Những cái chết trong văn học đương đại Việt Nam


Mai Vũ

Nền văn học của chúng ta hiện nay đang chứng kiến “sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của những tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học hiện thời của cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại, loại hình khác nhau (mà không nhất thiết là mang tính nghệ thuật), giữa văn bản và độc giả, và cuối cùng, giữa các văn bản và hiện thực” (TS. L.P. Rjanskaya).

Thật vậy, trước sự phát triển của mạng internet, trước sức mạnh của toàn cầu hóa, nhà văn Việt Nam đang đối diện với nhiều cái chết trong văn học. Họ đang đối diện với một sự thay đổi trước đây chưa từng thấy: thay đổi từ lối viết, chủ âm, ngôn ngữ đến việc giải các trung tâm văn học; từ vị trí tiếng nói đến việc chống lại những gì đang mưu toan xâm nhập vào văn học, điều khiển diễn ngôn văn học; thay đổi niềm tin ý niệm về hiện thực; thay đổi các mã, sự diễn giải. Không có chủ thể sáng tạo nào đứng ngoài văn bản vi mô của truyền thống, bởi vì nó thường xuyên trích dẫn, bắt chước, vay mượn tất cả những gì đã có từ trước đó. Trong văn bản của mình, chủ thể sáng tạo tồn tại như những dấu vết của những mã văn hóa nào đấy, và sự thực thì nó bị biến thành “một không gian trống rỗng của dự phóng trò chơi liên văn bản”. Người viết đang bị chìm vào tấm thảm văn hóa chằng chịt các mối liên hệ thời toàn cầu hóa. Cá tính của họ trong lối viết hậu hiện đại bị tan ra và biến mất, tác giả bị hòa vào cái văn bản chung mà nó không ngừng dẫn dựa một cách vô thức hoặc có ý thức. Dường như chúng ta chỉ nghe thấy giọng nói của văn bản, chỉ thấy các dạng khác của văn bản đã tồn tại trước đó mà thôi.Cái chết của tác giả, theo cơ chế như thế, là xảy ra đồng thời với cái chết của chủ thể tự chủ, cái chết của văn bản cá nhân. Và sau tất cả những cái chết ấy, chúng ta còn thấy, một cái chết có phần đặc biệt hơn trong cõi mênh mông của văn bản: cái chết của độc giả tiêu thụ. Những cái chết như chúng tôi vừa nói tới, thực ra, được dự báo từ lâu trong “trò chơi báo tang của các triết gia, các phê bình gia” (Nguyễn Hưng Quốc) trên thế giới thế kỉ XX.

Sau chiến tranh, nhất là từ thập niên 80, nhiều nhà văn, nhà phê bình văn học Việt Nam đã nhìn thấy và cổ xúy cho những cái chết cần có trong văn học đương đại. Chẳng hạn:

Ở lĩnh vực sáng tác, sau “tuyên bố” về cái chết của một kiểu độc giả trong bài “Viết về chiến tranh” (Văn nghệ quân đội số 11- 1978), nhà văn Nguyễn Minh Châu đã kêu gọi mọi người “hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (Văn nghệ, Hà Nội, số 49&50, 5-12-1987). Đến bài viết thứ hai này, Nguyễn Minh Châu chứng tỏ được ông là một trong những người sớm nhận ra cái chết của chủ thể tự chủ diễn ra trong một bối cảnh văn học đặc biệt của Việt Nam. Ông cho rằng, nhà văn thời nào cũng thường phải đối diện với rất nhiều thứ húy kị, với nhiều loại biển cảnh báo, chỉ đường. Nam Cao thời tiền chiến cũng từng “hô hoán ầm lên rằng thiên hạ bít hết lối của ngòi bút”, nhà văn viết cái gì cũng bị đe dọa trừng phạt, cũng sợ bị bức tử, anh ta phải chịu đủ thứ hệ lụy tức thì. Sự viết của nhà văn luôn bị canh chừng, bị kiểm soát bởi một hệ thống các văn bản, hệ thống văn hóa xã hội và các luật lệ có mặt ở nơi nhưng vô hình.

