Nhận xét và đề nghị xung quanh việc viết lịch sử văn học Việt Nam


Lê Quang Tư
Viết lại hay viết mới lịch sử văn học không chỉ là câu hỏi lớn đối với giới nghiên cứu văn học trong nước mà còn đối với cả giới nghiên cứu văn học nước ngoài. Góp phần nhìn nhận vấn đề này một cách sâu sắc hơn cũng như để góp phần tìm ra một cách trả lời thỏa đáng, Tạp chí Văn nghệ Quân đội xin trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây của một tác giả trẻ, rất mong được sự tham gia góp ý của các nhà văn, các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học và đông đảo bạn đọc.

Từ đầu thế kỷ XX, sau khi tiếp xúc với phương pháp văn học sử phương Tây, các nhà văn học sử Việt Nam đã tiến hành khảo cứu và biên soạn lịch sử văn học Việt Nam. Năm 1925, Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm xuất hiện, việc phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam được hình thành. Năm 1929, Nữ lưu văn học sử của Sở Cuồng (Lê Dư) ra đời đánh dấu sự ra đời khái niệm “văn học sử” trong tên gọi của công trình nghiên cứu lịch sử văn học. Sau đó, hàng loạt các công trình văn học sử Việt Nam được ấn hành như Thử viết Việt Nam văn học sử của Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (Tri Tân, từ số 2, 6-1941, đến số 56, 7-1942); Đại Việt văn học lịch sử (1941) của Nguyễn Sĩ Đạo;Việt Nam cổ văn học sử (1942)(1) của Nguyễn Đổng Chi; Văn học đời Lý và Văn học đời Trần (1942)(2) của Ngô Tất Tố; Việt Nam văn học sử yếu (1943)(3) của Dương Quảng Hàm; Cuộc tiến hoá văn học Việt Nam (1943) của Kiều Thanh Quế; Việt Nam văn học sử trích yếu (1949)(4) của Nghiêm Toản… Sau đó, ở miền Bắc, các công trình văn học sử Việt Nam được biên soạn như bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Ban nghiên cứu Văn Sử Địa và Viện Văn học, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn, hai bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lịch sử văn học Việt Nam(5), tập 1 của Ủy Ban khoa học xã hội Việt Nam. Ở miền Nam, dưới chế độ Sài Gòn, một số công trình văn học sử có giá trị cũng xuất hiện như Việt Nam văn học sử giản ước tân biên(6) của Phạm Thế Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam(7) của Thanh Lãng…

Khi khảo sát các công trình văn học sử Việt Nam, chúng tôi nhận thấy các công trình văn học sử này đã tạo ra nhiều góc nhìn khác nhau về lịch sử văn học Việt Nam. Mỗi công trình văn học sử giúp chúng ta nhìn ra một diện mạo và đặc điểm của lịch sử văn học dân tộc. Quan niệm văn học sử của các soạn giả có sự thống nhất nhưng không đồng nhất. Bởi vì, khi tái hiện lịch sử văn học, họ khác biệt về quan niệm văn học, về phương pháp biên soạn như cách phân kỳ, chọn lựa các bộ phận văn học viết bằng các ngôn ngữ khác nhau, và khác biệt về cách trình bày cụ thể. Một hình ảnh đa diện về lịch sử văn học dân tộc đã được dày công nghiên cứu và giới thiệu, có khi khái quát cả nền văn học, có khi chỉ trích yếu, sơ thảo, lược thảo… Mỗi công trình văn học sử có thành tựu riêng, song với những điểm mạnh đó, các công trình này đủ sức giới thiệu những đặc trưng, đặc điểm, quy luật cơ bản của tiến trình văn học Việt Nam. Nó đã đóng vai trò giới thiệu, quảng bá nền văn học dân tộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới. Cuối cùng, thông qua các công trình văn học sử, chúng ta nhận thấy rất nhiều hình thức biên soạn lịch sử văn học đã được vận dụng khi nghiên cứu nền văn học Việt Nam.

