không thể từ chân 4 ngón (3 trước 1 sau) thành chân 5 hoặc 6 ngón.

hinh 14

Voi trong TLDSXS. Voi rừng Phù Mát, khu Bãi Lim, xã Phúc Sơn, Nghệ An, Việt Nam  (xin chú ý đến tai và vòi, cả ở voi mẹ và voi con). Chân voi châu Á (Elephas maximus).

Hình 14. Voi trong TLDSXS (vẽ năm 1363) và trong thực tế ở Việt Nam ngày nay.

hinh 15

 

Voi và ngựa trong Đám rước vua Lê đi tế Nam Giao (Baron, trước năm 1685).

Hình 15. Voi và ngựa ở Đàng Ngoài, cuối tk 17.

 

Bành voi rộng lớn (dài gần hết thân voi) có vẻ bằng gỗ, các tay khiêng phần trước trang trí đầu rồng (có ý là của Đại sĩ Thượng hoàng chăng ?), phần sau trang trí bình thường nhưng có lá đề lớn, chân bành uốn cong cao hơn lòng bành (nếu bên phía khuất cũng vậy thì có thể đặt bành vững vàng trên mặt đất bằng). Trong lòng bành có bốn túi vải lớn miệng buộc túm (chiếm phần lớn diện tích bành) và ba buộc có vẻ là sách (hai buộc sách trần và một buộc có vải bao, miệng cũng buộc túm); như vậy mà Dư Đỉnh nói như đinh đóng cột là voi chở kinh! Voi được trang hoàng lộng lẫy, phức tạp như những voi thấy trong các lễ hội ở Thái Lan ngày nay. Đáng chú ý là trên đầu voi không thấy quản tượng ngồi như thường thấy ở ta (xin xem Hình 15).

Voi thường không là đề tài hội họa của các họa sĩ Trung Quốc thời trước. Có lẽ Trần Giám Như đã ‘phá cách’, đưa một con vật to lớn (mà có thể ông chưa tận mắt quan sát) vào tranh của mình. ‘Họa sư Trần Giám Như’ biết chăng câu nói của người Việt thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi; mà vẽ voi còn khó hơn vẽ ma!

hinh 16

 Hình 16. Voi chở gì ? Xin chú ý cả đến hình tai voi.

 

Những chi tiết ở phần bên phải tranh (Đoàn đứng chờ đón) và về cây, cảnh ở TLDSXS xin sẽ được nói tới trong một dịp khác.

9. Một cái nhìn so sánh.

9.a. Các họa sĩ Trung Quốc thời xưa có tập quán vẽ người mặt tròn, phương phi; nữ không râu ria, nam có râu ria (thường là râu dê), nhiều khi có râu quai nón dài. Họ phân biệt sang hèn cả ở quần áo: người hèn thì ống tay áo hẹp, thắt lưng bó que.[6] Người quan trọng thì vẽ to, cao lớn hơn người bình thường. Đó là trong tranh thủy mặc, khi khó thể hiện sự khác nhau giữa lụa là gấm vóc… Bức tranh mực Tàu và màu trên lụa 桃園會遇 (Đào viên hội ngộ đồ) của Tạ Hoàn (謝環, Xie Huan hay Hsieh Huan, khoảng 1370-1450) là điển hình cho tập quán này. Xem ra thì hình người trong TLDSXS cũng không xa rời nhiều những hình theo tập quán trong Đào viên… Hai con hạc cũng giống nhau như hai giọt nước, chỉ khác là một con đang đi và một con đứng có vẻ đang tìm ăn.

hinh 17

 

Hình 17. Trích đoạn chính của 桃園會遇 (Đào viên hội ngộ đồ) – điển hình cho tập quán vẽ người.

9.b. Tình cờ chúng tôi có gặp trích đoạn từ một thủ quyển dài 41 x 723,8cm, cũng về cảnh đón tiếp, đó là bức 歸莊 (Quy trang đồ) do He Cheng (1224-sau 1315) vẽ minh họa bài Quy khứ lai từ (Lời bày tỏ việc trở về) của Đào Tiềm tức Đào Uyên Minh ( , 淵明, 365-427)[7]. Được biết năm ông Đào Tiềm khoảng 40 tuổi, vì nhà nghèo mà còn phải nuôi mẹ già, vợ con (ông có cả thảy năm người con trai), nên ông ra làm huyện lệnh Bành Trạch (vì thế ông còn được gọi là Đào Bành Trạch). Được hơn 80 ngày, nhân cuối năm quận phái viên đốc bưu đến huyện, nha lại khuyên Đào Tiềm chỉnh đốn y phục ra đón. Ông than rằng [dịch đại ý]: Ta sao lại có thể vì năm đấu gạo mà phải chịu còng lưng, vòng tay thờ bọn tiểu nhân nơi thôn xóm ấy ru! Ngay hôm ấy ông viết bài Quy khứ lai từ rồi trả ấn bỏ quan mà về. So sánh trích đoạn trung tâm của Quy trang đồ với trích đoạn tương tự trong Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ thấy sự khác biệt khá lớn.

