Phê bình văn học thế hệ F: tiềm năng và giới hạn


Phan Tuấn Anh

Trong khoảng mười năm trở lại đây, theo quy luật của thời gian, văn đàn nước nhà chứng kiến sự xuất hiện, quá trình vỡ giọng và nhanh chóng trưởng thành, xác lập tiếng nói có uy tín của một thế hệ nhà lý luận phê bình trẻ, tuổi đời trên dưới 30. Thế hệ những nhà lý luận, phê bình trẻ cuối 7x, 8x này có thể kể đến một vài gương mặt nổi bật như Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Mạnh Tiến, Đoàn Ánh Dương, Trần Thiện Khanh, Mai Anh Tuấn, Cao Việt Dũng, Đoàn Minh Tâm, Hoàng Thụy Anh, Hoàng Đăng Khoa, Nguyễn Quang Huy… Họ là những nhà phê bình “thế hệ f” như cách nói của Trần Thiện Khanh, tức thế hệ của facebook, của internet, những người viết nên các bài nghiên cứu bằng mười đầu ngón tay.

Những nhà lý luận phê bình “thế hệ f” đã thật sự thổi một luồng sinh khí mới mẻ vào nền nghiên cứu văn học nước nhà vốn trong thời gian dài là không gian riêng của những cây đa, cây đề. Họ xông xáo vào những địa hạt phê bình mới, điểm đúng mạch các nỗ lực cách tân của nền văn học Việt Nam (hậu) hiện đại, đặc biệt là khả năng lĩnh hội nhạy cảm trước những cái mới, mà đặc biệt là những cái mới trên bình diện lý thuyết văn chương. Có thể nói, một loạt các hệ lý thuyết mới mẻ (ít ra là mới đối với nền văn học Việt Nam) như phê bình cổ mẫu, phê bình sinh thái, nữ quyền luận, lý thuyết trò chơi, giải cấu trúc, hậu hiện đại, đồng tính luận… đã được giới thiệu, vận dụng hoặc làm phong phú thêm trong quá trình soi chiếu vào thực tiễn nghiên cứu văn học nước nhà. Tuy vậy, những cây bút trẻ cũng bộc lộ những giới hạn, cả khách quan lẫn chủ quan.

Xét về mặt chủ quan, có thể có người còn nóng vội, sớm hớt ngọn kiến thức, việc vận dụng lý thuyết còn sống sượng, hoặc chưa kịp tính đến sự tương thích giữa đối tượng và lý thuyết. Một số người khác còn cả nể, “lụy tình” nên chưa đủ bản lĩnh từ chối đối với những tác phẩm “hạng hai”. Kiểu “phê bình ngoại giao” này đôi khi chỉ mang lại những lợi ích bên ngoài văn chương, nhưng lại khiến nhà phê bình trẻ không thể tiến xa hơn trong sự nghiệp. Một vài người khác sớm tự mãn, hoặc quá xông xáo vào những cái mới mà bản lĩnh nghề nghiệp chưa cao để từ đó nhận định trở nên cực đoan. Mặc dù vậy, quan điểm của tôi là những giới hạn hiện nay của phê bình trẻ “thế hệ f” (nếu có) lại chủ yếu nằm ở các điều kiện khách quan.

Thứ nhất,tôi đã không dưới một lần chỉ ra sự bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo các nhà lý luận, phê bình trẻ tương lai – đó là những cử nhân nghiên cứu văn học trong các trường đại học. Xét về mặt lý thuyết, chúng ta đều biết khoa nghiên cứu văn học bao gồm bốn phân ngành chính là lịch sử văn học, phê bình văn học, lý luận văn học và phương pháp luận nghiên cứu văn học. Theo lý thuyết, trung bình một cử nhân nghiên cứu văn chương trong bốn năm học tập (tương ứng tám học kỳ) ở các trường đại học sẽ học xấp xỉ trên dưới 80 học phần (môn), tức một học kỳ học khoảng 10 học phần (một học phần tương ứng hai tín chỉ), thì mỗi phân ngành phải có khoảng 20 môn, chiếm một phần tư tổng chương trình. Theo điều kiện lý tưởng ấy, một cử nhân nghiên cứu văn chương tương lai đã được trang bị đến gần 60 môn (thuộc phê bình văn học, lý luận văn học và phương pháp luận nghiên cứu văn học) phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình trong tương lai, chiếm khoảng 80% chương trình. Tuy nhiên, thực tiễn chương trình lại không diễn ra như vậy. Bởi vì, sinh viên mất không ít hơn một học kỳ để thực tập, thực tế (mất đi khoảng thời gian cho khoảng 10 học phần). Lại nữa, họ phải mất thêm khoảng thời gian tương ứng gần một học kỳ cho các môn đại cương như Thống kê học, Môi trường và con người, Ngoại ngữ, Lý luận chính trị… Như vậy, tổng chương trình phục vụ nghiên cứu văn chương chỉ còn khoảng trên dưới 60 học phần (tương ứng với khoảng 120 tín chỉ và sáu học kỳ). Mỗi phân ngành như vậy chỉ được học khoảng 15 môn. Nhưng thật ra, số môn học liên quan đến lý luận, phê bình ít hơn nhiều, với chỉ trên dưới 10 môn mà thôi. Trong đó, lý luận văn học thường chỉ có ba môn bắt buộc (Nguyên lý lý luận văn học, Tác phẩm và thể loại, Tiến trình văn học), Phê bình văn học có khoảng từ một đến hai môn, Phương pháp luận nghiên cứu văn học có một môn và xấp xỉ sáu môn lý thuyết chuyên sâu tự chọn như phân tâm học, hậu hiện đại, tự sự học, thi pháp học, tiếp nhận văn học… Tôi nhẩm tính, sinh viên được đào tạo để làm những nhà lý luận, phê bình văn học trong tương lai sẽ chỉ được trang bị không quá 15 học phần thuộc ba chuyên ngành trực tiếp liên quan đến nghề nghiệp của họ, trong khi đáng ra họ phải học đủ 45 học phần.

