Quá trình cá nhân hóa hư cấu (Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử giữa truyền thống và hiện đại)


Phạm Xuân Thạch

 
Con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đã đi qua
Nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước [1]
Tóm tắt tham luận: Với tên gọi “Quá trình cá nhân hóa hư cấu – Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử”, báo cáo khoa học tập trung khảo sát một nhóm tự sự nghệ thuật có giá trị trong nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới (tính từ 1986 đến nay). Sử dụng khái niệm “tự sự đương đại về đề tài lịch sử” (trong báo cáo được rút gọn thành “tự sự lịch sử”), người viết muốn mở rộng phạm vi khảo sát đến các tự sự nghệ thuật đương đại lấy những suy ngẫm về lịch sử và mối quan hệ giữa lịch sử và đời sống đương đại làm vấn đề trung tâm của tác phẩm (Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu). Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là đi từ những biến động trong cấu trúc hình thức của văn bản tự sự và từ đó lý giải các vấn đề hình thức nghệ thuật từ những biến đổi trong nội dung tư tưởng, phương thức cảm thụ thế giới và quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Với phương pháp khảo sát đó, người viết đã phát hiện một hiện tượng được định danh là “quá trình cá nhân hóa hư cấu” nói cách khác, đó chính là quá trình nhà văn ấn định cái nhìn có tính cá nhân của mình vào quá trình hư cấu tự sự, vượt ra khỏi sự lệ thuộc vào cái nhìn có tính “cộng đồng” về các sự kiện lịch sử. Quá trình này phản ánh những thay đổi trong tầng sâu của đời sống văn học đương đại, trong mối quan hệ giữa Nghệ sĩ – Quá trình sáng tạo văn học và Hiện thực. Trên một phương diện, nó đánh dấu những nỗ lực vượt ra khỏi chủ nghĩa hiện thực truyền thống, một khuynh hướng đã diễn ra từ đầu thế kỷ XX trong văn học thế giới. Và từ góc nhìn đó, có thể khẳng định tự sự lịch sử đương đại ở Việt Nam là nhóm tác phẩm phản ánh những nỗ lực của cả nền văn học trong việc hoà nhập vào đời sống văn học đương đại thế giới. 
*
Từ trước đến nay, trong các nghiên cứu lý luận, phê bình và lịch sử văn học các khái niệm “tiểu thuyết lịch sử”, “truyện ngắn lịch sử”, “truyện lịch sử” được sử dụng một cách mặc định và phổ biến mà chưa bao giờ bị đặt vấn đề về sự mơ hồ của khái niệm. Tự sự lịch sử (tiểu thuyết, truyện ngắn hay truyện đều nằm trong giới hạn của thể tự sự) – đó là những tự sự mô tả, tái hiện một thời kỳ và những nhân vật lịch sử hay những tự sự phản chiếu những suy tư về lịch sử? Và quan trọng, đâu là giới hạn của cái gọi là lịch sử? Đó là những câu hỏi chưa có lời xác quyết cuối cùng. Sự nhập nhằng của khái niệm đó dẫn đến một thực tế là một loạt văn bản đứng ở ranh giới của tự sự lịch sử. Sẽ không khó khăn để đi đến một thống nhất về việc coi những tự sự (Kiếm sắcVàng lửaPhẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo…) viết về những thời đại cách đây hàng trăm năm (nhà Trần, Hồ, Lê, Nguyễn) hay thậm chí những giai đoạn “quá khứ gần” – những ngày hòa bình đầu tiên sau cuộc chiến tranh chống Mỹ (trường hợp tự sự Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu) – là những tự sự lịch sử. Tuy vậy, thực tế luôn luôn là phản đề của mọi sự giản hóa. Khuynh hướng vận động của tự sự hiện đại là phá vỡ tính thống nhất và đơn nhất của không – thời gian trong thế giới nghệ thuật. Đã có những tự sự (Cỏ lauPhiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh) được xây dựng trên sự xáo trộn thời gian, trên sự hòa trộn quá khứ lịch sử và hiện tại cuộc đời nhân vật và đặc biệt, lấy dấu vết khủng khiếp của lịch sử để lại trên số phận con người làm chủ đề trung tâm. Đó là những văn bản đứng ở bên lề của hình dung có tính “vô thức cộng đồng” về tự sự lịch sử. Theo chúng tôi, đó là những phiên bản hiện đại (version moderne) của tự sự lịch sử. Ở đây, khái niệm tự sự lịch sử được hiểu như là sự thu gọn của khái niệm tự sự về đề tài lịch sử(chúng tôi nhấn mạnh). 
Với một hình dung về đối tượng như trên, có thể khẳng định tự sự lịch sử luôn là nhóm thể loại có những tác phẩm nằm ở trung tâm của đời sống văn học đương đại ở Việt Nam. Trong đợt sóng thứ nhất của văn học thời kỳ Đổi mới (1986 – 1991) tự sự lịch sử đã góp mặt những tác phẩm có giá trị, có sức tác động mạnh, gây được những cơn “địa chấn” trong dư luận và làm nên diện mạo của một thời kỳ đổi thay mãnh liệt của văn học đương đại. Nhiều tự sự, theo chúng tôi đã trở thành những giá trị vững chắc của văn học Việt Nam sau năm 1986 (Kiếm sắcVàng lửaPhẩm tiếtMùa trái cóc ở miền NamPhiên chợ GiátCỏ lauNỗi buồn chiến tranh). Cho đến nay, trong cuộc khủng hoảng chung của tự sự nghệ thuật đương đại [2] , tự sự lịch sử vẫn là vẫn là mảng tác phẩm có được những thành công cả về quy mô và chất lượng nghệ thuật (Hồ Quý LyGiàn thiêu). Từ nhận thức nói trên, chúng tôi đặt vấn đề khảo sát khảo sát và khái quát hóa một số đặc điểm của tự sự lịch sử ở Việt Nam trong giai đoạn sau 1986 và đồng thời từ đó, khái quát hóa một số vấn đề lý luận mà theo quan điểm của chúng tôi là quan trọng trong đời sống văn học đương đại ở Việt Nam. 