Các công trình văn học sử Việt Nam trong thế kỷ XX thực sự đã trở thành tiền đề lớn, cơ sở nghiên cứu, lý luận về phương pháp luận và cách viết cho việc biên soạn lịch sử văn học Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, các quan điểm của các công trình văn học sử này có sự kế thừa, phê phán nhau và phát triển thêm cái mới, nhưng chưa có hệ thống phương pháp luận văn học sử hoàn chỉnh. Đôi lúc quan điểm người đi sau lại không hẳn đã mới hơn người đi trước. Phần lớn, các nhà văn học sử quan tâm đến những vấn đề mang tính quan niệm lý thuyết và những vấn đề đặt ra khi viết lịch sử văn học mà mình gặp phải. Mức độ quan tâm về lí luận văn học sử của họ ngày càng sâu sắc, thỏa đáng, mới hơn.

Ở trong các công trình văn học sử Việt Nam trong thế kỷ XX, quan điểm lý luận về lịch sử văn học của các nhà nghiên cứu thường xoay quanh những vấn đề cụ thể và cơ bản như vấn đề tư liệu, sử liệu. Lý do, động cơ viết văn học sử của họ cũng khá rõ ràng, người thì muốn bảo tồn văn hoá dân tộc, người thì nhằm phục vụ công tác giảng dạy. Quan niệm văn học, lịch sử văn học cũng được nhiều nhà nghiên cứu như Dương Quảng Hàm, Thanh Lãng, Ban nghiên cứu Văn Sử Địa… trực tiếp hay gián tiếp thể hiện. Các vấn đề về ảnh hưởng văn hóa, văn học từng khu vực, tương quan văn học Việt Nam và thế giới, văn học, nghệ thuật, văn hóa cũng được bàn ở mức độ nhất định. Ngôn ngữ văn học được nhiều nhà văn học sử chú ý, bởi nó tạo nên các bộ phận văn học trong nền văn học Việt Nam. Quan niệm về ngôn ngữ văn học của họ không thống nhất mà có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Phạm vi đối tượng văn học được phản ánh trên bình diện thời gian, các bộ phận, đặc điểm, quy luật… cũng có nhiều điểm bất đồng. Các mối quan hệ bên ngoài văn học được khai thác sâu rộng, nhưng hướng nghiên cứu nội tại văn học vẫn còn mờ nhạt. Mốc phân kỳ và tiêu chí phân chia các thời kỳ, giai đoạn văn học đa dạng và phức tạp. Song, thông qua đó, đặc điểm các thời kỳ, giai đoạn văn học như tư tưởng học thuật, hệ thống chủ đề đề tài, các tác gia, tác phẩm văn học tiêu biểu, cảm hứng chủ đạo của thời đại, hình tượng văn học cơ bản của các tác phẩm, cá tính sáng tạo của tác giả được giới thiệu khá đầy đủ. Những khuynh hướng tư tưởng (ý thức hệ phong kiến, tư tưởng phương Tây xâm nhập và tư tưởng, phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin), tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử văn học Việt Nam đã được giới thiệu rõ nét. Việc phân chia bố cục, cấu trúc của công trình văn học sử từ ý kiến cá nhân đã chuyển dần đến sự thống nhất của tập thể biên soạn và rộng ra thông qua các cuộc hội thảo lớn. Một số cách viết, phương pháp trình bày như thuật chép sử, thuật viết tiểu sử, thuật phê bình; phương pháp tiểu sử học, phương pháp tâm lí học, xã hội học…đã được vận dụng. Với những quan tâm đó, các nhà nghiên cứu đã cho ra đời các công trình văn học sử Việt Nam với những thành tựu và giới hạn nhất định từ lý thuyết đến thực tế biên soạn. Và, những vấn đề mang tính lí luận này trong các công trình văn học sử trên đã tạo ra cơ sở nghiên cứu vững chắc do được thử thách gần một thế kỷ qua.

