Phân tâm học của Sigmund Freud qua sự kiến giải của các nhà tư tưởng nữ quyền đương đại*


Nguyễn Việt Phương

Summary:

 Phân tâm học là trường phái tư tưởng hiện đại do nhà tâm lý học, nhà triết học Áo Sigmund Freud sáng lập vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Ngay từ khi ra đời những tư tưởng“dị biệt” của S.Freud đã thực sự gây choáng váng giới học thuật đương thời, thậm chí người ta còn nói đến một cuộc cách mạng về tư duy trong triết học hiện đại. Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi xuất hiện, phân tâm học của S. Freud đã lưu lại dấu ấn đậm nét của nó trong nền tư tưởng hiện đại và cho đến nay nó vẫn nhận được sự kiến giải đa diện từ nhiều phía. Bước sang những thập niên giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa nữ quyền phương Tây đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu có tính phê phán đối với phân tâm học của S. Freud nhằm phục vụ cho chiến lược nữ quyền. Với ý hướng cung cấp một “cái nhìn mới” về một “hiện tượng cũ”, bài viết tập trung phân tích để làm rõ thêm về phân tâm học của S. Freud qua những kiến giải đặc sắc của các nhà tư tưởng nữ quyền đương đại.

Key words: Phân tâm học, Sigmund Freud, chủ nghĩa nữ quyền, tính dục

1. Nhập đề

Phân tâm học do nhà tâm lý học, nhà triết học Áo Sigmund Freud (1856 – 1939) sáng lập vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Ngay từ khi ra đời, phân tâm học đã thực sự gây choáng váng giới học thuật, thậm chí lúc bấy giờ người ta còn nói đến một cuộc cách mạng về tư duy trong triết học hiện đại.
Trong sự nghiệp sáng tạo của mình, S. Freud đã triển khai phân tâm học vào nghiên cứu nhiều mảng đề tài khác nhau từ con người đến văn hóa. Trong lý thuyết về tính dục, dù không được S. Freud đặc biệt chú trọng nhưng ít nhất ông đã cố gắng tìm hiểu về tính dục của nữ giới với việc xuất bản một số nghiên cứu liên quan đến đề tài này như Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục (Three essays on the theory of sexuality – 1905), Một số hệ quả tâm lý của sự phân biệt có tính chất giải phẫu giữa hai giới tính (Some psychical consequences of the anatomical distinction between the sexes – 1925), Tính dục nữ(Female Sexuality – 1931), Nữ tính (Femininity – 1933),… Những kiến giải của Freud về tính dục của nữ giới trong các nghiên cứu trên đã gây nhiều tranh luận lúc bấy giờ và cho đến nay vẫn nhận được sự kiến giải từ nhiều phía. Có một điều đáng lưu ý đó là bản thân Freud cũng cảm thấy không hài lòng với những kiến giải của ông về tính dục nữ. Đối với Freud, tính dục nữ giống như một “lục địa thâm u” (dark continent) mà ông chưa tìm thấy lối vào. Năm 1924, Freud đành thú nhận rằng, hiểu biết của ông về tính dục nữ là “không thỏa đáng, đầy thiếu sót và ít nhiều còn mơ hồ”[1].
 Bước vào những năm giữa thế kỷ XX, sự xuất hiện của cái gọi là “chủ nghĩa nữ quyền hiện đại” đã tạo ra một tiếng vang không kém sự xuất hiện của phân tâm học trước đó. Các nhà tư tưởng nữ quyền khi xây dựng lý thuyết đã tìm đến phân tâm học của Freud như là một “người bạn không mấy thân thiện”. Mối quan hệ giữa Freud và chủ nghĩa nữ quyền hiện đại, vì thế, trở thành một trong những vấn đề gay cấn và kịch tính. Khi kiến giải về phân tâm học của S. Freud, các nhà tư tưởng nữ quyền, một mặt, đã tìm thấy ở đó những gợi ý thú vị về vấn đề tính dục nữ, nhưng mặt khác quan trọng không kém, họ cũng phê phán quyết liệt những khía cạnh được xem là “không tương thích với chiến lược nữ quyền”. Điều đó cho thấy mối quan hệ giữa phân tâm học của Freud và chủ nghĩa nữ quyền hiện đại là một mối quan hệ phức tạp vừa thể hiện khía cạnh “đối diện” (hiểu theo nghĩa xung đột) vừa thể hiện khía cạnh “gặp gỡ” (hiểu theo nghĩa tích hợp).
Từ góc độ giới, các nhà tư tưởng nữ quyền lý giải rằng, do Sigmund Freud được sinh ra trong một truyền thống văn hóa Châu Âu vốn đậm màu nam trị nên không có gì dị thường khi lý thuyết phân tâm học của ông xây nền trên mô hình lấy nam giới làm trung tâm và thái độ ghét phụ nữ của truyền thống tư tưởng phương Tây.[2] Cơ sở của các nhà nữ quyền đưa ra đó là học thuyết của Freud về tính dục luôn dành vị trí ưu tiên cho những phân tích về tính dục nam và lấy tính dục nam làm khuôn mẫu chuẩn để tham chiếu về tính dục nữ. Nhận định trên có những điểm hợp lý song cũng còn nhiều điều đáng phải bàn luận.
Trong bài viết này, với ý hướng ban đầu là cung cấp một “cái nhìn mới” về một “hiện tượng cũ”, chúng tôi đã tập trung phân tích để làm sâu sắc thêm nhận thức về phân tâm học của S. Freud qua sự kiến giải vô cùng đặc sắc và cũng không kém phần quyết liệt của các nhà tư tưởng nữ quyền đương đại.