1. Tự sự lịch sử đương đại – nhận diện cấu trúc hình thức thể loại: 

Nhìn vào đời sống văn học ở Việt Nam, sau một giai đoạn đứt đoạn kéo dài trong vòng hơn hai mươi năm do những yêu cầu thời đại (tính từ thời điểm diễn ra cuộc đấu tranh chống lại những khuynh hướng sáng tác của nhóm Nhân văn giai phẩm), sau năm 1986 bắt đầu tái khởi động một tiến trình hiện đại hóa mới trong đời sống văn học Việt Nam. Tiến trình hiện đại hóa này diễn ra dưới sự tác động của sự tái hòa nhập của văn học Việt Nam đương đại vào đời sống văn học đương đại thế giới lẫn những sự vận động có tính nội tại của bản thân nền văn học. Tiến trình hiện đại hóa này được biểu hiện một cách rõ nét nhất trên bình diện hình thức biểu đạt (chúng tôi nhấn mạnh) của tác phẩm văn học. Và từ góc nhìn đó, có thể ghi nhận trong nhóm tác phẩm tự sự lịch sử hình chiếu của những khuynh hướng đổi mới hình thức nghệ thuật của tự sự Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay. Chúng tôi ghi nhận một số khuynh hướng chủ yếu. 

1.1. Sự tan vỡ và quá trình phân rã của cốt truyện trong tự sự

Trong nhóm tự sự nằm trong diện trường khảo sát của chúng tôi, bên cạnh các tự sự được xây dựng trên cơ sở cốt truyện truyền thống (Kiếm sắc,Phẩm tiếtHồ Quý LyGiàn thiêu), bắt đầu xuất hiện hiện tượng biến dạng và dẫn đến phân rã của cốt truyện trong một số tự sự (điển hình là các truyện ngắn Vàng lửaPhiên chợ Giát và tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh). Trong những tự sự này, thay vì duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả (chúng tôi nhấn mạnh) của chuỗi sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính (protagoniste), tự sự tan vỡ thành một chuỗi lắp ghép các phân đoạn, các “mảnh vỡ” của cuộc đời nhân vật chính. Trong những tự sự này, dựa vào các chỉ dẫn được tác giả phân tán trong văn bản, người đọc có thể tái dựng được những thông tin cần thiết về nhân vật chính, tuy nhiên, thay vì triển khai tự sự bám vào “cuộc phiêu lưu của nhân vật”, nhà văn lại biến tự sự trở thành một “cuộc phiêu lưu của cái viết” [3] nghĩa là sự chắp ghép ngẫu nhiên những mảnh vỡ – những sự kiện phân tán và rời rạc: những ghi chép của một người phương Tây (Phăng) về triều đại nhà Nguyễn, về hoàng đế Gia Long và thi sĩ Nguyễn Du; cuộc hành trình từ nhà đến chợ trong một buổi sáng tinh mơ của một người nông dân già (ông Khúng) với con bò Khoang (một hình tượng đầy tính ẩn dụ) cùng dòng suy tưởng của ông về cuộc đời, về những thời đại đã qua của lịch sử, về cái chết của đứa con trai duy nhất ở Campuchia; dòng tâm tưởng của một cựu chiến binh chống Mỹ (Kiên) về một thời trận mạc tột độ anh hùng và tột độ bi thảm, về mối tình đầu vĩnh viễn không bao giờ trọn vẹn, vĩnh viễn tan vỡ bởi chiến tranh và vì vậy vĩnh viễn trẻ… Hình thức kết cấu nói trên phản ánh một sự thay đổi tự bản chất của tự sự vượt thoát khỏi những dạng thức tự sự truyền thống. 