Tri thức văn học sử không thể nói là không cần thiết cho công việc tương lai, nhưng quá nhiều tri thức văn học sử mà thiếu đi kiến thức về lý thuyết sẽ khiến những nhà nghiên cứu văn học trẻ mất khả năng nhìn nhận ra cái mới, phát hiện ra những cách tân của văn học đương đại, một khi tầm đón nhận của họ chủ yếu dừng ở hệ hình tiền hiện đại. Ngoài ra, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng đa phần những bộ giáo trình lý luận văn học của ta hiện nay đã quá cũ, chủ yếu được viết từ trước giải phóng hoặc trước Đổi mới, với sự ảnh hưởng trực tiếp của những trung tâm lý luận văn học lớn như Nga và Trung Quốc. Về sau những bộ giáo trình này đã liên tục được tái bản, cập nhật nhưng nhìn chung vẫn chưa thể giúp sinh viên có thể bắt kịp với trình độ lý thuyết văn học trên thế giới. Một khi những nhà nghiên cứu văn học trẻ tương lai bị lạc hậu về lý thuyết văn học đương đại, việc áp dụng kiến thức vào công việc sau này sẽ tạo ra những độ chênh phô khó lòng lấp đầy. Đa phần những sinh viên ngữ văn ngày nay tốt nghiệp ra trường, khi đối diện với những bậc thầy văn chương đương đại (thuộc các trào lưu hiện đại và hậu hiện đại) như M. Proust, W. Faulkner, G.G. Márquez, M.V. Llosa, F. Kafka… thì sẽ có một khoảng cách thẩm mỹ lớn, dẫn đến tiếp nhận sai, hoặc phản tiếp nhận.

Hệ quả dẫn đến là nhà nghiên cứu tương lai sẽ chủ yếu hoạt động phê bình, hoặc tham gia giảng dạy văn chương ở các trường theo phương pháp xã hội học và tiểu sử học. Hơn nữa, việc quá thiếu và yếu nền tảng lý luận phê bình sẽ không chỉ đẩy nhà nghiên cứu trẻ ra xa trình độ và quan điểm thẩm mỹ của nền văn học thế giới đương đại, mà còn giới hạn họ trong cách đọc hiểu lịch sử văn học. Đa phần những cử nhân nghiên cứu văn chương khi mới ra trường, bắt tay vào công việc phê bình đều phải mất công cơ quan đào tạo lại, hoặc chính họ phải tự đào tạo lại mới có khả năng thông diễn và thẩm định đúng đắn các giá trị văn chương đương đại. Tôi coi đây là giới hạn cốt lõi có tính nền tảng đối với trình độ của các nhà nghiên cứu trẻ hiện nay và tương lai. Việc cần làm ngay đó là tái cấu trúc lại chương trình theo hướng tăng cường chất và lượng những học phần thuộc lý luận, phê bình văn học.

Thứ hai,không ai có thể sống được bằng nghề viết lý luận phê bình văn học, bởi sự đãi ngộ mà họ thu được từ các công trình nghiên cứu là quá thấp so với mức sống hiện tại. Điều này kéo theo tác hại mà chúng ta thời gian qua vẫn thường hay lo lắng đó là Việt Nam không có nhà phê bình chuyên nghiệp. Đa phần những nhà lý luận phê bình trẻ hiện nay công tác tại các viện nghiên cứu, các trường đại học hoặc các tạp chí văn học nghệ thuật, tạp chí khoa học. Tức là, về cơ bản, họ đã được Nhà nước bao cấp, trả lương cho để sống nhằm nghiên cứu văn chương, hoặc trong công việc của họ ở cơ quan bắt buộc phải nghiên cứu văn chương. Việc nghiên cứu lúc này mang tính hành chính sự vụ hơn là một sự chuyên nghiệp có thể sống bằng nghề.

