Phân tích tác động thẩm mỹ của văn bản thơ Đèo ba dội từ góc độ Mỹ học tiếp nhận


Hoàng Phong Tuấn

1.Điểm đặc sắc nhất trong thơ Nôm được cho là của Hồ Xuân Hương là hiện tượng một số văn bản thơ có “nghĩa thanh” và “nghĩa tục” cùng tồn tại. Đặc điểm trên làm cho các văn bản này có những tác động thẩm mỹ đặc thù. Bài viết vận dụng quan niệm về “chân trời chờ đợi” trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss để phân tích tác động thẩm mỹ của một trong những văn bản thơ có đặc điểm này: Đèo Ba Dội(1).

2.1. “Chân trời chờ đợi” (Erwartungshorizont) là khái niệm do Hans Robert Jauss đặt ra trong mỹ học tiếp nhận của ông, trên cơ sở tiếp thu vấn đề “chân trời” của hiểu và lý giải trong thông diễn học của Hans-Georg Gadamer và khái niệm “chân trời chờ đợi” trong xã hội học tri thức của Karl Mannheim. Theo Jauss, chân trời chờ đợi của người đọc là một “hệ thống quy chiếu được khách quan hoá của những chờ đợi, sinh ra cho mỗi tác phẩm trong thời điểm lịch sử nó xuất hiện, cái hệ thống được hình thành từ sự hiểu trước về thể loại, hình thức và những chủ đề của các tác phẩm quen thuộc có trước, về sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thực tiễn”(2). Theo Jauss, quá trình đọc là quá trình tương tác giữa chân trời chờ đợi của người đọc và chân trời chờ đợi nơi văn bản, qua đó, người đọc củng cố hay điều chỉnh chân trời chờ đợi của mình: “Nếu nói như W.D. Stempel rằng chân trời chờ đợi từ trước [của ta] về một văn bản như tính tương hợp chủ đề thuộc trục đối vị [của tác phẩm], tức đặt [chân trời chờ đợi của ta] vào trong chân trời chờ đợi nội tại thuộc trục kết hợp [của tác phẩm] như cách nói [mà Stempel] gợi nên, thì tiến trình tiếp nhận là hoàn toàn có thể mô tả được trong một sự triển khai hệ thống ký hiệu học diễn ra giữa hai việc: [tiếp tục] phát triển hệ thống ấy và chỉnh sửa hệ thống ấy”(3). Văn bản văn học ban đầu gợi cho người đọc hình dung về một chủ đề nào đó. Trong quá trình đọc văn bản, người đọc sẽ chú ý đến sự triển khai của văn bản để bổ sung, làm rõ hay chỉnh sửa chủ đề trong chờ đợi ban đầu của mình. Một từ, ngữ, hình ảnh có hay không có tính tương hợp với chủ đề mà người đọc chờ đợi sẽ góp phần củng cố hay chỉnh sửa những chờ đợi này, và tiếp tục tạo nên những chờ đợi cho phần tiếp theo của văn bản. Theo Jauss, một tác phẩm nếu đến phần kết thúc, chỉ củng cố lại chân trời chờ đợi nơi người đọc, thì là một tác phẩm có tính chất “bếp núc”, theo nghĩa một món ăn được đầu bếp chế biến tuân theo thực đơn mà thực khách yêu cầu; ngược lại, một tác phẩm có giá trị thẩm mỹ là khi kết thúc, nó tác động từng bước và cuối cùng tạo nên “sự thay đổi chân trời” (Horizontwandel) nơi người đọc, đồng thời phá vỡ kinh nghiệm thẩm mỹ về ngôn ngữ, đề tài, thể loại có trước trong chân trời văn học của họ.

2.2. Như một số văn bản thơ Nôm khác của Hồ Xuân Hương, nét đặc sắc của Đèo Ba Dội là sự tồn tại đồng thời của hai hệ thống hình ảnh. Nguyên nhân của điều này là do trong văn bản thơ có một số từ, ngữ khi kết hợp với nhau tạo thành một “tính tương hợp chủ đề thuộc trục đối vị”, gợi nên hình ảnh khác với hình ảnh trong nhan đề. Xét về mặt ngữ nghĩa, đây là những từ, ngữ đa nghĩa, có khả năng tham gia vào hai trường từ vựng khác nhau: trường từ vựng về hình ảnh thiên nhiên và trường từ vựng về hình ảnh thân thể.