1.2. Quá trình chủ quan hóa mô thức tự sự

Bản chất của tự sự là hành vi kể, nghĩa là một chuỗi hành động của nhân vật hư cấu được phản chiếu qua ý thức của nhân vật người trần thuật. Chính vì vậy, những dạng thức “cổ điển” của tự sự được xây dựng với mô thức trần thuật từ ngôi thứ ba và trung tâm điểm là con người hành động. Hình thức tự sự này tạo nên một “ảo ảnh” về tính khách quan của tự sự. Cùng với sự phát triển của tự sự nghệ thuật hiện đại, bắt đầu vận hành một quá trình chủ quan hóa tự sự gắn liền với mô thức trần thuật từ ngôi thứ nhất, với những kỹ thuật phân tích tâm lý, độc thoại (monologue), độc thoại nội tâm (monologue intérieur) [4] , và thu hẹp trường nhìn tự sự (focalisation)… Trong tiến trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam, tiến trình chủ quan hóa tự sự này đã được khởi động từ những tự sự đầu tiên của tiến trình hiện đại hóa. Tuy vậy, phải sau 1986, những mô thức và kỹ thuật tự sự này bắt đầu xâm nhập vào tự sự lịch sử. Hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất bắt đầu được sử dụng trong nhiều tác phẩm (Mùa trái cóc ở miền NamCỏ lau) hoặc đan xen giữa trần thuật từ ngôi thứ ba và trần thuật từ ngôi thứ nhất (Phiên chợ GiátVàng lửaHồ Quý LyNỗi buồn chiến tranh). Hình thức trần thuật này được phát triển theo hai dạng thức: dạng thức “tôi là người chứng” (Mùa trái cóc ở miền NamHồ Quý LyVàng lửa) hoặc dạng thức tự sự dòng tâm tưởng (flux de conscience) (Nỗi buồn chiến tranhPhiên chợ Giát, một số đoạn trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly). Có thể coi dạng trần thuật “tôi là người chứng” với cốt truyện được khúc xạ qua điểm nhìn của nhân vật là một đối trọng của tự sự từ ngôi thứ ba truyền thống với điểm nhìn bao trùm toàn bộ thế giới tự sự (point de vue omniscient). Điển hình cho dạng trần thuật này là các tự sự Mùa trái cóc ở miền NamVàng lửa và trên một phương diện, tiểu thuyết Hồ Quý Ly [5] . Song song với hiện tượng này, trong tự sự lịch sử, có một sự thay đổi trong nhận thức về thế giới bên trong của con người. Bên cạnh con người hành động, bắt đầu có sự khám phá ra thế giới bên trong của con người (thông qua những độc thoại) [6] thậm chí của cái vô thức, của những ám ảnh, những cơn mê sảng bên trong của con người (thông qua các kỹ thuật độc thoại nội tâm) [7] . 

1.3. Hệ quả trực tiếp của quá trình gia tăng tính chủ quan trong tự sự là sự gia tăng tính đối thoại bên trong của tự sự

Không thuần túy là một con người hành động và giải quyết các xung đột thông qua hành động, bắt đầu xuất hiện dạng thức nhân vật như là những lập trường tư tưởng [8] và đồng thời những kỹ thuật tự sự thể hiện tính xung đột giữa các lập trường tư tưởng được ứng dụng. Bên cạnh kỹ thuật có tính “cổ điển” là tổ chức các đối thoại có tính kịch giữa các lập trường đối nghịch [9] thì bản thân những thủ pháp hiện đại như độc thoại (tái hiện dòng suy nghĩ, xung đột của tư tưởng bên trong của nhân vật), thu hẹp trường nhìn tự sự, soi sáng nhân vật từ điểm nhìn của những nhân vật khác chính là một con đường gia tăng tính đối thoại bên trong của tự sự. 

Qua ba khuynh hướng hình thức nói trên, có thể khẳng định, bên cạnh những dạng thức có tính cổ điển của tự sự (tự sự từ ngôi thứ ba, tự sự đan xen thơ – điển hình là các tự sự Kiếm sắcPhẩm tiết), bắt đầu xuất hiện những hình thức tự sự phản ánh một sự thay đổi trong bản chất. Vấn đề đặt ra đối với người nghiên cứu là chỉ ra tính nội dung của những hình thức nghệ thuật mới mẻ này. 

2. Lịch sử – từ thân phận cá nhân đến cái nhìn cá nhân 

Trong quá trình khảo sát diện mạo hình thức của tự sự lịch sử, chúng tôi đã lưu ý đến một khuynh hướng: quá trình cá nhân hóa mô thức tự sự. Quá trình này gắn liền với những vận động trong phương thức xây dựng hình tượng nhân vật của tự sự lịch sử đương đại Việt Nam. Từ góc độ loại hình, kiểu nhân vật truyền thống của tự sự lịch sử vẫn tiếp tục được bảo lưu: những con người tham gia và làm nên tiến trình lịch sử [10] . Kiểu nhân vật này tương đồng về loại hình với kiểu nhân vật của tự sự sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trước năm 1986, tuy nhiên đã có sự thay đổi về sắc thái thẩm mỹ (giải thể sắc thái anh hùng ca, chủ nghĩa anh hùng) và đặc biệt nhân vật được soi sáng từ nhiều góc độ (qua “tấm gương” ý thức của kẻ khác) và tự soi sáng từ bên trong (thông qua những kỹ thuật phân tích tâm lý). Đồng thời, những kiểu nhân vật mới bắt đầu được đưa vào trung tâm của tự sự: Con người – nạn nhân của lịch sử và Con người – kẻ quan sát lịch sử