2. Sự đối diện đầu tiên giữa Sigmund Freud và chủ nghĩa nữ quyền hiện đại: Giới tính thứ hai của Simone de Beauvoir
Vào nửa đầu thế kỷ trước đã xuất hiện những sự phản đối phân tâm học của S.Freud từ phía các nhà tư tưởng thuộc trường phái Freud-mới như Ernest Jones, Karen Horney và Clara Thompson. Tuy nhiên, các nhà phân tâm học thuộc “thế hệ thứ ba” này lại không phải là các nhà nữ quyền và sự phê phán của họ đối với phân tâm học của S.Freud cũng không xuất phát trên cơ sở của chủ nghĩa nữ quyền. Đây chính là lý do giải thích cho suy nghĩ của chúng tôi rằng, sự kiến giải của Simone de Beauvoir đối với S.Freud trong Giới tính thứ hai (The Second Sex)[3] có thể xem như là sự đối diện đầu tiên giữa phân tâm học của S. Freud và chủ nghĩa hiện quyền hiện đại.
Trong bối cảnh các nhà tư tưởng nữ quyền hiện đại ở Châu Âu bắt đầu quan tâm nghiên cứu phân tâm học của Freud vào những thập niên giữa thế kỷ XX thì Simone de Beauvoir là người đã thực sự gây được sự chú ý nhất đối với giới nghiên cứu khi xuất bản tác phẩm Giới tính thứ hai (1949)– một trong những công trình nghiên cứu đồ sộ được đánh giá là một “sự gợi mở hữu ích những vấn đề quan trọng” của chủ nghĩa nữ quyền hiện đại. Trong Giới tính thứ hai, Beauvoir đã dành toàn bộ chương 2 của Phần I để nghiên cứu phê phán quan điểm phân tâm học nhằm mục đích “muốn xem xét phần đóng góp của nó vào việc nghiên cứu phụ nữ”[4].
Ngay trong phần đầu của Giới tính thứ hai, Beauvoir nhấn mạnh rằng, phân tâm học về thực chất không phải là một trường phải triết học và S.Freud cũng không phải là nhà triết học theo đúng nghĩa của thuật ngữ này. Chính bản thân S.Freud cũng không biện minh hệ thống của ông như là một học thuyết triết học bằng cách lảng tránh mọi sự công kích thuộc lĩnh vực siêu hình học.[5] Tuy nhiên, Beauvoir nhận thấy phân tâm học của S.Freud có thể cung cấp những ứng dụng triết học hữu ích cho vấn đề nghiên cứu nữ giới; rằng, phía sau tất cả những lời khẳng định của S.Freud, là những định đề siêu hình học: sử dụng ngôn ngữ của ông, tức là chấp nhận một nền triết học [của phân tâm học].[6] Theo Beauvoir, chính vì sự nhập nhằng này nên phê phán phân tâm học của S.Freud là cần thiết nhưng đó không phải là một việc dễ dàng mà đầy khó khăn và phức tạp.
 Trong Giới tính thứ hai, Simone de Beauvoir tán đồng quan niệm của S.Freud cho rằng bản năng tính dục giữ vai trò quan trọng trong đời sống của con người, nhưng bà cũng phê phán phân tâm học của S.Freud ở hai điểm cốt yếu: quyết định luận tính dục nam và khái niệm uy quyền. Theo logic kiến giải của Beauvoir, cái sau xuất hiện như là hệ quả tất yếu của cái trước.
Beauvoir đã khái quát quan niệm của S.Freud về vai trò của tính dục trong quá trình phát triển người ở cả nam giới và nữ giới như sau: tính dục của hai giới tính là đồng nhất trong thời kỳ thơ ấu nhưng sau đó bắt đầu phân biệt lúc bước vào giai đoạn sinh dục. Ở các bé trai, khi đạt đến giai đoạn sinh dục thì quá trình phát triển coi như đã hoàn thành viên mãn. Nhưng ở các bé gái “tình hình phức tạp hơn nhiều” bởi trong diễn ngôn của S.Freud, “nam giới chỉ có một giai đoạn sinh dục, còn nữ giới thì có hai”[7]. Các bé gái có quá trình phát triển sinh dục kép. Ban đầu là tính nhạy cảm âm vật chưa trưởng thành (giai đoạn này tương tự với hiện tượng bé trai chú ý đến dương vật của mình), sau đó là chuyển biến tất yếu vào tuổi dậy thì, khi ấy âm vật bắt đầu phát triển thành âm đạo với tư cách là cơ quan tính dục trưởng thành của nữ giới. Theo Beauvoir, những kiến giải như trên của S.Freud về tính dục nữ và sự phát triển của tính dục nữ là có thể chấp nhận được và tỏ ra rất tâm đắc rằng “S.Freud đã đưa ra ánh sáng một vấn đề mà trước đó người ta chưa thấy được tầm quan trọng của nó”[8].
Xuất phát từ cách hiểu như thế, S.Freud đã khám phá ra tính dục ấu thời. Ngay từ đứa trẻ mới sinh ra cho đến trước khi phức cảm Oedipus (Oedipus complex) xuất hiện thì chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các giới tính hiểu theo nghĩa lúc ấy chỉ có những bé trai mà thôi (các bé gái trong giai đoạn tiền-Oedipus cũng được ví như các bé trai). Do đó, theo S.Freud, không cần thiết phải tách biệt tính dục nam và tính dục nữ.