Đồng thời, cùng với sự phát triển của ngành lý luận, phê bình văn học trong khoa nghiên cứu văn học Việt Nam, những lý thuyết văn học sử hiện đại dần dần được du nhập vào nước ta. Sự tương tác giữa quan niệm văn học mới và cũ, sự vận động của lịch sử xã hội đã gợi mở những vấn đề mang tính lý luận về lịch sử văn học Việt Nam. Vì thế, những cuộc hội thảo biên soạn lịch sử văn học ra đời, các tổ chức, cơ quan nghiên cứu văn học ấp ủ xây dựng các công trình văn học sử Việt Nam mới. Hai công trình mang quan điểm văn học sử hiện đại được xuất bản gần đây nhất là Văn học Việt Nam thế kỷ XX(8) do Phan Cự Đệ chủ biên và Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX(9) do Trần Ngọc Vương chủ biên. Kết hợp với lý luận về lịch sử văn học hiện đại, những thành tựu nghiên cứu văn học sử trong thế kỷ XX sẽ giúp các nhà văn học sử hiện nay một căn cốt cả lý luận lẫn thực tiễn đủ để tiến hành xây dựng những công trình văn học sử mới hơn.

Bên cạnh đó, những hạn chế cơ bản nhất của các công trình văn học sử Việt Nam trong thế kỷ XX thể hiện qua phương pháp biên soạn lịch sử văn học, quy mô công trình và tư liệu.

Về phương pháp biên soạn lịch sử văn học và quy mô công trình, các công trình văn học sử này còn nhiều vấn đề đáng quan tâm như hướng tiếp cận, các bộ phận văn học Việt Nam, phân kỳ văn học… Nhiều người biên soạn công trình văn học sử không thuần tuý giới thiệu về tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Trước thực tiễn đất nước, một số nhà nghiên cứu như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố… muốn xây dựng một nền học thuật Việt Nam trong đó có văn học nhằm bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc, bảo tồn tư liệu văn học. Hoặc phần lớn, các công trình văn học sử tiêu biểu nhất thường nhằm phục vụ giảng dạy, nên cách viết bị chi phối bởi tính chất giáo khoa, giáo trình. Các vấn đề bộ phận văn học dân tộc, phân kỳ văn học… như trên đã bàn đều không có sự thống nhất về quan niệm. Còn quy mô công trình cũng chỉ ở mức sử yếu, trích yếu, giản ước tân biên, bảng lược đồ, giáo trình… Nhiều bộ lịch sử văn học tuy có đến sáu hoặc bảy cuốn, song về chất lượng của nó vẫn còn ở mức giản yếu.

Trên phương diện tư liệu văn học, sự sai sót hay thiếu tư liệu đã ảnh hưởng lớn đến các công trình văn học sử trong thế kỷ XX. Về sự đánh giá các hiện tượng văn học, một số hiện tượng văn học đã được đánh giá không chuẩn xác hoặc chưa đúng mức. Người viết văn học sử cần đứng trên góc độ khoa học chuyên môn là chính. Việc phục hồi giá trị của các hiện tượng văn học, nghiên cứu sâu các giá trị các hiện tượng văn học theo hướng đổi mới, hội nhập hiện nay cho thấy những nhận định về các hiện tượng văn học trong các công trình văn học sử đã có nếu không được chỉnh lý, bổ sung thì sẽ có nhiều thiếu sót.

 Đến nay, tuy những công trình văn học sử Việt Nam trong thế kỷ XX đã giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa, văn học của dân tộc; phục vụ công  tác giáo dục; tìm ra quy luật vận động của lịch sử văn học Việt Nam; nhưng trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, chúng chưa đáp ứng được những yêu cầu mới. Nhiều nhà văn học sử muốn biên soạn những công trình văn học sử Việt Nam mới hơn, có quy mô lớn hơn. Theo chúng tôi, việc tiếp thu những thành quả của các nhà văn học sử Việt Nam trước đây và của các nhà văn học sử nước ngoài sẽ làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học Việt Nam hiện nay.

Về nghiên cứu văn học sử Việt Nam, chúng tôi nhận thấy rằng, những vấn đề cần quan tâm hơn nữa khi nghiên cứu văn học sử Việt Nam là:

Thứ nhất, công tác sưu tầm và xác minh các tư liệu sử liệu văn học sử là điều phải được chú trọng đúng mức. Việc sưu tầm tư liệu văn học sử nhằm lấp đầy những khoảng trống trong thực trạng văn học Việt Nam. Sự xác minh các tư liệu văn học sử ngày càng được hỗ trợ từ những thành tựu các khoa học liên quan. Vấn đề tư liệu được quan tâm đúng mức sẽ giúp việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử văn học đầy đủ và toàn vẹn hơn.