            ĐÈO BA DỘI

Một đèo, một đèo, lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,

Bậc đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.

Hiền nhân quân tử ai là chẳng,

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo?(4)

Nhan đề của văn bản thơ cùng với sự tri giác về hình thức thể loại thơ Đường luật gợi nên trong người đọc phạm vi đề tài vịnh cảnh quen thuộc trong thơ trung đại. Kinh nghiệm thẩm mỹ về thể loại và đề tài tạo nên sự chờ đợi nơi người đọc một văn bản thơ miêu tả hình ảnh cái đèo trong tự nhiên. Hai câu thơ đề thỏa ứng với sự chờ đợi ấy. Đây rõ là tâm trạng ngạc nhiên của một người khi đứng trước cái đèo được thể hiện bằng ngôn ngữ có nhịp điệu, giàu tính tạo hình. Theo kinh nghiệm thể loại, người đọc chờ đợi những miêu tả cụ thể về hình ảnh cái đèo trong hai câu thực tiếp theo.

Nhưng hai câu thực này không chỉ miêu tả cái đèo, vì có một vài từ ngữ có “tính tương hợp chủ đề” với cả hai hình ảnh: hình ảnh cái đèo của thiên nhiên và hình ảnh thân thể của người phụ nữ. Nếu có một kinh nghiệm đời sống nhất định, người đọc sẽ tiếp nhận chúng theo cả hai hình ảnh này. Trong câu thực thứ hai, cách kết hợp “lún phún rêu” là cách kết hợp khác biệt. Từ “lún phún” là một từ láy, đóng vai trò như tính từ tạo hình độc đáo, và cũng có thể tham gia vào cả trường từ vựng về hình ảnh thiên nhiên lẫn trường từ vựng về hình ảnh thân thể: “từ gợi tả trạng thái râu, cỏ mọc thưa ngắn và không đều”… Cách kết hợp này buộc người đọc phải hướng đến một “tính tương hợp chủ đề” khác với hình ảnh cái đèo của thiên nhiên. Vì vậy, cả ngữ đoạn “lún phún rêu”, gợi cho người đọc liên hệ trở lại với ngữ đoạn “cửa son” để hình dung một trường nghĩa khác. Trong ngữ đoạn “cửa son”, từ “cửa” có nghĩa là “lối thông tự nhiên với bên ngoài”(5). Từ này có thể kết hợp với các danh từ chỉ thiên nhiên để tạo thành: cửa hang, cửa rừng; nhưng cũng có thể kết hợp với danh từ “mình” để tạo thành ngữ đoạn chỉ hình ảnh thân thể của người phụ nữ. Bài Hang Kẽm Trống đã tạo nên nghĩa lấp lửng cho câu thơ miêu tả hang Kẽm Trống theo hình thức tương tự: Qua cửa mình ơi nên ngắm lại… Hình ảnh một phần thân thể trở nên rõ hơn trong liên tưởng của người đọc. Như vậy, hai câu thực đã dần tạo ra sự thay đổi chủ đề trong chân trời chờ đợi ban đầu của người đọc. Nếu có một ý liên tưởng với câu mở đầu, người đọc sẽ bất ngờ nhận ra hình ảnh cái đèo trong câu thơ mở đầu giờ đây đã trở thành hình ảnh thân thể người phụ nữ. Nhưng điểm đặc sắc ở đây là vẻ đẹp thẩm mỹ của hình ảnh thơ tồn tại trên ranh giới giữa hình ảnh thiên nhiên và hình ảnh con người, làm cho cả hình ảnh thân thể con người hiện lên cũng hồn nhiên, thanh thoát.