Trong phân tâm học của S.Freud, phức cảm Oedipus là một trong những nội dung quan trọng có mối liên hệ gần gũi với tính dục và vấn đề khác biệt giới. Phức cảm Oedipus xuất hiện vào giai đoạn tượng dương vật (phallic phase) khi đứa trẻ bắt đầu thể hiện ham muốn của nó với người cha/mẹ khác giới tính bằng việc đồng nhất với người cha/mẹ cùng giới tính. Theo S.Freud, đó là một loại phức cảm gia đình liên quan đến người cha, người mẹ và đứa trẻ đồng thời biểu hiện “nỗi kinh hãi của loạn luân”. Các bé trai và bé gái đều phải đối mặt với phức cảm này, tuy nhiên không như trong thời kỳ tiền-Oedipus, lúc này chúng trải nghiệm về phức cảm này khác nhau. Xu hướng ham muốn tính dục của đứa bé trai được S.Freud giải thích rõ ràng ngay từ đầu, theo đó đứa bé trai luôn ham muốn tính dục đến người mẹ một cách tự nhiên và đồng thời tỏ thái độ thù địch với người cha. Do ham muốn của đứa trẻ là bất khả thi và không thể thỏa mãn trong hiện thực nên những ham muốn của nó bị dồn nén. Điều này dẫn đến việc phức cảm Oedipus vốn được xem như là một quá trình phát triển tất yếu ở các bé trai thì lúc này trở nên suy yếu do sự bất mãn và vỡ mộng không thể tránh được. Quá trình phát triển của các bé gái cũng được tư duy theo một cách tương tự như thế nhưng chỉ “đảo ngược” giới tính của đối tượng ham muốn tính dục. Điều này cho thấy, trong lý giải của S.Freud, sự khác biệt giữa các giới tính có liên quan trực tiếp đến phức cảm Oedipus.
Khi phân tích về phức cảm Oedipus, quan niệm của S.Freud thể hiện một cái nhìn thiên lệch nhất định. Theo S.Freud, phức cảm Oedipus được áp dụng để giải thích về sự phát triển tâm sinh dục trẻ em ở cả hai giới tính. Phức cảm Oedipus ngay từ đầu thể hiện ham muốn tính dục của các bé trai hướng đến người mẹ và thù ghét người cha. Phức cảm này cũng tồn tại ở các bé gái nhưng với S.Freud đó chẳng qua chỉ là “phức cảm Oedipus phủ định” (negative Oedipus complex). Người ta nói đến cái gọi là “phức cảm Electra” (Electra complex – là loại phức cảm tồn tại ở các bé gái trong giai đoạn tượng dương vật thể hiện ham muốn tính dục hướng đến người cha và thái độ thù địch hướng đến người mẹ) như là loại phức cảm đối chọn với phức cảm Oedipus, tuy nhiên bản thân S.Freud trên thực tế lại không thừa nhận loại phức cảm này.[9]
Một lần nữa, với việc xem tính dục của nam giới như là hình mẫu chuẩn và cố tình không chú ý đến tính dục của nữ giới thì dường như S.Freud đã vấp phải những khó khăn nhất định khi cố gắng tìm hiểu một cách thấu đáo về tính phức tạp và đa dạng của những xung đột phức cảm ở nữ giới. Theo Beauvoir, quan niệm của S.Freud, do được xây dựng quyết định luận tính dục nam và mô hình lấy nam giới làm trung tâm, nên rõ ràng đã chứa đựng những định kiến nhất định đối với nữ giới. Beauvoir viết:
S. Freud chưa bao giờ bận tâm nhiều đến số phận của nữ giới; rõ ràng là ông đã mô phỏng bức tranh mô tả nữ giới theo phác đồ số phận của nam giới và chỉ cải biến một cách sơ sài. Ông thừa nhận libido của nữ giới cũng tiến triển như của nam giới nhưng lại hầu như không nghiên cứu nó một cách chi tiết (…) Nói cách khác, Freud đã không đặt vấn đề libido của nữ giới trong tính độc đáo của nó mà chẳng qua chỉ là hình thái phái sinh, hay thậm chí là một “sự lệch hướng” so với hình mẫu chuẩn là dục năng của nam giới mà thôi.[10]
            Một quan niệm mang màu sắc quyết định luận tính dục nam như thế do quá đề cao giá trị của cái gọi là “dương vật” (penis) và mô hình thống trị của tính dục nam nên đã không thấy sự tác động của các yếu tố ngoại tại. Beauvoir đòi hỏi cần phải đặt quan niệm ấy trong bối cảnh triết học và xã hội thì mới có thể tìm thấy những câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề nữ giới. Bà lý giải, sở dĩ nữ giới ghen tị với nam giới không phải bắt nguồn từ sự ưu trội về mặt giải phẫu học của nam giới mà gốc rễ sâu xa của nó đó là sự áp đặt của quyền lực xã hội và ham muốn trở thành thống trị của nam giới.
 Nếu bé gái cảm thấy ghen tỵ dương vật thì đó chẳng qua chỉ như là biểu tượng của những đặc quyền mà các bé trai được hưởng mà thôi? Thông qua đó chủ nghĩa Freud đã trở thành một “tôn giáo”.[11]
 Từ lập trường của chủ nghĩa hiện sinh, từ chỗ phê phán quyết định luận tính dục nam, Beauvoir tiếp tục phê phán khái niệm uy quyền trong phân tâm học của S.Freud. Theo Beauvoir,  trong những nghiên cứu phân tâm học của mình, Freud đã tìm cách thay thế khái niệm giá trị bằng khái niệm uy quyền nhưng bản thân ông cũng thừa nhận rằng không có cách nào nhận thức cái uy quyền ấy.