Thứ hai, khi nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học, các nhà văn học sử cần định hướng nghiên cứu với mục đích và phương pháp cụ thể để các công trình không trùng lặp kết cấu chiều rộng lẫn chiều sâu.

Thứ ba, nhà văn học sử vận dụng thành tựu lý luận văn học trong nghiên cứu sẽ đạt kết quả ở tầm khái quát cũng như chuyên sâu hơn. Những vấn đề lý luận này gồm những phương diện cơ bản như quan niệm về văn học và lịch sử văn học, quan niệm về mô hình, khái niệm khung, hệ tiêu chí, tính hệ thống, phân kỳ, phương pháp viết, phương pháp luận của lịch sử văn học.

Nhìn chung, các nhà văn học sử Việt Nam đã kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo vào đối tượng đặc trưng là văn học Việt Nam, xây dựng những bộ lịch sử văn học Việt Nam có giá trị. Tuy nhiên các nhà văn học sử có thể nghiên cứu và viết một bộ lịch sử văn học Việt Nam mới đầy đủ tất cả các lãnh vực, bao gồm các hiện tượng văn học theo phương pháp liên ngành, hay từng bộ lịch sử văn học theo phân ngành. Cũng có thể nhà văn học sử viết theo đối tượng sử dụng như dùng cho những nhà nghiên cứu, dùng trong học đường và cho tất cả mọi người trong xã hội, hoặc dành cho du lịch…

Về phương pháp viết lịch sử văn học Việt Nam, trên thực tế, việc vận dụng lý thuyết về lịch sử văn học của các trường phái nghiên cứu văn học vào thực tiễn của các nền văn học dân tộc không giống nhau. Những bộ lịch sử văn học Việt Nam trong thế kỷ XX thường không được viết theo một lý thuyết chuyên biệt, mà theo hướng tổng hợp. Tuỳ từng công trình văn học sử, sự tạo dựng bố cục, cách đặt vấn đề, cách giảng giải các vấn đều mang tính đặc trưng riêng. Phương pháp viết của các công trình văn học sử Việt Nam vừa có tính truyền thống vừa bắt đầu kết hợp với tính hiện đại.

Hiện nay, trên cơ sở những thành tựu nhất định trong việc biên soạn lịch sử văn học trong thế kỷ XX, các nhà văn học sử đang tiếp tục biên soạn những công trình văn học sử mới trên quan điểm về lý luận lịch sử văn học hiện đại. Chúng tôi nhận thấy việc biên soạn này cần lưu ý những vấn đề về phương pháp viết như sau:

Một là, các phương pháp viết mới cần tiếp thu hướng viết lịch sử văn học từ khuynh hướng nghiên cứu nội tại. Đây là “cách nghiên cứu văn học từ những quan hệ bên trong của văn bản tác phẩm, loại bỏ các cách tiệp cận từ hiện thực, nhà văn và công chúng”(10) như R.Wellek đã chỉ rõ. Khuynh hướng này có thể bổ túc cho thực trạng nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học hiện nay. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là Chủ nghĩa hình thức, Phê bình mới, Chủ nghĩa cấu trúc… Ví như, chủ nghĩa cấu trúc đã đưa ra các mô thức hay quy luật vận động của cấu trúc văn học. Tz. Todorov(11) đưa ra ba mô thức thảo mộc, kính vạn hoa và ngày sáng đêm tối. Mô thức thảo mộc là mô thức phổ biến nhất, nhìn nhận quy luật phát triển văn học theo tiến trình của cơ thể sống phát sinh, trưởng thành, già đi và chết. Mô thức vạn hoa, rất phổ biến trong nghiên cứu văn học thế kỷ XX, cho rằng yếu tố cấu thành văn chương được xác định một lần rồi thay đổi. Tổ hợp của các thành tố thay đổi qua các thời kỳ. Mô thức ngày và đêm hình dung văn học dựa trên phương thức đối lập giữa văn học thời kỳ trước và văn học hôm nay.