hinh 18

 Hình 18. (Trên) Toàn bộ tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ do Trần Giám Như vẽ năm 1363.(Dưới) Trích đoạn chính của Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ.

Trong toàn cảnh đoạn giữa TLDSXS, thấy rõ Đại sĩ ngồi cáng-võng đang đi (chỉ một tăng nhân cuốn cà sa hở vai bên phải là đứng thiền, tất cả 11 người cũng như cả đoàn đều đang đi – vạt áo hơi cong theo bước chân di chuyển và có lẽ do đi đường mệt nhọc nên họ đi rời rạc, thành năm nhóm nhỏ) và Vua cũng như các vị khác đều đứng chờ đón (17 người, dáng vẻ đều nghiêm trang, tĩnh tại, trừ vị thắt lưng bó que, ngang tàng vác kiếm trước mặt vua và 4 vị không râu ria [hoạn quan chăng?] mỗi vị cầm một thứ đồ phục vụ vua [tráp {trầu, chăng?}, ống phóng, quạt lông, kiếm)…

 

hinh 19

Hình 19. Trích đoạn chính của 歸莊 (Quy trang đồ), vẽ trước TLDSXS.

Chúng ta thấy vợ con, gia nhân cùng người làng hăm hở đón Đào Tiềm từ quan về làng, 15 người, người lớn trẻ em, nam nữ, mỗi người một dáng vẻ sinh động, nồng nhiệt…

Chúng tôi còn thấy một hình vẽ, sau Trần Giám Như khoảng hơn ba trăm năm, về đám rước vua Lê đi tế Nam Giao ở Đàng Ngoài. Voi đi đầu mở đường, quản tượng ngồi trên đầu voi, thân voi trang trí đơn giản. Chân voi ở đây không vẽ 5 móng trước, vòi không hình móc câu như trong TLDSXS.

 

hinh 20

Hình 20. Đám rước vua Lê đi tế Nam Giao (vẽ trước năm 1685).

Các hình 9, 15 và 20 được lấy từ sách A Description of the Kingdom of Tonqueen do Samuel Baron viết năm 1685 có vẻ như ở Đông Kinh (Hà Nội ngày nay). Baron – có thể là người có cha Hòa Lan, mẹ Việt – sinh ra và lớn lên ở Đông Kinh, đi học ở nước ngoài rồi quay về lúc thì làm cho Thương điếm Hòa Lan, khi thì theo Công ty Đông Ấn của Anh. Ông đã nhờ một người Việt vẽ những cảnh sinh hoạt ở đó để minh họa cho sách trên nhưng khi xuất bản lần đầu ở London (Anh) năm 1732, các hình đã được họa sĩ Anh sửa lại cho đúng nguyên tắc hội họa hiện đại; lúc này Baron đã mất tích nên không có cơ hội xem lại hình sau khi sửa. Người ta vẫn tin là những thông tin và hình ở sách trên phản ánh đúng thực tế địa phương cuối thế kỷ 17.

*

Trần Giám Như cũng như He Cheng được chúng ta ngày nay biết đến là nhờ chọn trúng đề tài nổi tiếng. Hai ông đều không đứng trong Danh sách 250 họa sĩ và người viết thư pháp Trung Quốc, trên Wikipedia English. He Cheng được nói đến trong các sách về hội họa Trung Quốc mà chúng tôi tham khảo để viết bài này (xin xem Tài liệu đã dùng). Trần Giám Như được người Việt chúng ta ngày nay biết đến nhờ giá bản sao TLDSXS cao bất ngờ… Chính cái bất ngờ đó cũng nói lên phần nào địa vị của ông trong giới hội họa. Tên ông dưới dạng Trần Giám Như, 陳鑑如 hay Chen Jian Ru[8] chưa một lần xuất hiện như một ngôi sao hội họa Trung Hoa.