 Tuy nhất trí với phân tâm học của Freud trong việc thừa nhận vai trò quan trọng của tính dục trong đời sống của con người nhưng, theo Beauvoir, không nên xem tính dục là nhất thành bất biến kiểu như “giải phẫu học là định mệnh” (anatomy is destiny) mà S.Freud đã từng nói đến. Cần phải nhận thức rằng “thân xác và tính dục là biểu hiện cụ thể của hiện hữu và chỉ xuất phát từ hiện hữu người ta mới có thể tìm thấy ý nghĩa của chúng”[12]. Do thiếu viễn tượng ấy, phân tâm học đành chấp nhận những sự kiện không giải thích được. Theo Beauvoir, để giải quyết mâu thuẫn này, phân tâm học chỉ có thể tìm thấy chân lý của mình trong bối cảnh lịch sử bởi lẽ nó không từ trên trời rơi xuống, cũng không phải từ dưới đất chui lên mà do chính đời sống con người tác tạo. Đối với nữ giới cũng vậy, sống là sống trong thế giới, liên hệ với thế giới nên cần phải nhận thức về tính nữ trong bối cảnh xã hội của họ. Với cách tiếp cận như thế, Beauvoir muốn đặt lại vấn đề số phận của nữ giới theo một lối hoàn toàn khác với phân tâm học của S.Freud, theo đó, bà xem xét nữ giới trong thế giới giá trị chứ không phải thế giới uy quyền kiểu Freud và xác định hành vi của họ trong viễn tượng của tự do. Bà cũng nghĩ rằng, nữ giới có đủ năng lực lựa chọn giữa việc khẳng định sự siêu vượt và sự tha hóa của mình[13]. Beauvoir phân biệt rõ nếu “nhà phân tâm học mô tả bé gái mong muốn đồng nhất với cha hoặc mẹ, phân vân giữa khuynh hướng ‘nam’ và khuynh hướng ‘nữ’; chúng tôi thì quan niệm bé gái phân vân giữa một bên là vai trò khách thể, vai trò tha nhân do người ta đề xuất và một bên là sự đòi hỏi quyền tự do của mình”[14]. Trên cơ sở đó, Beauvoir đi đến kết luận: “Nữ giới được xác định như một con người đi tìm những giá trị trong lòng thế giới giá trị, cái thế giới mà chúng ta cần nhận thức được cơ cấu kinh tế và xã hội; chúng ta sẽ nghiên cứu họ trong viễn tượng đời sống thông qua toàn bộ vị trí của họ”[15], rằng “người ta không sinh ra phụ nữ, mà trở thành phụ nữ”[16].
Chúng tôi nghĩ rằng, với lập trường của chủ nghĩa hiện sinh, Beauvoir đã cung cấp cách tiếp cận khác với Freud khi phân tích về trạng huống hiện hữu của nữ giới và khả năng siêu vượt hoàn cảnh (thường thì hoàn cảnh này bị Freud và một số nhà khoa học hạn định trong những dữ kiện sinh học bất biến – Tg) để đạt đến tự do với tư cách là một chủ thể đích thực chứ không phải như là tha nhân trong mối quan hệ với nam giới.
Đến đây, không khó để lý giải tại sao những kiến giải về phân tâm học của S. Freud mà Beauvoir thể hiện trong tác phẩm Giới tính thứ hai lại có một sức hút mạnh mẽ đến như thế và thực sự trở thành nguồn cảm hứng lớn lao cho những sự kiến giải về Freud của các nhà tư tưởng nữ quyền đương đại.
3. Sigmund Freud và chủ nghĩa nữ quyền phân tâm học: câu trả lời mang tính phủ định
 Tiếp bước Simone de Beauvoir, trong những thập niên 1970 và 1980, làn sóng kiến giải phân tâm học của S.Freud từ góc nhìn nữ quyền luận đã diễn ra dồn dập, nhất là từ phía các nhà tư tưởng nữ quyền phân tâm học như Luce Irigaray, Julia Kristeva, Kate Millet, Nancy Chorodow… Lúc này, người ta bắt đầu nói đến cái gọi là “chủ nghĩa nữ quyền phân tâm học” (psychoanalytic feminism) với tư cách là một nhánh phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa nữ quyền hiện đại.
 Khuynh hướng nổi trội trong các nghiên cứu của các nhà nữ quyền phân tâm học là sự phê phán (thậm chí còn quyết liệt hơn Simone de Beauvoir) đối với mô hình lý thuyết của Freud về tính dục nữ. Trong số các nhà tư tưởng nữ quyền phân tâm học phê phán Freud trong giai đoạn này nổi lên một gương mặt đáng chú ý nhất – Luce Irigaray.
Trong tác phẩm Giới tính này không phải là duy nhất (This Sex which is not One), nhà triết học nữ quyền phân tâm học Luce Irigaray đã tiến hành nghiên cứu phê phán về phân tâm học của Freud, nhất là tư tưởng của bác sĩ người Áo về tính dục nữ.
Khi được hỏi tại sao lại nghiên cứu phê phán Freud, Irigaray giải thích rằng, bà phải làm điều đó là,
bởi vì trong quá trình xây dựng lý thuyết về tính dục, Freud đã làm sáng tỏ những thứ đã thúc đẩy toàn bộ tiến lên mặc dù nó vẫn chưa rõ ràng, khuất tất và bí ẩn: sự thờ ơ đối với vấn đề tính dục ẩn sau chân lý của mọi khoa học và lôgic của mọi diễn ngôn. Điều này xuất hiện rõ ràng trong cách mà Freud nghiên cứu về tính dục nữ. Tuy nhiên, trên thực tế, tính dục này chưa bao giờ [được Freud – Tg] xác định với một sự tôn trọng đối với các giới mà chỉ với nam giới mà thôi.[17]
Irigaray nhấn mạnh thêm rằng:
“Tất cả những tuyên bố của Freud về tính dục nữ đều bỏ quên một sự thật là nữ giới cũng có tính đặc thùcủa riêng nó.[18]
Theo lý giải của Irigaray, phân tâm học của Freud được xây dựng trên lập trường trung giới (neutral) về tính dục phát xuất từ sự khẳng định về tính hài hòa giữa bản sắc tính dục của nam giới và nữ giới. Có lẽ vì thế mà Freud đã không thấy được những nét đặc sắc của tính dục nữ so với tính dục nam trong quá trình phát triển của chúng.