2.1. Đúng như A. Camus đã khẳng định trong diễn từ Nobel năm 1957 “Họ (nhà văn) phục vụ những kẻ chịu đựng lịch sử” [11] , trong tự sự lịch sử Việt Nam từ sau năm 1986, kiểu nhân vật Con người – nạn nhân của lịch sử bắt đầu trở thành trung tâm của tự sự. Nhân vật Đặng Phú Lân trong truyện ngắn Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp là điển hình cho kiểu nhân vật này. Từ một kẻ tìm kiếm minh chủ tự dựng cho mình một sự nghiệp, trở thành mưu sĩ, cánh tay phải của Nguyễn Ánh từ khi vị hoàng đế này đang gian nan khởi nghiệp, rút cục, Đặng Phú Lân – một “hào kiệt mà không sử sách nào nhắc đến” – chết trong tay chính minh chủ của mình. Hình ảnh “quân ánh đi như nước lụt. Lân như cánh bèo bị sóng cuốn trôi” hắt ánh sáng cay đắng lên toàn bộ cuộc đời Lân. Đến tận cuối cuộc đời Lân cũng chỉ là một con cờ trong cuộc chơi của đấng quân vương. Một dãy hình tượng nhân vật trong các tự sự lịch sử khác cũng được xây dựng theo công thức này: cựu chiến binh Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, người nông dân Khúng trong truyện ngắn Phiên chợ Giát, người phụ nữ nhan sắc Ngô Thị Vinh Hoa trong truyện ngắn Phẩm tiết [12] , những người phụ nữ trong các tiểu thuyết Hồ Quý Ly,Giàn thiêu… Tất cả đều là những kẻ, bằng những cách khác nhau, “chịu đựng lịch sử”. Trên số phận cá nhân của họ, lịch sử để lại những đường cày, những vết thương không thể cứu chữa. 

2.2. Từ một phía khác, tồn tại song song và đôi lúc hòa trộn làm một (trường hợp người nông dân Khúng trong Phiên chợ Giát hay cựu chiến binh Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh) là kiểu nhân vật Con người – kẻ quan sát lịch sử. Kiểu nhân vật này gắn liền với dạng tự sự “tôi là người chứng”. Điển hình cho kiểu tự sự này là truyện ngắn Mùa trái cóc ở miền Nam. Trong tác phẩm hiện thực không được tái hiện từ ngôi thứ ba mà được khúc xạ qua điểm nhìn của nhân vật người chứng – một phóng viên chiến trường chứng kiến những bi kịch sau chiến thắng trong một buổi chiều ở sở chỉ huy của một đơn vị quân đội. Vị thế là kẻ đứng bên lề của dòng chảy lịch sử (cũng “bèo bọt” như Đặng Phú Lân trong truyện ngắn Vàng lửa), tạo nên cho nhân vật một cái nhìn lặng lẽ, thông tuệ và buồn bã. Nỗi buồn, một thứ nỗi buồn của những kẻ hoặc nhìn thấu tận đáy lịch sử (Hồ Nguyên Trừng trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly) hay chịu đựng tận đáy những nỗi đau mà lịch sử để lại trên cuộc đời và tâm hồn của những cá nhân (Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, người nông dân Khúng trong Phiên chợ Giát) trở thành nét “chủ âm” trong cái nhìn của những nhân vật Con người – kẻ quan sát lịch sử

Sự xuất hiện của những kiểu nhân vật Con người – kẻ chịu đựng lịch sử và Con người – kẻ quan sát lịch sử đánh dấu một sự thay đổi trong phương thức mô tả và phản ánh lịch sử. Sự thống ngự của tự sự từ ngôi thứ ba gắn liền với những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và một nền văn nghệ thống nhất về tư tưởng đã hình thành nên đặc điểm riêng biệt của tự sự trước năm 1986: phản ánh hiện thực từ ý thức cộng đồng. Tự sự lịch sử sau năm 1986 đã phản ánh một con đường khác tiếp cận hiện thực lịch sử: làm một thứ “khảo cổ học” dấu vết lịch sử trong thân phận cá nhân và phản ánh lịch sử từ “tấm gương” ý thức cá nhân. Lịch sử ở đây không được phản ánh như là ý thức cộng đồng về lịch sử mà là những suy tư, ấn tượng, kỷ niệm, những nỗi đau của một dằn vặt của một Con người – Cái tôi – nói khác đi, một Thử nghiệm hư cấu của Cái tôi – người viết. Không phải là vô lý khi một trong những môtíp kết cấu được sử dụng phổ biến trong một số tự sự lịch sử là một con người sống lại không gian quá khứ, tìm lại thứ “thời gian đã mất” của cuộc đời mình [13] và hiện tượng phổ biến trong kết cấu tự sự là hiện tượng phân giải cốt truyện. Lịch sử tan vỡ thành những mảnh vụn của ý thức cá nhân và nhà văn trở thành người gom nhặt những mảnh vụn ý thức đó từ bóng tối của những thân phận. 