Thành thật xin lỗi quý vị về những ý nghĩ rất trần tục xuất phát từ những hình thấy trên TLDSXS và từ thực tế. Kính mong quý vị cao minh chỉ bảo thêm cho. Xin chân thành cám ơn trước.

 

TÀI LIỆU ĐÃ DÙNG

***. The Art of China – 3000 Years of Art and Literature. Edited by Jason Steuber. First ed. London, Scriptum Editions, 2007.

***. http://vi.wikipedia.org từ khóa Đào Tiềm (truy cập ngày 30/05/2013).

***. http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=1462 (truy cập ngày 31/05/2013).

***. http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter15 (truy cập ngày 31/05/2013).

Baron, Samuel. A Description of the Kingdom of Tonqueen (1685-1686). rpt in Views of Seventeenth Century Vietnam – Christoforo Borri on Cochinchina and Samuel Baron on Tonkin (Introduced and Annoted by Olga Dror and K.W. Taylor). Ithaca, New York, Cornell University, 2006.

Chang, Joseph and Bai Qianshen. In Pursuit of Heavenly Harmony – Paintings and Calligraphy by Bada Shanren [Bát Đại Sơn Nhân] from the Estate of Wang Fangyu and Sum Wai. Washington, D.C., Freer Gallery of Art, Smithsonian Institution, 2003.

Clunas, Craig. Elegant Debts – The Social Art of Wen Zhengming [Văn Trình Minh], 1470-1559. London, Reaktion Books, 2004. 7 trang tên các họa sĩ và người có viết, vẽ trước tk 15-16.

Nguyễn Nam. Diện mạo Trần Nhân Tông qua Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ. Tạp chí Hán Nôm, số 2(39), 1999.

Nguyễn Nam. Hiệu ứng “thủ quyển” trên Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ. Bản mềm trên http://phebinhvanhoc.com.vn (truy cập 23/5/2013).

Nguyễn Quảng Minh, François Fabus. Có chăng tính dị ứng hình ảnh trong chúng ta? Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (đang in).

Nguyễn Xuân Hiển. La picto-allergie vietnamienne et les gravures du Technique du peuple annamite. in L’image visuelle et écrite de la chique de bétel traditionnelle au Vietnam. New York, Sun Publishers, Inc., 2011. pp.259-288.

Sullivan, Michael.Symbols of Eternity – The Art of Landscape Painting in China. Oxford, Clarendon Press, 1979.

Tuymans, Luc en Yu Hui. Het Verboden Rijk – Wereldbeelden van Chinese en Vlaamse Meesters. Brussel, Mercatorfonds en BoZarBooks, Paleis voor Schone Kunsten, 2007.

Wen C. Fong. Beyond Representation – Chinese Painting and Calligraphy 8th – 14th Century. New York, The Metropolitan Museum of Art and New Haven and London, Yale University Press, 1992.

Yang Xin et al. Three Thousand Years of Chinese Painting. New Haven & London, Yale University Press and Beijing, Foreign Languages Press, 1997.

Zhang Anzhi. A History of Chinese Pinting. Beijing, Foreign Languages Press, 2002.