Kết thúc hai câu thơ tả thực, văn bản thơ gợi nên sự chờ đợi mới nơi người đọc một ý thơ “luận” về hình ảnh kép này trong hai câu tiếp, đúng với đặc trưng thể loại thơ Đường luật. Tuy nhiên, hai câu tiếp theo không có ý thơ “luận” như chờ đợi, thay vào đó là những hình ảnh động. Trong câu thơ thứ 6, ngữ đoạn “lá liễu” chỉ hình ảnh thiên nhiên, nhưng đồng thời cũng gợi liên tưởng đến một hình ảnh đặc biệt, vốn gần gũi với hình ảnh ẩn dụ chiếc lá trong câu tục ngữ dân gian: “đầu trổ xuống, cuống trổ lên”(6). Sự liên tưởng này ngay lập tức cấp cho các ngữ đoạn “đầm đìa”, “giọt sương” một giá trị mới về nghĩa. Trạng thái đầm đìa của những giọt sương ở đây liên kết với hai câu thực bên trên, với ngữ đoạn “cành thông” và động từ “thốc”: mặt này thì gợi nên một cảnh tượng thiên nhiên sống động đến từng chi tiết, mặt kia thì gợi tả những trạng thái hành động còn dang dở. Đến đây, những chờ đợi của người đọc không dừng lại ở cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên.

Và khi đọc hết hai câu cuối, hình ảnh chàng “hiền nhân quân tử”, thành ngữ “mỏi gối chồn chân” và động từ “trèo” của hai câu thơ cuối gợi ý liên tưởng với những hình ảnh trước đó, làm cho hai câu thơ 5, 6 có một trường nghĩa mới: hành động tính giao. Hai câu cuối của bài thơ đã phá vỡ những chờ đợi ban đầu về hình ảnh thiên nhiên: trong hình ảnh tĩnh và động của thiên nhiên thấp thoáng ẩn hiện hình ảnh tĩnh và động của con người.

Như vậy, văn bản thơ ban đầu gợi nên trong người đọc chân trời chờ đợi đặc trưng về đề tài, chủ đề, ngôn ngữ và thể loại của thơ Nôm Đường luật; sau đó, bằng hiện tượng lưỡng nghĩa nhằm đặt người đọc đứng trước hai hình ảnh, nó từng bước phá vỡ những chờ đợi này, đưa người đọc vào chân trời của một trải nghiệm thẩm mỹ mới lạ. Thay vì khai triển đề tài vịnh cảnh ngụ tình, hay mượn những hình ảnh thiên nhiên để “biểu trưng cho những phẩm chất mà nhà nho đang hướng tới trong quá trình tu dưỡng”(7), hình ảnh thiên nhiên trong văn bản thơ lại đưa sự liên tưởng của người đọc đến chủ đề cấm kỵ: thân thể và tính giao, vốn đối lập với những đề tài quen thuộc trong quan niệm thẩm mỹ Nho giáo. Trần Đình Hượu cho rằng trong quan niệm thẩm mỹ của Nho giáo “Văn là biểu hiện của đạo, được dùng để truyền đạt đạo lý thánh hiền, đem gương sáng đạo đức để giáo hóa. Văn nhân tất phải có tài “nhả ngọc phun châu” tức là có tài sử dụng ngôn ngữ, văn tự nhưng trước hết họ phải có cái chứa bên trong là đạo đức, cái để đưa ra giáo hóa”(8). Từ sự thán phục hình ảnh thiên nhiên trong hai câu mở đầu, người đọc bị định hướng sự chú ý vào việc quan sát ba cái đèo, mà thực ra là quan sát thân thể, để rồi sau khi kết nối hình ảnh chàng hiền nhân quân tử với hình ảnh thân thể đã liên tưởng, người đọc cũng bị hướng đến đồng nhất hóa thái độ với nhân vật trữ tình: ca ngợi sức hấp dẫn của cái đẹp tự nhiên nơi thân thể người phụ nữ và hành động tính giao.

Nét đặc sắc của bài thơ không ở nơi hình ảnh miêu tả, mà ở ngôn ngữ miêu tả hình ảnh. Những từ ngữ tương hợp với hai chủ đề cùng lúc, dần hoàn thiện trong người đọc một hình ảnh hai mặt, làm cho người đọc như đi trên ranh giới giữa việc thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên và thưởng ngoạn vẻ đẹp con người. Và khi thán phục trước hình thức ngôn ngữ kỳ tài, người đọc đã nhận ra mình đang đứng bên kia ranh giới của hình ảnh mình chờ đợi ban đầu. Đó là lý do mà thi sĩ Tản Đà phải thốt lên: “Thơ của Xuân Hương thật là linh quái; những câu hay đọc đến ghê người. Người ta thường có câu: “Thi trung hữu họa”, nghĩa là: “Trong thơ có vẽ”. Như thơ Xuân Hương thời lại là: “Thi trung hữu quỷ”, nghĩa là: “Trong thơ có ma”. Song mà nhận ra thời tục”(9).