3. Từ lịch sử như một mục đích đến lịch sử như một chất liệu 

3.1. Hiểu biết và rút ra các bài học từ quá khứ luôn luôn là một nhu cầu cấp thiết của mọi cộng đồng người. Do những điều kiện nhất định, ở Việt Nam, ít nhất từ 1986 đến nay, văn học đã trở thành kẻ cạnh tranh với chính sử trong việc khám phá quá khứ cộng đồng. Người viết tự sự lịch sử đã đi tiên phong trong việc đặt lại vấn đề về những thời đoạn phức tạp của lịch sử dân tộc (chúng tôi nhấn mạnh). Sau thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc mà mối quan tâm lớn lao nhất của toàn dân tộc cũng như giới sử học là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm bước sang thời kỳ hòa bình, khi mối quân bình trong đối tượng nghiên cứu của sử học vẫn còn chưa được thiết lập thì bằng sức mạnh của thể loại (tiếp xúc hiện thực trong bình diện tiếp xúc thân mật, suồng sã, một thứ hiện tại chưa hoàn thành, một thứ hiện thực sinh hoạt), tự sự lịch sử giống như một đối trọng của chính sử, như một thứ nhắc nhở rằng vẫn còn đó một thứ lịch sử khác, lịch sử văn hóa, lịch sử sinh hoạt bên cạnh dòng chảy của lịch sử giữ nướclịch sử đấu tranh chống ngoại xâm

3.2. Với bản chất là một tác phẩm nghệ thuật, nghĩa là một phương thức nhận thức và phản ánh thế giới khác biệt với tư duy khoa học của sử học, tự sự lịch sử đã hình thành nên một cách tiếp cận riêng đối với thực tại lịch sử. Bằng sức mạnh của hư cấu, tự sự lịch sử giúp người đọc thiết lập một mối tương thông khác, không phải bằng con đường của những tư liệu thực chứng, với tinh thần của các thời đại [14] . Từ một phía khác, với khuynh hướng phản ánh thực tại lịch sử thông qua số phận cá nhân và khúc xạ qua ý thức cá nhân, tự sự lịch sử đã phản ánh một mảng thực tại vĩnh viễn không có trong chính sử: bất tử hóa những tồn tại của những con người bình thường, những kẻ “chịu đựng lịch sử”. Có thể nói, với những phương diện đó, tự sự lịch sử là một sự bổ sung cho chính sử

3.3. Kết thúc tự sự Vàng lửa, những ghi chép cuối cùng của Phăng là những dòng ghi chép về cuộc đời: “Tất cả những cố gắng của con người hướng về điều thiện đều là những cố gắng đau đớn, nhọc lòng” (một phát ngôn bị hoài nghi như chính nhân cách của Phăng). Có thể nói thêm: Tất cả những cố gắng của con người để hiểu quá khứ đều là những cố gắng đau đớn, nhọc lòng. Tự sự hiện đại gặp nhau ở một điểm: ý thức về sự phức tạp đến mức bất định của hiện thực [15] . Và ở đó, có thể khẳng định, tự sự lịch sử đương đại ở Việt Nam không chỉ là một hình chiếu minh họa cho chính sử, một thứ “đầy tớ” của khoa học lịch sử. Bởi lẽ tự sự lịch sử còn là một minh triết về thực tại lịch sử. Tự sự Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp được xây dựng nên từ những ghi chép của một nhân vật tưởng tượng (Phăng) về lịch sử và những nhân vật lịch sử và lịch sử, một cái nhìn trái ngược với nhận thức cộng đồng về lịch sử. Đến lượt mình, chính bản thân cái nhìn đó cũng bị nghi ngờ bởi những ghi chép của một người Bồ Đào Nha (bản thân những ghi chép này cũng không được “bảo lãnh” về tính chân thực) về sự tham lam và tàn ác của Phăng. Và bản thân số phận của Phăng cũng được giải quyết bằng ba kết thúc trái ngược nhau. Vấn đề ở đây không phải là Phăng đúng hay chính sử đúng, không phải là đã kết cục ra sao của số phận của Phăng. Suy đến cùng Phăng cũng chỉ là một nhân vật hư cấu. Vấn đề của tự sự là một phản tư về lịch sử: chân lý về lịch sử luôn luôn là chân lý về những gì có thể đã xảy ra trong quá khứ. Nó đánh đổ niềm tin thơ ngây vào những huyền thoại. Trong truyện ngắn Cỏ lau, Nguyễn Minh Châu đã làm một cuộc “đổi ngôi” cho nhân vật: từ một người anh hùng, người làm nên lịch sử, trong cuộc đi tìm lại hài cốt của đồng đội, một phía khác trong cuộc đời người cựu chiến binh Lực được soi sáng. Đến lượt mình ông Lực cũng là một kẻ phải “chịu đựng lịch sử” và điều khủng khiếp hơn là tìm lại quá khứ, đối với ông cũng là đối diện lại với chính những tội lỗi của mình trong quá khứ. Vấn đề ở đây không phải là sự “giải thiêng” hay “bôi đen” hiện thực. A. Camus khẳng định một điều trong diễn từ Nobel : “Người nghệ sĩ chân chính không khinh miệt cái gì, họ tự bắt mình phải hiểu thay vì phán xét” [16] . Ở điểm này tự sự lịch sử khẳng định được một minh triết: hiện thực lịch sử luôn luôn phức tạp hơn nhận thức của con người hiện tại về lịch sử và đó chính là cơ sở cho một cái nhìn duy lý, tỉnh táo về hiện thực – một sự hoài nghi minh triết về quá khứ