Khi xem xét vấn đề ham muốn tính dục, Freud giả định một phụ nữ ‘bình thường’ luôn hướng tính dục đến người đàn ông mà họ yêu và do đó mỗi giới tính có thể thỏa mãn ham muốn đối với người khác giới tính. Với cái nhìn về bản sắc tính dục như thế, Freud xây dựng hình mẫu về phức cảm Oedipus của phụ nữ từ những cơ sở và chuẩn mực tính dục của nam giới, hay thậm chí ông cho rằng tính dục nữ chẳng qua chỉ là bản sao méo mó của tính dục nam mà thôi. Trong cả hai trường hợp này, Freud cố gắng hiểu nữ giới như là một hình thái bổ khuyết của nam giới. Irigaray xem điều này như là một hệ thống đơn tính chịu sự chi phối của sự đối lập phản chiếu. Sự trung giới về tính dục này trong tư tưởng của Freud được Irigaray chuyển tải khá đầy đủ trong tiểu luận “Giấc mơ cổ xưa về sự cân xứng” (An old dream of symmetry). Tuy nhiên, nhan đề của tiểu luận còn ngụ ý về niềm tin của Irigaray rằng giấc mơ này chỉ được giả định trên một “điểm mù” (blind spot).
Với Irigaray, trong phân tâm học của S. Freud tồn tại những “vấn đề” cần phải nghiêm túc phê phán. S.Freud không chỉ giảm trừ sự khác biệt tính dục thành một giới tính duy nhất trong một xã hội “lấy tượng trưng dương vật làm trung tâm” (phallogocentrism), mà còn giới hạn tính dục của nữ giới và phá hủy mối quan hệ giữa những người phụ nữ, khởi đầu là mối quan hệ giữa người mẹ và con gái. Khi nghiên cứu phân tâm học của S.Freud, Irigaray còn chú ý đến phương cách mà lý thuyết tính dục của Freud về căn bản chỉ dựa trên cơ sở một giới tính duy nhất – giới tính nam. Giới tính nam được xem là ‘hệ chuẩn’ (paradigm) của tính dục. Irigaray viết: “Tính dục nữ luôn bị quan niệm trên cơ sở của các tham số của tính dục nam”[19].
 Từ phê phán “hệ hình tính dục nam” và những yếu tố định kiến đối với tính dục nữ hiện diện trong phân tâm học của S.Freud, Irigaray đã đề xuất một quan niệm khác gắn liền với nhịp đập của thời đại hơn về vấn đề này trên cơ sở sự khác biệt giới tính. Bà viết:
Khác biệt giới tính là một trong những vấn đề triết học lớn trong thời đại chúng ta. Theo Martin Heidegger, mỗi thời đại chỉ có duy nhất một vấn đề xuyên suốt để suy tư. Và chắc hẳn hiện nay, khác biệt giới tính là vấn đề có thể trở thành cứu cánh của chúng ta nếu chúng ta không ngừng suy tư về nó.[20]
 Irigaray cho rằng, giữa nam giới và nữ giới có sự tồn tại những khác biệt về tính dục, theo đó tính dục nam là nhất quán, còn tính dục nữ không phải là “một” mà là “đa”. Vì thế, không thể dựa vào tiêu chuẩn tính dục nam để xác định tính dục nữ, và do đó cũng không thể xác định nữ giới như là tha nhân, là ảnh ảo, là tấm gương phản chiếu trong mối quan hệ với nam giới. Đi xa hơn, từ chỗ khẳng định tính dị biệt  đa dạng của tính dục nữ so với tính dục nam, Irigaray yêu cầu phụ nữ phải tích cực hoạt động để nhận thức tính chủ thể nữ “khác biệt” của mình chứ không đơn giản bị giản lược vào tính chủ thể nam giới. Như Irigaray đã nói đến ở nhận định trên, đây là một vấn đề triết học rất hệ trọng nhất là trong thời đại của chúng ta.
Với sự kiến giải phân tâm học của S. Freud từ quan điểm nữ quyền khác biệt giới tính rất đặc trưng của chủ nghĩa quyền Pháp, theo một nghĩa nào đó, Irigaray giống như một lữ khách tư tưởng rong ruổi tìm kiếm những sự biến đổi văn hóa vĩ đại nhất. Mỗi luận điểm mà bà đưa ra được xem như là một nấc thang trong nỗ lực hướng đến một kỷ nguyên văn hóa mới: kỷ nguyên của sự khác biệt giới tính.
4. Tích hợp phân tâm học của S. Freud với chủ nghĩa nữ quyền: Juliet Mitchell
 Juliet Mitchell là một trong số ít những nhà tư tưởng thể hiện quan điểm bảo vệ phân tâm học của Freud trước sự tấn công của các nhà tư tưởng nữ quyền đương thời. Trong nghiên cứu của mình, Mitchell nỗ lực tích hợp phân tâm học của Freud với chủ nghĩa nữ quyền. Đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng khi biết rằng phân tâm học của Freud thường bị các nhà tư tưởng nữ quyền xem là địch thủ không đội trời chung.