Có thể thấy ở đây vai trò nổi bật của hình thức thơ Đường luật trong văn bản này nói riêng và trong thơ Nôm được xem là của Hồ Xuân Hương nói chung. Nếu đặt văn bản thơ vào bối cảnh thời trung đại nửa cuối thế kỷ XIX, trong phạm vi kinh nghiệm văn học của một người đọc vốn quen thuộc với hình thức thẩm mỹ của thơ Đường luật, và chưa một lần đọc thơ Nôm được xem là của Hồ Xuân Hương, chính hình thức thơ Đường luật đã gợi nên trong người đọc những chờ đợi trong phạm vi kinh nghiệm thẩm mỹ quen thuộc của văn chương nho giáo, để rồi từng bước phá hủy những chờ đợi và phá vỡ cả phạm vi kinh nghiệm thẩm mỹ này, tạo nên giá trị thẩm mỹ của hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

3.Từ góc nhìn của mỹ học tiếp nhận, bài thơ Đèo Ba Dội đem đến những giá trị thẩm mỹ đa dạng. Nếu như chỉ đặt nó vào không gian thực của tác động đạo đức trong đời sống xã hội, người đọc sẽ lên án, phê phán và phủ nhận tác động thẩm mỹ của văn bản; nhưng, nếu đến với văn bản thơ trong mối quan hệ thẩm mỹ, đặt nó vào không gian hư cấu, người đọc sẽ trải nghiệm cái đẹp của ngôn ngữ thi ca và sự quyến rũ tự nhiên của hình ảnh nghệ thuật. Khi đó, đồng thời với việc từng bước chỉnh sửa và thay đổi chân trời chờ đợi của người đọc, văn bản thơ kiến tạo nên trong người đọc những cảm thụ thẩm mỹ mới mẻ, hiện đại, cảm thụ thẩm mỹ về vẻ đẹp sắc dục. Đối với người đọc có kinh nghiệm thẩm mỹ dựa trên quan niệm đạo đức nho giáo, sự thay đổi chân trời cũng đồng thời phá vỡ những giới hạn của quan niệm đạo đức này, đồng thời mở ra trong họ chân trời mới vượt khỏi chân trời kinh nghiệm đời sống trong phạm vi “tôn ti xã hội” hiện tại, làm biến đổi những quan niệm sống hạn hẹp đã ràng buộc cảm thụ thẩm mỹ của họ. Đó là lý do mà Phan Kế Bính, để bảo vệ cho quan điểm Nho giáo, đã cảnh báo rằng “thơ cô Hồ” thì “không thể làm phép cho các nhà thơ”(10); còn Vũ Trọng Phụng, một nhà văn hiện thực, đã liên tưởng đến những tác động sinh lý, tâm lý, “giải phóng”, “cách mệnh lại gia đình” của thơ Nôm Hồ Xuân Hương với người đọc hiện đại. Trong một bức thư đăng trên báo Tương lai, năm 1937, để trả lời một độc giả phê phán đoạn thơ trong thiên phóng sự Lục xì, Vũ Trọng Phụng viết: “Nay tôi xin nói thẳng ngay rằng nếu cô gái nhỏ ấy mà có khao khát ái tình – nghĩa là dục tình – mà có lãng mạn, mà có nhân tình hay là bạn trai, hay là sẽ bỏ chồng, hay là sẽ giải phóng, hay là sẽ cách mệnh lại gia đình thì đó có khi ảnh hưởng của thứ văn đại khái như Tố tâm, Đoạn Tuyệt, Lạnh lùng hay là một bài thơ của Hồ Xuân Hương hay là một cuốn văn “thanh tao” nào khác của một tụi vô lại, nhưng tội còn nặng hơn nữa, chứ không phải vì một đoạn thơ vệ sinh của nhà nước mà tôi đăng trong Tương lai(11)q

___________________

(1) Bài viết này tiếp thu một gợi ý cơ bản từ góc độ ngôn ngữ học của PGS.TS. Hoàng Dũng. Người viết xin chân thành cảm ơn.

(2) Hans Robert Jauss: Literaturgeschichte als Provokation (Lịch sử văn học như sự thách thức), Suhrkamp, Frankfurt am Main, Germany, 1970, tr.173-174.