3.4. Và chính tại điểm này, tự sự lịch sử đạt đến chân lý trong sự tồn tại của nó. Tự sự không chỉ là một hình ảnh, một hình chiếu của nhận thức cộng đồng về lịch sử. Nó là một sự phản tư về lịch sử và cao hơn cả, nó là sự suy nghiệm về lịch sử, nó là suy tư cá nhân về những vấn đề lịch sử và những bài học lịch sử và ở phương diện đó nó đạt đến giá trị riêng của nó với tư cách là một thể loại văn học, ở đó, lịch sử không chỉ là một mục đích mà còn là một chất liệu, chất liệu cho một sự khái quát nghệ thuật. Từ góc nhìn đó, có thể đọc trong Mùa trái cóc ở miền Nam, trong Nỗi buồn chiến tranh một nỗi băn khoăn, nỗi băn khoăn về nhân tính, về lòng nhân ái. Đó là lời cảnh báo về một loại người tha hóa nhân tính bước ra từ chiến tranh, một nỗi buồn vì cái đẹp bị hủy diệt, về cái ác được tháo cũi sổ lồng trong chiến tranh. Đó là nỗi băn khoăn về một nền chính trị công chính và về chỗ đứng chân chính của người trí thức trong cơn loạn của lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly. Ở điểm đó, tự sự lịch sử làm tròn sứ mạng của một sự băn khoăn, một suy nghiệm về hiện thực. 

*
Trong những phần trên, chúng tôi đã trình bày những vận động của tự sự lịch sử đương đại ở Việt Nam từ cấu trúc hình thức thể loại đến nội dung tư tưởng và tư duy nghệ thuật. Tự sự lịch sử là một thành phần của nền văn học. Sau giai đoạn nền văn học thống nhất, có tổ chức phục vụ những nhiệm vụ của chiến tranh cách mạng từ 1945 đến 1986, người nghệ sĩ Việt Nam đang phải đứng trước những thử thách văn hóa mới. Trong định hướng chung những đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản, mỗi cá nhân nghệ sĩ đang phải đối diện với hàng loạt những câu hỏi quyết định đối với sự tồn tại của một nền văn học và của chính anh ta trong đời sống cộng đồng: câu hỏi về việc viết (Viết cho ai? Viết cái gì? Viết như thế nào?), câu hỏi về thực tại và về cách thế tồn tại của người nghệ sĩ trong đời sống thực tại, một thực tại mà như lời Bakhtine “câu trả lời cuối kết vẫn còn chưa được nói ra”. Trong tình huống đó, mỗi tìm tòi nghệ thuật là một tìm tòi lời giải cho những câu hỏi cấp thiết đó. Tự sự nghệ thuật đương đại không nằm ngoài tiến trình vận động có tính quy luật này. Hành trình của tự sự nghệ thuật đương đại là cuộc hành trình mà mỗi cá nhân nghệ sĩ ấn định cái nhìn có tính cá nhân của mình vào quá trình hư cấu văn bản tự sự – nói cách khác, quá trình cá nhân hóa hư cấu. Quá trình cá nhân hóa in dấu lên tất cả các lớp hình thức và nội dung của văn bản tự sự (như chúng tôi đã trình bày trong những phần trên). Khảo sát tự sự lịch sử có thể nhận thấy những nỗ lực của người viết trong việc vượt thoát ra khỏi những “huyền thoại” cộng đồng về quá khứ để hoặc trở thành một sự bổ sung cho chính sử, hoặc vượt khỏi sự ràng buộc của lịch sử để sáng tạo một “huyền thoại” cá nhân về hiện thực mà lịch sử được sử dụng như một chất liệu. Điều này dẫn đến một số hệ quả. 