Thực tế ở Việt Nam trong thế kỷ XX, không bao giờ chỉ có sự tồn tại cái bên ngoài, những lãnh vực bên trong bản thân văn học đều đã được nghiên cứu nông sâu khác nhau. Trước hết, quan điểm của các nhà văn học sử mà chúng tôi đã khảo tả thiên về tiếp cận văn học từ bên ngoài. Quan điểm nghiên cứu và tiếp cận từ bên ngoài văn học không lấy bản thân văn học làm trung tâm. Tính mục đích bên ngoài này đã ảnh hưởng phương pháp tiếp cận của nhà nghiên cứu. Dương Quảng Hàm muốn vẽ lại diện mạo của quốc học xưa. Phạm Thế Ngũ đáp ứng người không chuyên, Thanh Lãng có quan niệm mới nhưng chịu sức ép của viêc giảng dạy nên in gấp. Nhóm các nhà văn học sử Mácxít miền Bắc (cũ) và thời kỳ thống nhất đất nước, chủ yếu phục vụ cho tư tưởng đấu tranh giai cấp, đấu tranh thống nhất đất nước, chưa có điều kiện để làm nên một sự đổi mới rõ rệt. Lịch sử văn học với tính chất hàn lâm, hay sự tương xứng giữa vai trò giáo dục và nghiên cứu còn bỏ ngõ. Do vậy, lịch sử văn học chịu sức ép bên ngoài rất lớn. Môi trường “kinh tế thị trường” hiện nay càng khiến cho các nhà văn học sử Việt Nam khó khắc phục những hạn chế này.

Tiếp đến, thành tựu của quan điểm tiếp cận từ bên ngoài rất lớn, nên những công trình văn học sử mà chúng ta đang có, giữ vai trò chi phối trong phương diện nghiên cứu lí luận văn học sử cũng như những hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, các nhà văn học sử Việt Nam đang tiếp thu lý luận về lịch sử văn học hiện đại, muốn tiếp cận từ chính bản thân văn học. Nếu tăng phần tiếp cận văn học từ bên trong văn học, nhà văn học sử sẽ xây dựng được một chỉnh thể có tính biện chứng giữa hai hướng tiếp cận này.

Sau cùng, mầm mống của các quan điểm lý luận về lịch sử văn học hiện đại đã xuất hiện trong một số quan điểm về lý luận về lịch sử văn học trên. Ví dụ, lý thuyết lịch sử văn học kết hợp với lý thuyết tiếp nhận, chúng ta đã thấy ở Thanh Lãng. Một phần văn học so sánh đã hiện hữu từ lâu ở Việt Nam. Đặc biệt, vì văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng các nền văn học khác rất lớn, cho nên, các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam đều đã nghiên cứu sự ảnh hưởng này trên nhiều bình diện như văn hóa, văn học, ngôn ngữ, học thuật…

Hai là, những vấn đề viết lại hay viết mới lịch sử văn học Việt Nam đều rất phức tạp. Trong bài Vấn đề viết lại văn học sử ở Trung Quốc, Trần Đình Sử đã giúp chúng ta khái quát thực tiễn và kinh nghiệm viết lại văn học sử ở Trung Quốc sau “cách mạng văn hoá”. Lối tư duy nhị phân cách mạng/phản cách mạng, tư sản/vô sản… trong khi viết văn học sử trước thập niên 80 của thế kỷ XX đã được các nhà văn học sử Trung Quốc thay đổi dần, tiêu biểu là Trần Tư Hoà trong Giáo trình văn học đương đại Trung Quốc. Quan điểm viết lại văn học sử theo nhiều hướng mới nhằm giải quyết thoả đáng mối quan hệ chính trị và văn học vẫn chưa có điểm dừng thích hợp. Khoáng Tân Niên cho rằng việc viết lại văn học sử thập niên 90 thế kỷ trước vẫn còn điểm mù “như im lặng trước các phong trào chính trị là không đúng, đánh giá quá cao các nhà văn tự do chủ nghĩa…”(12) Các nhà văn học sử Việt Nam chưa có một phong trào viết lại văn học sử như Trung Quốc, nhưng với quan điểm mới trong nghiên cứu văn học hiện nay thì những kinh nghiệm thực tiễn này rất cần thiết.