Đồng lương của các cây bút trẻ viết lý luận phê bình hết sức eo hẹp, chỉ nhỉnh hơn lương cơ bản đôi chút, nếu như không làm thêm, làm vượt, họ hầu như không thể sống bằng năng lực và đam mê chính yếu. Một bài phê bình văn học hoặc nghiên cứu lý thuyết hiện nay đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành uy tín, hoặc các tạp chí văn nghệ trung ương và địa phương có mức đãi ngộ chủ yếu nằm trong khoảng từ ba trăm đến năm trăm nghìn đồng. Hạn hữu lắm mới có tạp chí trả trên bảy trăm đến một triệu đồng, nếu không phải là bài đặt hàng hoặc bài có “quan hệ đặc biệt”…

Thực tiễn công bố các nghiên cứu theo đường sách lại càng khó khăn hơn, mặc dù những nhà lý luận phê bình lớn đều phải khẳng định tên tuổi thông qua các công trình dài hơi xuất bản đàng hoàng, chứ không thể chỉ đăng vài ba tiểu luận ngắn trên các báo. Chính vì vậy, những cây bút nghiên cứu trẻ nếu như không may mắn được các cơ quan văn nghệ hay các quỹ văn hóa tài trợ, thì đa phần phải bỏ một khoảng tiền túi không hề nhỏ so với thu nhập của họ để in sách và tự phát hành, mà chủ yếu là tặng người quen, đồng nghiệp.

Giới hạn thứ ba mà những nhà lý luận, phê bình trẻ phải đối mặt đó là những áp lực, rủi ro và cám dỗ của nghề. Có thể nói, làm lý luận, phê bình luôn gặp nhiều nguy cơ hơn so với sáng tác văn chương. Vì sáng tác chỉ có hay và dở, mà ranh giới hay và dở thật mơ hồ, tùy theo người tiếp nhận hoặc điều kiện, thời điểm tiếp nhận. Mà có dở thì cũng đã sao, vì sáng tạo là cả quá trình. Nhưng lý luận phê bình thì không có hay và dở, mà chỉ có đúng và sai. “Đúng” thì không có gì lạ, nhưng “sai” thì thật nhiều hệ lụy, phê phán đôi khi dễ làm người viết trẻ chùn chân, nhụt chí, hay bỏ hẳn luôn nghề nghiệp, đam mê.

Khó khăn, giới hạn cơ bản thứ tư đặt ra đối với những nhà lý luận phê bình trẻ, đó là những sân chơi và sự quan tâm của xã hội và bạn đọc dành cho họ là quá ít. Chúng ta thấy rằng những nhà văn trẻ, dẫu vẫn có nhiều thiệt thòi trong đời sống văn chương nhưng họ vẫn có không ít cơ hội xuất hiện hơn những người viết lý luận phê bình trẻ. Hằng năm hoặc một vài năm, vẫn có những tuyển tập sách dành riêng cho sáng tác trẻ, mà tiêu biểu là tủ sách “Văn học tuổi hai mươi” của Nhà xuất bản Trẻ dành cho truyện ngắn và tiểu thuyết. Một số nhà xuất bản, tạp chí, báo văn nghệ như Văn nghệ, Nxb Thanh Niên, Văn nghệ Quân đội, Đất Quảng, Sông Hương, Áo Trắng… thường xuyên tổ chức các cuộc thi thơ hay truyện ngắn, tuy nhiên một cuộc thi hay giải thưởng dành cho lý luận phê bình trẻ hiện nay theo hiểu biết hết sức nông cạn của tôi là chưa có. Người viết lý luận phê bình trẻ không có sân chơi, hoặc không có sự quan tâm thỏa đáng, họ buộc phải “tự chơi” với mình và giới của mình trên mạng internet, hoặc chấp nhận chơi chung những sân chơi dành cho mọi lứa tuổi cầm bút.

Chính vì vậy, tôi mong mỏi trong tương lai sẽ có những quỹ riêng của các Hội văn nghệ, của Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương, các nhà xuất bản hay tạp chí tài trợ cho các nhà lý luận phê bình trẻ công bố tiểu luận hoặc chuyên luận. Một cuộc thi dành cho lý luận phê bình là một ý tưởng khá kỳ cục, tuy nhiên, một giải thưởng dành riêng cho những nhà lý luận phê bình trẻ là điều nên làm nhằm động viên kịp thời đội ngũ và phát hiện những gương mặt mới.

Với tất cả những khả thể và giới hạn của mình, tôi vẫn tin thế hệ lý luận phê bình trẻ hiện nay sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh văn đàn với những công trình tâm huyết, trí tuệ, thể hiện những tìm tòi mới mẻ về mặt lý thuyết và thực tiễn lẫn thái độ tri thức đúng đắn trước thời cuộc. Họ sẽ là thế hệ đi xa và nhìn rộng hơn tất thảy, không phải bởi những thuận lợi của quá trình toàn cầu hóa, mà là họ là thế hệ may mắn được đứng trên vai những người khổng lồ.

Nguồn: Nhân Dân cuối tuần số 32 (ngày 7-8)

Leave a Reply