Quá trình cá nhân hóa này dẫn đến hệ quả là một đòi hỏi đối với công chúng và đặc biệt, giới phê bình trong việc thiết lập nên những cách đọc mới đối với một văn bản tự sự lịch sử. Sự đối chiếu cơ học sự thật lịch sử với hiện thực đã được hư cấu của tiểu thuyết đôi khi không phải là cách đọc lý tưởng. Tự sự lịch sử đòi phải được ứng xử như một văn bản nghệ thuật – nghĩa là một hư cấu về hiện thực mà ở đó những nguyên tắc phản ánh hiện thực của chủ nghĩa hiện thực truyền thống không phải là những tiêu chí duy nhất. “Phản ánh” và “hiện thực” luôn là những phạm trù bị hoài nghi nhiều nhất trong thời hiện đại. Văn bản nghệ thuật luôn luôn là một cấu trúc đa nghĩa. Nó không chỉ phản chiếu hình ảnh của một thời đại đã qua (một quá khứ lịch sử theo cái nhìn và nhuốm màu những suy tư của cá nhân nghệ sĩ – điều thể hiện trong những tự sự như Mùa trái cóc ở miền NamCỏ lauPhiên chợ GiátNỗi buồn chiến tranh) mà còn là một ẩn dụ về chính đời sống hiện tại, thậm chí, cao hơn, về những vấn đề phổ quát của con người và lịch sử mà ở đó, lịch sử được sử dụng như một chất liệu (điều thể hiện ở những tự sự như Kiếm sắcVàng lửaPhẩm tiếtHồ Quý Ly). Thực chất, đó là những đáp án khác nhau về mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và hiện thực. Đồng thời, gắn liền với sự thay đổi trong mối quan hệ giữa tác phẩm và hiện thực là sự vận động theo hướng hiện đại hóa của cấu trúc hình thức nghệ thuật (sự tan vỡ của cốt truyện, sự xáo trộn không – thời gian của kết cấu nghệ thuật, những kỹ thuật phân tích tâm lý như đã trình bày trong những phần trên). Quá trình đó phản ánh con đường của tự sự nghệ thuật đương đại ở Việt Nam tìm kiếm một tiếng nói, những công cụ biểu hiện chung với tự sự đương đại thế giới. 

Có thể thấy, tất cả những hiện tượng trên phản ánh một tất yếu văn hóa không thể đảo ngược trong đời sống hiện đại: sự khẳng định vai trò của những sáng tạo và trí tuệ cá nhân. Đứng giữa truyền thống (hoàn toàn có thể khẳng định tự sự lịch sử là một trong những mảng sáng tác có bề dày truyền thống lâu đời nhất trong lịch sử văn học Việt Nam) và hiện đại, sự phát triển của tự sự lịch sử có ý nghĩa như một hiện tượng văn hóa. Nó đặt lại vấn đề về hiện tại và truyền thống và ở đó, sự kế thừa lý tưởng trong nhiều trường hợp đồng nghĩa với hành vi sáng tạo ra những giá trị mới – những “huyền thoại cá nhân” song tồn cùng những “huyền thoại cộng đồng”