Ba là, những nguyên tắc viết văn học sử ngày càng được giới thiệu cụ thể, việc vận dụng thích ứng và có hiệu quả còn phụ thuộc vào các nhà nghiên cứu. Theo Cát Hồng Binh(13), lý luận về lịch sử văn học Trung Quốc hiện nay đứng trước vấn đề nan giải về quan niệm tính khoa học của văn học học sử, quan niệm tiến hoá luận, quan niệm lí tính quá tín ngưỡng vào quy luật văn học sử, vào mô hình văn học sử không thích hợp với tư duy hiện đại. Sự thay đổi quan niệm về lịch sử và diễn ngôn lịch sử đã khiến “Lịch sử văn học thực ra là một thứ lí luận văn học không ngừng định nghĩa về văn học.(…) là cái mà ta không thể coi nội dung của nó là văn học chân thực hay lịch sử chân thực”(14) Do đó, khi viết văn học sử, các nhà nghiên cứu có thể đa dạng hoá hình thức, hình thái biên soạn. Thí dụ, Tiền Trung Văn(15) đã khái quát thành bảy nguyên tắc viết văn học sử: nguyên tắc biên niên, nguyên tắc tiến hoá, nguyên tắc lịch sử văn hoá, nguyên tắc xã hội học, nguyên tắc lịch sử hình thức văn học (thể loại, phong cách, ngôn ngữ), nguyên tắc tiếp nhận văn học, và nguyên tắc quan niệm về quá trình tiến bộ văn học, về loại hình văn học và về sự so sánh văn hoá giữa các nền văn học trên thế giới.

Như thế, tư duy lý luận văn học sử và thực tiễn biên soạn lịch sử văn học Việt Nam đã có gần một thể kỷ để thử nghiệm, thể hiện. Phương pháp văn học sử phương Tây hay phương pháp văn học sử Mácxít đều đã được khai thác khá triệt để. Và hiện nay, tư duy về lý luận văn học sử lại được đa phương hóa, đa dạng hóa trên tầm quốc tế trong thời kỳ hội nhập. Vấn đề đổi mới lý luận văn học sử được đặt ra nhiều hơn nữa, các quan điểm, phương pháp văn học sử của nhiều trường phái bắt đầu được phiên dịch và giới thiệu rộng rãi. Nhưng, thực tiễn biên soạn lịch sử văn học Việt Nam trên quan điểm mới, trong giai đoạn mới vẫn còn bỏ ngõ. Thiết nghĩ, quan niệm “ôn cố tri tân” về phương pháp văn học sử sẽ có tác dụng trong việc viết lịch sử văn học Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Hàn Thuyên Xb. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1942.

(2) Ngô Tất Tố, Văn học đời Lý, Văn học đời Trần, Mai Lĩnh Xb, Hà Nội, 1942.

(3) Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Nha Học chính Đông Pháp Xb, Hà Nội, 1943.

(4) Nghiêm Toản, Việt Nam văn học sử trích yếu, Nxb Vĩnh bảo, Sài Gòn, 1949.

(5) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử văn học Việt Nam, quyển 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.

(6) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập I, Quốc học Tùng thư Xb, Sài Gòn, 1961.

(7) Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển Thượng, Trình bày Xb, Sài Gòn, 1967.

(8) Trần Ngọc Vương chủ biên, Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX những vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.

(9) Phan Cự Đệ chủ biên, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.

(10), (11) Phương Lựu, “Một số ý kiến liên quan đến văn học sử của các khuynh hướng “nghiên cứu nội tại””, Tạp chí Văn học, (3), 2003, tr.3.

(12), (13), (14), (15) Trần Đình Sử, “Vấn đề viết lại văn học sử Trung Quốc”, Tạp chí Nhà văn, (5), 2008, tr.122, 124.
Nguồn: http://vannghequandoi.com.vn/

Leave a Reply