Nhà văn nào đi xuyên qua các cảnh báo, các khế ước anh ta sẽ có cơ may không bị chết yểu. Sở dĩ “nhà văn bị chết” bởi vì họ đã dừng lại trước hàng rào ngôn ngữ, họ đã thỏa hiệp “thích nghi với mọi thứ … luật lệ văn học”, đã chấp nhận hít thở, đi lại, suy nghĩ và viết lách dưới một bầu trời hẹp và thấp. Nhà văn biến mất, trước hết trong một hàng lang hẹp, và sau nữa: trong sự viết không chân thực của họ. Họ phải viết giả dối, phải trốn tránh sự thực, phải tự bạt đi chiều cao cho khỏi chạm trần, phải tự ép khuôn khổ chiều ngang cho nhỏ lại để đi lại thuận tiện hơn, để sự nói năng dễ được công nhận hơn. Cái chết của tác giả, diễn đạt theo Nguyễn Minh Châu, chính là hình thức “nhà văn đi ở ẩn ngay giữa tác phẩm của mình”. Phong cách, văn bản cá nhân, sự thực… cứ bị tan ra, bị chìm lấp cùng những nhà văn bị ý thức hệ hút vào nó, những nhà văn bị lịch sử và truyền thống gói lại trong bao nhiêu tầng chữ, bao lần lá. Cái chết của chủ thể tự chủ không thôi ám ảnh người viết nhiều thế hệ. Sự ám ảnh nặng nề ấy tạo thành những thói quen vô thức, một thứ phản xạ không điều kiện. Nguyễn Minh Châu chỉ rõ rằng, bất kỳ nhà văn nào cũng phải đối diện với trang giấy định mệnh. Anh ta muốn sống được thì phải làm động tác giả, còn không thì phải chịu sự ràng buộc của các quy chế văn học, các quy chế phát ngôn, chịu sự điều khiển của ý thức hệ chính thống. Mất mát to lớn nhất của văn học, Nguyễn Minh Châu cảnh báo –  “là từ đấy nhà văn đánh mất cái đầu và tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn”.Cái chết của chủ thể tự chủ, theo Nguyễn Minh Châu, diễn ra theo con đường người viết “tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực của trong ngòi bút”, diễn ra trong lối viết minh họa của kẻ sáng tác. Nhà văn với tính cách một cá nhân, một chủ thể chết đi để “cuối cùng trở thành chúng ta”. Đám đông được hình thành nên từ cái chết của những tác giả cá nhân, những văn bản vô danh.

Ở lĩnh vực phê bình, Hoàng Ngọc Hiến là người đầu tiên công khai tuyên cáo về cái chết của một lối viết, trong bài Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua (Văn nghệ, số 23 ngày 9-6-1979). Tác giả bài báo này cho biết, để đi đến tuyên cáo về cái chết của một lối viết, ông đã quan sát “một số quan niệm và thị hiếu văn học có ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng Việt Nam”. Hoàng Ngọc Hiến viết “Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”,….đọc một số tác phẩm, chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Ở lối viết hiện thực phải đạo, sự kiện lấn át nhân vật, bản sắc của nhân vật mờ nhạt đi. Chính việc đề cao “cái tập hợp chung chung” và sự thịnh hành của phương pháp nhận thức “tiên thiên”, theo cách diễn giải của Hoàng Ngọc Hiến, đã đưa đến cái chết của những nhân vật có cá tínhriêng. Lối viết hiện thực có đặc điểm là kiến tạo ra một trạng thái nhân thế đẹp một cách cao cả – một thế giới cao cả. Sau chiến tranh và nhất là sau Đổi mới, lối viết này bị phai nhạt, chìm lấp dần.

Nhìn chung, sau chiến tranh, chúng ta được nghe nhiều phát ngôn diễn giải về những cái chết, những sự sụp đổ trong sáng tác văn học và sinh hoạt học thuật. Xa và ồn ào thì có “cái chết của tiểu thuyết”, “cái chết của lịch sử”, “cái chết của Thượng đế”. Gần hơn và gây ra hoang mang, có tuyên cáo về “cái chết của văn học”,  “cái chết của chân lí”, tinh thần duy lí toàn trị, “cái chết của các đại tự sự”, thậm chí là “cái chết của hiện thực”, “cái chết của các điển phạm và những thiết chế gắn liền với những điển phạm ấy”, “cái chết của  thơ”, “cái chết của lí thuyết”, …

Sau những lời ai điếu gây chấn động văn giới của Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến, đến nay, theo chúng tôi quan sát, tuyên bố của Nguyễn Ngọc Tuấn về “những cái cần chết trong văn học” có thể coi là gây sốc hơn cả (xem “Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học” trong Văn học Việt Nam thời toàn cầu hóa).

Nguồn: http://vanhocquenha.vn/


Leave a Reply