 Tác phẩm nổi tiếng nhất của Juliet Mitchell – Phân tâm học và chủ nghĩa nữ quyền (Psychoanalysis and Feminism) được đánh giá là “một nghiên cứu quan trọng về sự hữu dụng của phân tâm học đối với chủ nghĩa nữ quyền”[21]. Mitchell viết tác phẩm này trong bối cảnh chủ nghĩa nữ quyền đang phát triển xu hướng phê phán phân tâm học Freud như là sản phẩm của nền văn hóa nam trị củng cố vững chắc cho thành trì áp bức của nam giới đối với nữ giới. Chống lại cái nhìn phủ định ấy, Mitchell cho rằng, nghiên cứu Freud và phân tâm học sẽ rất cần thiết đối với nhận thức về sự áp bức đối với nữ giới.[22] Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận di sản phân tâm học của Freud rằng, khi nghiên cứu phân tâm học của Freud thì không nên xem nó như là một “sự biện giải” (prescription) mà như một “sự khắc họa” (description) về cách thức mà nền văn hóa nam quyền khởi sinh. Chỉ khi xuất phát từ một tinh thần nghiên cứu như thế thì chúng ta mới có thể mở đường cho chủ nghĩa nữ quyền đến với phân tâm học để kiến tạo những ý tưởng và hiểu biết mới.
Theo lý giải của Mitchell, phân tâm học của Freud là sản phẩm tư tưởng tất yếu của nền văn hóa nam trị phương Tây, nhưng cần nhận thức rằng bản thân Freud chưa bao giờ tuyên bố rõ ràng nữ giới thấp kém về mặt sinh học so với nam giới mà chỉ đề xuất một phương tiện “khoa học” để hiểu tại sao nữ giới lại được xác định như thế trong nền xã hội nam trị. Vì thế, Mitchell không xem phê phán S. Freud là chủ đích mà muốn sử dụng phân tâm học để quay trở lại phê phán chính bản thân chế độ nam trị ấy.
Phân tích thái độ phê phán S.Freud với những cấp độ khác nhau của các nhà tư tưởng nữ quyền tiền bối như Simone de Beauvoir, Kate Millet, Eva Figes, Shulamuth Firestone.., Mitchell nhận thấy rằng, trong sự phê phán ấy, các nhà tư tưởng nữ quyền đã không hiểu đúng về phân tâm học của S.Freud và không thể đưa ra lời giải thích thỏa đáng về mặt lý luận cho tính nội tại hóa (internalization) của sự khác biệt giới tính và tính phổ quát của tình trạng áp bức đối với nữ giới; do đó họ cũng không thấy được giá trị và khả năng ứng dụng phân tâm học của Freud vào lý thuyết nữ quyền. Mitchell nhấn mạnh quan điểm của mình rằng, bất cứ một sự chối bỏ Freud nào cũng sẽ gây tổn thất cho chiến lược nữ quyền bởi vì phân tâm học của Freud đã cung cấp một sự phân tích và phê phán hữu ích đối với xã hội nam trị.[23] Ở điểm này, chúng tôi tin rằng, một sự bảo vệ Freud công khai như tìm thấy trong nghiên cứu của Mitchell khó có thể thuyết phục được các nhà tư tưởng nữ quyền lúc bấy giờ và trở thành đề tài cho các cuộc tranh luận lâu dài. Tuy nhiên, ở một khía khác, không thể phủ nhận điểm tích cực trong sự bảo vệ Freud của Mitchell đó là bà đã tìm thấy những điểm tương đồng khả thể giữa phân tâm học và chủ nghĩa nữ quyền. Điều này rất cần thiết bởi lẽ chủ nghĩa nữ quyền như là một lý thuyết với tham vọng tạo ra một sự chuyển biến to lớn trong nhận thức về mối quan hệ giữa các giới tính cũng như hướng đến giải trừ sự áp bức đối với nữ giới thì thiết nghĩ sẽ khó có thể đạt đến mục đích ấy nếu tách biệt hoàn toàn khỏi dòng tư tưởng đương đại mà phân tâm học của Freud là một nguồn khơi lý luận hữu ích cho chiến lược nữ quyền. Công lao và đóng góp của Mitchell đối với việc nghiên cứu Freud là rất đáng trân trọng. Không phải ngẫu nhiên khi Peter Gay xem Phân tâm học và chủ nghĩa nữ quyền của Mitchell là một “đóng góp bổ ích và có tinh thần trách nhiệm nhất” đối với luận bàn từ góc độ nữ quyền về phân tâm học của Freud.[24]
Cách tiếp cận theo hướng “tích hợp” của Mitchell sau đó đã nhận được sự chia sẻ của các nhà nghiên cứu. Trong một nghiên cứu về phân tâm học và chủ nghĩa nữ quyền năm 1987,  Maeve Nolan và Kathleen O’Mahony viết:
Phân tâm học và chủ nghĩa nữ quyền có thể đối thoại với nhau về những mục tiêu chung. Cả hai đều giải quyết vấn đề tính dục, thách thức trật tự hiện hành và nỗ lực “lột tấm mặt nạ” của ý thức và xã hội để nhận thức được ngọn nguồn thẳm sâu đằng sau chúng. Phân tâm học là một công cụ khả dĩ hữu ích cho việc hiểu biết đầy đủ về sự phức tạp của tính chủ thể và vấn đề tính dục cần thiết đối với chủ nghĩa nữ quyền. Nó giúp giải thích về tính nữ, làm thế nào tính nữ tồn tại và cách thức chúng ta nội tại hóa nó. Phân tâm học không mang tính chất giáo điều mà chỉ mô tả và đánh giá. Khi nỗ lực giới hạn vai trò của nữ giới, phân tâm học đã cho thấy một cái nhìn đầy đủ về những nghịch lý cố hữu trong nó.[25]
Khi tìm hiểu những kiến giải của Mitchell về Sigmund Freud và phân tâm học, cần đánh giá thỏa đáng và đúng mức những đóng góp nhất định của bà trong việc phát triển một hướng tiếp cận khoan dung và tích hợp đối với phân tâm học S. Freud. Trong Chủ nghĩa nữ quyền: Một sự chuyển đổi hệ hình, nhà nghiên cứu Neeru Tandon từng khẳng định giá trị trong cách tiếp cận Freud của Mitchell như sau:
Với việc nhấn mạnh sự hữu ích của phân tâm học của Freud (nhất là qua kiến giải của Lacan), Mitchell đã mở đường cho những nghiên cứu phê phán sâu hơn về phân tâm học và giới.[26]