CHÚ THÍCH   [1] Hiện nay ở ta từ thư họa thường được dùng với nội dung tương đương như từ 書法 (thư pháp) trong
 Trung văn. Trong tiếng Anh đó là calligraphy. Tranh/Bức thư họa còn có thể gây hiều lầm thành tờ viết chữ đẹp như tranh ![2] Thường dịch là ink and color on silk (hoặc on paper).
[3] Chúng tôi chưa tận mắt xem dẫn thủ của những bức họa thư này, nhưng đã kiểm tra kỹ qua những tác phẩm thứ cấp đáng tin như The Art of China – 3000 Years of Art and Literature (Edited by Jason Steuber 2007), Three Thousand Years of Chinese Painting (Yang Xin et al. 1997), A History of Chinese Pinting (Zhang Anzhi 2002), In Pursuit of Heavenly Harmony – Paintings and Calligraphy by Bada Shanren [八大山人, Bát Đại Sơn Nhân] from the Estate of Wang Fangyu and Sum Wai (Chang, J. and Bai Qianshen 2003),… Có lẽ xuất nhập cũng không nhiều.
[4] Trong tranh thủy mặc [mực tàu], có vẽ màu vàng chăng? Ngày nay nhìn tranh, không thấy màu sắc; hơn sáu trăm năm trước, có màu chăng ? Hơn nữa, đạo sĩ chỉ búi tóc trên đỉnh đầu và bao búi tóc bằng vải, cài châm từ trái qua phải. Người thứ hai trong TLDSXS có búi tóc như đạo sĩ là người cao lớn nhất trong tranh và được đoán là vua Trần Anh Tông.DVSKTT, Bản kỷ, q.VI, tr.31b có một thông tin về trang phục và hình dáng của vua Trần Minh Tông (con vua Trần Anh Tông, cháu đích tôn của Đại sĩ Trúc Lâm): [Năm] Giáp Dần, [niên hiệu] Hưng Long thứ 22 [1314]… (từ tháng 3 trở đi là Đại Khánh năm thứ 1) [tr.31b] Sau khi vua nhận nhường ngôi, sứ Nguyên sang, làm lễ đọc quốc thư xong, hôm sau ban yến. Vua mặc áo tràng vạt bằng là màu vàng, đội mũ có thao, sứ giả khen [32a] vua là “thanh thoát như thần tiên“. Đến khi về nước, [sứ giả] thường nói đến vẻ người thanh tú của vua. Sau này, sứ ta sang [Nguyên], có người hỏi rằng: “Tôi nghe nói thế tử vẻ người thanh tú nhẹ nhõm như thần tiên có đúng không?” Sứ ta trả lời: “Đúng như thế, song cũng là tiêu biểu cho phong thái cả nước“. (gạch dưới của NQM)
doan
Đoạn về Đạo sĩ Lâm Thời Vũ trong bài của Dư Đỉnh.
dao si
 Đạo sĩ Trung Quốc Lâm Thời Vũ với búi tóc bọc vải, cài châm từ trái qua phải. Dư Đỉnh viết trong bài là đạo sĩ đội ‘hoàng quan’ (!).  Vua Đại Việt với búi tóc bọc vải, cài châm cũng từ trái qua phải. Nếu việc Xuống núi là vào năm 1295, thì lúc này vua khoảng 20 tuổi ta.

Nhiều hình vẽ do người Tây phương thực hiện trong các thế kỷ 18, 19 cho biết, ông cha chúng ta có khổ mặt xương xương, lưỡng quyền cao gồ, râu ria thưa cứng. Nhưng cũng cần lưu ý đến thông tin sau trong DVSKTT, Bản kỷ, q.V, tr.1a: Trước kia, tổ tiên vua [Trần Thái Tông, ở ngôi 1225-1258, ông nội của Đại sĩ Trúc Lâm] là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làmnghề đánh cá. Vua là con thứ của Thừa…

[5] Bài Hiệu ứng gọi quý vị này là người Tây vực.
[6] DVSKTT, Bản kỷ, q.VI, tr.16a cho biết ở ta cũng vậy: [Năm] Canh Tý, [niên hiệu] Hưng Long thứ 8 [1300] … Mùa đông, tháng 10, quy định kiểu mũ áo mới của quan văn võ. Quan văn thì đội mũ chữ đinh màu đen, tụng quan thì đội mũ toàn hoa màu xanh vẫn như quy chế cũ. Ống tay áo của các quan văn võ rộng 9 tấc đến 1 thước 2 tấc, không cho dùng từ 8 tấc trở xuống. Các quan văn võ không được mặc xiêm, tụng quan không được mặc thường (mũ toàn hoa xanh có hai vòng vàng đính vào hai bên).
[7] Quý vị nào muốn xem toàn văn bài 歸去來辭 rất nổi tiếng và hay này của Đào Tiềm cùng bản dịch tiếng Việt của Trần Trọng San, xin mời truy cập tại http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=1462. Đọc bài từ rối ngắm trích đoạn lấy ở 歸莊 (Quy trang đồ) mới cảm nhận phần nào cái thanh tao giữa thiên nhiên của nhà Nho xưa.
[8] Có nhiều cách ‘la tanh hóa’ chữ khối vuông tượng hình của Trung Quốc, vì vậy cùng một chữ Hán mà thành 5-6 chữ dạng la tanh khác nhau.
Nguồn: Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn.Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

1 phản hồi

  1. Lê Xuân Dũng nói:

    Bài viết xuất sắc!
    Những bài nghiên cứu như thế này mới thực sự là những bài phản biện – nghiên cứu khách quan và khoa học.

Leave a Reply