(3) Hans Robert Jauss. Sđd, tr.175. “Bestimmt man den vorgängigen Erwatungshorizont eines Textes mit W.D. Stempel als paradigmatische Isotopie, die sich dem Maβe, wie die Aussage anwächst, in einen immanenten, syntagmatischen Erwartungshorizont umsetzt, so wird der Rezeptionsprozeβ in der Expansion eines semiologischen Systems beschreibbar, die sich zwischen Systementfaltung und Systemkorrektur vollzieht”.

– “Isotopie” (isotopy) là khái niệm do A.Greimas đặt ra, được Umberto Eco phát triển. Theo Greimas, “isotopy” là “nguyên tắc cho phép [tạo nên] sự kết nối ngữ nghĩa của các phát biểu”. (Dẫn lại từ: Winfried Nöth, Handbook of Semiotics, Indiana University Press, USA, 1995, tr.319). Umberto Eco giải thích về khái niệm này như sau: “… nội dung chủ đề với tính cách như một vấn đề là một lược đồ giả định giúp cho người đọc quyết định những thuộc tính ý nghĩa phải được hiện thực hóa, ngược lại, tính tương hợp chủ đề là sự thẩm định thực tại văn bản cho những giả định ước chừng [về nghĩa] này”. (Umberto Eco, “Isotopy”, Semiotics and the Philosophy of Language, Indiana University Press, USA, 1984, tr.189). Trương Đăng Dung dịch khái niệm này từ tiếng Hungari là “chất đồng vị”, Huỳnh Văn Vân dịch là “đồng vị quy chiếu”. Từ điển Cao Xuân Hạo – Hoàng Dũng dịch “isotopy” (tiếng Anh) là “tính tương hợp (về) chủ đề”. Chúng tôi chọn cách dịch này.

(4) Chúng tôi chọn văn bản bài thơ trong quyển Thơ Hồ Xuân Hương (Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu. (Tái bản). Nxb Văn học, H., 1985). Trong bản in này, dấu hỏi được chấm ở cuối câu thứ bảy. Theo chúng tôi, dấu hỏi này phải được chấm ở cuối câu thứ tám.

(5) Hoàng Phê: Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, 2000.

(6)   Bài Vịnh quan thị cũng có hình ảnh này: “Đố ai biết đó vông hay trốc, Còn kẻ nào hay cuống với đầu”. Trong Trường xuyên thi thoại, Quách Tấn có kể lại chuyện cụ tú Nguyễn Khuê, người làng Vân Sơn, ứng tác bài thơ có đề “L… lớn tày mo”, trong đó có câu: “Xấp ba lá chóc không bì kịp”. Sau đó, Quách Tấn chú thích cho câu thơ này bằng một câu tục ngữ như sau: “Ở với mẹ cha thì l… lá vông, khi có chồng thì l… lá chóc, làm ăn mệt nhọc thì l… lá tre. Ba chú không nghe, kiện đâu thì kiện”. Quách Tấn: Trường xuyên thi thoại. Nxb. Văn Nghệ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr.12). Chuyện này cho thấy hình ảnh trên thường được sử dụng trong các tác phẩm thanh – tục dân gian.

(7)   Nguyễn Kim Sơn, Trần Thị Mỹ Hòa: Mấy phương diện thẩm mĩ của thơ nho gia và thiền gia (qua khảo sát một số trường hợp thơ viết về thiên nhiên), in trong Văn học Việt Nam thế kỉ X-XIX: Những vấn đề lí luận và lịch sử (Trần Ngọc Vương chủ biên). Nxb. Giáo dục, H., 2007, tr.356.

(8) Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Nxb. ĐH và THCN, 1988, tr.30-31.

(9) Dẫn theo Nguyễn Văn Hanh: Hồ Xuân Hương. Tác phẩm. Thân thế và văn tài, in lần thứ 2, Aspar Sài gòn, tr.18.

(10) Bưu Văn Phan Kế Bính: Việt Hán văn khảo. Tái bản. Mặc Lâm xuất bản, Sài Gòn, 1970, tr.175.

(11) Vũ Trọng Phụng: Chung quanh thiên phóng sự Lục xì, Bức thư ngỏ cho một độc giả, trong sách Vũ Trọng Phụng phóng sự và tiểu luận. Nxb. Văn học, H., tr.133.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2013

Leave a Reply