 Sự đánh giá trên của các nhà nghiên cứu tự nó đã thẩm định những hạt giá trị quý giá trong cách tiếp cận mà Mitchell đã giới thiệu cho chúng ta trong quá trình nghiên cứu về phân tâm học của Freud.

5. Kết luận

 Qua các trang viết của các nhà tư tưởng nữ quyền thế kỷ XX, phân tâm học của Freud, một mặt, hiện ra như một lý thuyết có tính cách mạng trong cái nhìn về vấn đề tính dục nhưng, mặt khác, nó cũng cung cấp những cơ sở để biện minh cho sự trường tồn của chế độ nam trị và cấu trúc về vai trò giới trong xã hội phương Tây.
Ý hướng đầu tiên khi khởi thảo bài viết này là muốn cung cấp một cái nhìn khác về phân tâm học của Freud từ sự kiến giải của một số nhà tư tưởng tiêu biểu của chủ nghĩa nữ quyền hiện đại, tuy nhiên xuất phát từ tính chất phức tạp và đa chiều của vấn đề nên thật khó có thể cung cấp một nghiên cứu đầy đủ (các tác giả cũng không có tham vọng như thế trong bài viết này) về mối lương duyên giữa phân tâm học của Freud và chủ nghĩa nữ quyền hiện đại; cũng thật khó để đánh giá một cách chi tiết và tường minh về mức độ ảnh hưởng của S. Freud đối với khuynh hướng tư tưởng còn khá non trẻ này. Sigmund Freud không phải là một nhà tư tưởng nữ quyền và ngay từ đầu ông cũng không có ý hướng nữ quyền bởi lẽ xét ở mức độ nhất định S. Freud luôn thể hiện thái độ định kiến đối với nữ giới trong các nghiên cứu của mình. Song điều đó không làm mờ đi một sự thật là S. Freud có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự định hình và phát triển của chủ nghĩa nữ quyền ở phương Tây thế kỷ XX; những quan điểm của người sáng lập phân tâm học thực sự trở thành nguồn hứng khởi cho những phê bình cũng như sáng tạo của các nhà tư tưởng nữ quyền đương đại.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích dẫn một nhận định đáng suy ngẫm từ một bài nghiên cứu cho rằng, “Freud đã nhiều lần xem xét lại các lý thuyết của ông khi thu thập những dữ kiện mới và đã đạt đến những nhận thức rõ ràng hơn. Các nhà phân tích đương đại cũng nên làm như thế không hơn không kém”[27]. Thiết nghĩ, có thể xem đó như là một gợi ý hữu ích về phương pháp luận để nghiên cứu phân tâm học của Freud không chỉ từ góc độ tiếp cận nữ quyền luận mà còn từ nhiều góc độ tiếp cận khác.
Tài liệu tham khảo chính
1. Beauvoir, Simone de (1956), The Second Sex, London: Jonathan Cape.
2. Donovan, J. (2000), Feminist theory – The Intelectual Tradition, London: Continuum.
3. Gamble, S (2001), Routledge Companion to Feminism and Postfeminism, London & New York: Routledge.
4.  Irigaray, L. (1985), This Sex which is not One, New York: Cornell University Press.
5.  “Liberating women from Freud”, 1977 (Jan. 17), Time Magazine, 109 (3).
6.  Mitchell, J. (1974), Psychoanalysis and Feminism, New York: Basic Books.
7. Nolan, M., O’Mahony, K. (1987), “Freud and Feminism”, Studies: An Irish Quarterly Review”, Vol. 76, No. 302 (Summer), pp. 159-168.
8. McHugh, Nancy A. (2007), Feminist Philosophies A–Z,Edinburgh: Edinburgh University Press.
9. Millett, Kate (2000), Sexual  politics, Urbana & Chicago: University of Illinois Press.
10. Slipp, S. (1993), The Freudian Mystique: Freud, Women, and Feminism, London & New York: New York University Press.
11. Tandon, N. (2008),  Feminism: A Paradigm Shift, New Delhi: Atlantic Publishers & Distributors (P) Ltd.
12. Tong, R. (2009), Feminist thought – A more comprehensive introduction, USA: Westview Press.
13. www.http//en.wikipedia.com