[1]Trần Vàng Sao, Bài thơ của một người yêu nước mình
[2]Theo chúng tôi, tình trạng khủng hoảng của tiểu thuyết (xin xem kỷ yếu hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức vào năm 2002) và sự phát triển đến mức “lạm phát” của truyện ngắn trong đời sống văn học đương đại ở Việt Nam thể hiện tình trạng phi chuyên nghiệp hóa văn chương, một dấu hiệu phản ánh cuộc khủng hoảng chung của văn học đương đại ở Việt Nam. 
[3]Chúng tôi sử dụng khái niệm của nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu. Xin xem Tiểu thuyết Nhất Linh, in trong sách Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, H, 2000.
[4]Về sự phân biệt giữa độc thoại và độc thoại nội tâm, xin xem Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, 1995; Pierre-Louis Rey, Le Roman, Hachette Supérieur, Paris, 1992.
[5]Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đổi mới phuơng thức xây dựng nhân vật bằng thủ pháp “tấm gương”: ghi lại hình ảnh phản chiếu của nhân vật chính – Hồ Quý Ly – trong dòng độc thoại của người con – Hồ Nguyên Trừng – và nhận xét của những người đồng thời với ông ta từ nhiều lập trường khác nhau (những người đồng chí hướng với Hồ Quý Ly như Nguyễn Cẩn, Hồ Nguyên Trừng, và những người đối lập như Trần Nghệ Tông, Trần Thận Tôn, Sử Văn Hoa, Trần Khát Chân…).
[6]Ngưòi nông dân Khúng (Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu) là điển hình cho kiểu nhân vật này. 
[7]Nhân vật Kiên trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) là điển hình cho kiểu tâm lý này. Toàn bộ tiểu thuyết là cuộc phiêu lưu của Kiên trong những ký ức, những ám ảnh tột cùng đau thương và tột cùng anh hùng của thời trận mạc. 
[8]Tiểu thuyết Hồ Quý Ly là tự sự dày đặc các nhân vật kiểu này (Hồ Nguyên Trừng, Sử Văn Hoa, Phạm Sư Ôn, Hồ Quý Ly, Nguyễn Cẩn, Trần Nghệ Tôn, Trần Thuận Tôn). Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, một loạt nhân vật chính không chỉ là những số phận – tính cách mà là những lập trường tư tưởng – những ẩn dụ tư tưởng: những kẻ “quỷ ám” (không khỏi làm liên tưởng đến Lũ người quỷ ám của đại văn hào F. Dostoievski) bị ám ảnh bởi những lý tưởng cuồng vọng (Nguyễn Cẩn); những kẻ đại diện cho một nền chính trị nhân danh sự công chính (nhân danh khát vọng đổi mới, nhân danh sự bác ái) để mặc sức làm những điều phi nhân (những thủ đoạn chính trị tàn bạo – kiểu Hồ Quý Ly, sự bạc nhược trước cái ác – kiểu Trần Thuận Tôn, Trần Nghệ Tôn) và lập trường của kẻ sĩ – những người băn khoăn về số phận của dân tộc và nhân dân, những người lựa chọn “con đường đau khổ” (tên tiểu thuyết của văn hào Nga A. Tolstoi) đi về phía nhân dân (Hồ Nguyên Trừng).
[9]Trường đoạn về cuộc đối thoại giữa các sĩ quan chỉ huy trong một đơn vị quân đội trong truyện ngắn Mùa trái cóc ở miền Nam là điển hình cho thủ pháp này.Trong cuộc đối thoại qua cuộc đối đầu giữa hai lập trường (lập trường của những người lính vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh và lập trường của những kẻ cơ hội lợi dụng chiến tranh cách mạng), Nguyễn Minh Châu muốn chuyển tải lời cảnh báo của mình về một thứ vết thương tinh thần khủng khiếp của chiến tranh: hủy diệt nhân tính, lòng bao dung và lòng nhân ái. Ở đó, bằng công cụ nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã làm trọn sử mạng công dân của một người lính. 
[10]Các nhân vật tham gia vào những âm mưu chính trị ở cả hai phía trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Hoàng đế Gia Long trong các truyện ngắn Vàng Lửa, Phẩm tiết…)
[11]A. Camus, Diễn từ Nobel, in trong sách Những bậc thầy văn chương, NXB Văn học, H, 2002
[12]Được xây dựng trên cơ sở một lối tự sự chịu ảnh hưởng của liệt truyện truyền thống, nhân vật Vinh Hoa trong truyện ngắn Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp là một nhân vật gần với kiểu nhân vật của tự sự truyền thống. Nhân vật này nằm ngoài những thước đo của những nguyên tắc điển hình hóa theo kiểu hiện thực chủ nghĩa của tự sự hiện đại. Nó mang dáng dấp của một biểu tượng – chức năng. Trong tự sự, Vinh Hoa vừa là biểu tượng của cái đẹp bị đày đọa vừa là biểu tượng của cái đẹp bất chấp sự đày đọa – một thứ tiên tri, cứu rỗi (tương tự như nhiều biểu tượng phụ nữ trong những truyện ngắn khác của Nguyễn Huy Thiệp như Con gái thủy thần, Chảy đi sông ơi, Không có vua).
[13]Cả Cỏ lau và Nỗi buồn chiến tranh đều chứa đựng cùng một môtíp: hành trình đi tìm hài cốt đồng đội – hành trình trở về quá khứ. Toàn bộ tự sựPhiên chợ Giát cũng được cấu trúc trên hành trình xuống chợ của người nông dân Khúng. Trên hành trình đó, ông ta hồi tưởng về quá khứ và suy ngẫm về thân phận. 
[14]Thành công chung của những tiểu thuyết như Hồ Quý Ly, Giàn thiêu hay Nỗi buồn chiến tranh là bằng những cách thức khác nhau, phản ánh được một phương diện của tinh thần thời đại theo góc nhìn của nghệ sĩ. Không chỉ tiến hành những khảo sát sinh hoạt – phong tục chi tiết, những tiểu thuyết như Giàn thiêu và Hồ Quý Ly đã tái hiện thành công tinh thần văn hóa hoặc của một thứ Phật giáo đậm màu sắc Mật tông của thời Lý (Giàn thiêu), hoặc của một thứ Phật giáo đậm màu sắc Thiền Tông của triều Trần; những xung đột tư tưởng giữa Phật giáo và Nho giáo, giữa Nho giáo chính thống và Nho giáo chịu ảnh hưởng Pháp gia cuối triều Trần (Hồ Quý Ly). Bằng một con đường khác, đi ra ngoài khuôn khổ của chủ nghĩa hiện thực truyền thống, tiến hành một thứ “khảo cổ học tinh thần cá nhân”, Bảo Ninh đã ghi lại được những dư âm của một thời đại của “những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng, những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta cần phải bước vào chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựng tất cả và hy sinh tất cả. Ngày mà tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành” trong thế giới tâm tưởng của một cựu chiến binh thời chống Mỹ.
[15]M. Kundera khẳng định: hiền minh của tiểu thuyết là sự hiền minh của sự lưỡng lự, khi nó ngộ ra bản chất của hiện thực không phải “hoặc là… hoặc là…” mà là “vừa là … vừa là …”. Thierry Ozwald, một nhà nghiên cứu về truyện ngắn thì khẳng định truyện ngắn hiện đại được sinh ra từ một “khủng hoảng của ý thức” (crise de conscience) khi nghệ sĩ nhận ra rằng thế giới này phức tạp hơn những định kiến và những mô hình thống nhất về thế giới (Xin xem Thierry Ozwald, La Nouvelle, Hachette Supérieur, Paris, 1994). 
[16]A. Camus, tài liệu đã dẫn

Nguồn: Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ II (14-16.7.2004, TP HCM).

Leave a Reply