14. www.http://plato.stanford.edu/


Chú thích

*Tham luận Hội thảo khoa học quốc tế “Austrian Philosophy and Its Relevence Today” do Viện Triết học và Đại sứ quán Áo tổ chức. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó” do Viện Triết học và Đại sứ quán Áo tại Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 14-15/11/2012, tr.77-88. 

[1] See: M. Nolan, K. O’Mahony, “Freud and Feminism” ,Studies: An Irish Quarterly Review, Vol. 76, No. 302 (Summer, 1987), p. 159.

[2] Chẳng hạn, Eva Figes nhấn mạnh, “toàn bộ lý thuyết của Freud… đều dựa trên khuôn khổ thế giới hạn hẹp mà ông đang sống… Bản thân Freud là một người Do Thái, vì thế ông chịu ảnh hưởng của một bề dày truyền thống Do Thái và Kinh Cựu ước nói chung, Sáng thế ký nói riêng, theo đó đàn ông đến trước, sau đó là phụ nữ”, xem Juliet Mitchell, Psychoanalysis and feminism, New York: Basic Books, 1974, pp.328-329. Tương tự, Kate Millett cho rằng, “Sigmund Freud đã đi theo truyền thống triết học phương Tây vốn mang tính chất căm ghét phụ nữ khởi nguồn từ Aristotle”, xem Neeru Tandon,Feminism: A paradigm shift, New Delhi: Atlantic Publishers & Distributors (P) Ltd, p.80.
[3] Simone de Beauvoir (1956), The Second Sex, London: Jonathan Cape.
[4] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 65.
[5] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 66. Trong Một nghiên cứu có tính tự thuật, S.Freud lưu ý rằng, ‘Thậm chí khi tôi tách hẳn khỏi mọi quan sát thực nghiệm thì tôi cũng cẩn trọng tránh né mọi sự liên hệ với triết học’, Sigmund Freud, An Autobiographical Study, 1924, S.E., Vol XX, p.59. Dẫn theo: Juliet Mitchell, Psychoanalysis and feminism, New York: Basic Books, 1974, p.306.
[6] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 66.
[7] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 67.
[8] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 66.
[9] Nhà tâm lý học Carl Gustav Jung là người đề xướng “Phức cảm Electra” (1913). Trong một số bài nghiên cứu về tính dục nữ, S. Freud đã thể hiện thái độ phủ nhận đối với phức cảm Electra. Chẳng hạn, S. Freud viết: “Tôi không thấy bất cứ một sự tiến bộ hay phát triển nào khi xuất hiện thuật ngữ ‘phức cảm Electra’, và cũng không ủng hộ việc sử dụng nó” (S. Freud, ‘The Psychogenesis of a case of homosexuality in a woman’, 1920, S.E., Vol XVIII, p.155); “Phức cảm Oedipus chỉ có thể áp dụng một cách chính xác với các bé trai và chúng ta đúng khi bác bỏ thuật ngữ ‘phức cảm Electra’ với nỗ lực nhấn mạnh tính tương đồng giữa hai giới tính”, (S. Freud, ‘Female Sexuality’, op. cit, pp.228-229). Dẫn theo: Juliet Mitchell, Ibid, p.312.
[10] Simone de Beauvoir, Ibid,  p. 65.
[11] Dẫn theo: Neeru Tandon, Feminism: A Paradigm Shift, New Delhi: Atlantic Publishers & Distributors (P) Ltd, 2008, p. 80.
[12] Simone de Beauvoir, Ibid,  p. 72.
[13] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 76.
[14] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 77.
[15] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 78.
[16] Simone de Beauvoir, Ibid, p. 273.
[17] Irigaray, Luce (1985), This Sex which is not One, New York: Cornell University Press, p. 69.
[18] Luce Irigaray, Ibid, p. 69.
[19] Dẫn theo: Neeru Tandon, Ibid, p.87.
[20] Dẫn theo: Nancy A. McHugh, Feminist Philosophies A–Z,Edinburgh: Edinburgh University Press, 2007, p. 315.
[21] Nancy A. McHugh, Ibid, p. 81.
[22] Nancy A. McHugh, Ibid, p.81.
[23] Neeru Tandon, Ibid, p. 83.
[24] Peter Gay, Freud: A Life for Our Time, London, 1989,  p. 774. Xem: http://en.wikipedia.org, mục từ “Juliet Mitchell”.
[25] M. Nolan, K. O’Mahony, “Freud and Feminism”, Studies: An Irish Quarterly Review, Vol. 76, No. 302 (Summer, 1987), p. 159.
[26] Neeru Tandon, Ibid, p.83.

[27] “Liberating women from Freud”, (1977, Jan. 17). Time Magazine, 109(3).

Nguồn: http://phuongtriethoc.blogspot.com/

Leave a Reply