Sách mới: “Người khác và tôi” (chân dung – tiểu luận, phê bình của Văn Giá)


Nhà văn, nhà phê bình Văn Giá vừa ra mắt sách mới “Người khác và tôi” (Nxb. Hội Nhà văn, 2013). Tập sách gồm 9 bài viết chân dung  từ điểm nhìn đời thường và 16 bài tiểu luận, phê bình bay bổng. Phê bình văn học xin chúc mừng tác giả và trân trọng giới thiệu bài viết của nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn (thay lời bạt cuốn sách mới).

Đôi nét về nhà văn Văn Giá. Sinh 1959, Bắc Giang. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Một số tác phẩm chính đã xuất bản: Một khoảng trời văn học (phê bình, tiểu luận), Nxb. Giáo dục, 2000; Vũ Bằng – bên trời thương nhớ (chuyên luận), Nxb. Đại học Quốc gia, 2000; Vũ Bằng –  mười chín chân dung nhà văn cùng thời (sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Nxb. Quân đội nhân dân, 2002; Đời sống và đời viết (tiểu luận, phê bình – chân dung), Nxb. Hội Nhà văn, 2005; Viết cùng bạn viết (tiểu luận – phê bình, chân dung), Nxb. Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây, 2008; Một ngày nát vụn (tập truyện ngắn), Nxb. Hội Nhà văn, 2009…

*

THAY LỜI BẠT

Văn Giá tung tẩy với phê bình(*)

(Nhân đọc Viết cùng bạn viết của Văn Giá, NXB Hội Nhà Văn, 2008)

Chu Văn Sơn

 

Gom bài để in thành tập này, Văn Giá tính tạm ngưng viết phê bình, dành hẳn mình cho sáng tác, chuyên viết truyện ngắn thôi. Quyết định đổi tay thế này, với người khác, thường không dễ. Với Văn Giá, có lẽ, không khó. Thậm chí, tôi vẫn đinh ninh cái sự đổi này sớm muộn sẽ xảy ra. Lâu nay, anh vẫn tay nọ tay kia rồi. Vốn thích tung tẩy, Giá đâu chịu yên với riêng tay nào. Mà ngay khi chỉ viết phê bình, gã phê bình trong anh hay cả nể, dễ tính, sẵn sàng nhường hẳn lời cho con người sáng tác bất cứ lúc nào, còn cái gã sáng tác thì luôn ém sẵn để thừa cơ tranh lời. Phê bình của Văn Giá là kiểu phê bình nghệ sĩ mà. Chả biết cuộc rẽ ngang này có phải là dịp nhường hẳn không ?

Thực ra, Văn Giá có một vốn liếng đào tạo khá căn bản để trở thành cây bút hàn lâm. Đại học Giá tốt nghiệp là Sư phạm ngành văn. Ra trường thì giảng dạy ở cao đẳng. Đào tạo cao học, thì chuyên ngành theo đuổi là Lí luận văn học. Ra công tác thì chọn Học viện Báo chí Tuyên truyền. Chưa ấm chỗ, lại được đào tạo tiếp ở bậc tiến sĩ, chuyên ngành vẫn là Lí luận văn học. Lại nữa, mấy vị giáo sư trực tiếp hướng dẫn thì đều thuộc dạng kinh viện bề bề cả… Một sản phẩm đào tạo như thế là hàn lâm trọn gói còn gì. Đến nay, lại đang è cổ gánh vác một công việc cũng hàn lâm không ít, ấy là làm trưởng khoa Sáng tác Lý luận và Phê bình của Đại học Văn Hóa. Bản thân Giá cũng đâu có xem thường hàn lâm. Phê bình của Văn Giá phải thuộc nòi hàn lâm mới phải. Nhưng, con người nghệ sĩ bề sâu của anh ưa tung tẩy hơn, mà xem chừng, cũng khỏe hơn. Nó kị giơ với áp lực kinh viện. Và, thực tế cầm bút vài chục năm qua của Giá, xem ra, chính là một cuộc đấu âm thầm cưỡng lại con người hàn lâm trong mình mọi nơi mọi lúc. May mà thế, nếu không, chắc gì Văn Giá đã là Văn Giá.

Nhưng, Giá đâu phải là nhà phê bình nhạt tình với lí luận hàn lâm. Dù có ỷ vào chất nghệ sĩ đến mấy, thì một người muốn sống bằng phê bình ở cái thời hiện đại vốn trọng duy lí này không thể xem nhẹ lí thuyết, lí luận. Giá cũng thế thôi. Phê bình của anh không ít tri thức lí thuyết, cũng không thưa luận lí khoa học. Những thứ ấy trang bị cho Giá cách nhìn và thước đo. Hệ thống những thuật ngữ, khái niệm, những thông tin nóng hổi thuộc các ngành lí luận văn học, triết học, văn hóa học, ngôn ngữ học, thi pháp học, phân tâm học… trong các trang viết của anh đâu phải sự bày biện khoe chữ hay cậy lí, cũng không phải những của nả còn sót lại do thanh lí chưa triệt để. Trái lại, chúng là những khí giới bất li thân và không ngừng được cập nhật của Giá. Chúng đã giúp cho con mắt phê bình nhìn được vào những miền khuất lấp của từng văn bản nghệ thuật, giúp khai thác được những giá trị tiềm ẩn, giúp phê bình của anh có hơi thở chuyên nghiệp và hiện đại. Không có nó, làm sao Giá viết được những trang về “gánh nặng mặc cảm” trong sáng tác Nam Cao, về “những quan niệm được đời văn bảo hiểm” của Thạch Lam, “sự trở lại những giá trị nhân văn cổ điển” của Mặc Can, “dấu hiệu Hậu hiện đại” trong thơ trẻ đương đại, hay truyện ngắn 8X !

Nguoi_khac_va_toi

Dù vậy, lí luận hàn lâm vẫn không áp đảo được sở trường của Giá. Ngoảnh lại hai mươi năm cầm bút, xuất bản tập này là tập sách thứ 7 và là tập phê bình thứ 3, thấy Giá vẫn nhất quán như thế. Trước sau, chủ quyền phê bình của ngòi bút này đã trao hẳn cho gã nghệ sĩ Văn Giá. Thì đấy, đến với văn chương, Giá đâu chọn lí thuyết làm xuất phát điểm, cũng đâu theo cảm hứng lí luận. Từ chối lối phê bình xào xáo lí thuyết, không hứng thú gì việc minh họa cho lí thuyết, Giá cũng không tin lắm vào lối dùng các khái niệm vốn được chế từ các nền văn chương xa xôi để một mực qui chiếu văn chương nội địa. Đó không phải sở trường, cũng không phải sở thích của anh. Xem kĩ, thấy Giá không sính tranh biện, cũng không ham lập thuyết. Không hẳn Giá ngại va chạm hay thiếu một nền tảng quan niệm riêng. Chỉ đơn giản, Giá chả khoái lắm những lối ấy. Theo các lối ấy, làm sao mà tung tẩy cho được! Con người lí thuyết của Giá thường thích ẩn dật, chẳng mấy khi tranh chòi, luôn nhường sân cho gã nghệ sĩ. Dàn trận thế, tôi nghĩ, Giá là người biết mình.

Anh càng biết mình hơn khi thả cho cảm xúc mặc sức tung tẩy. Ai gần gũi đều thấy rõ Giá là con người giàu tình cảm, đôn hậu, thích phiêu du trong những cảm xúc thẩm mĩ. Giá sinh ra dường như để nâng niu, chăm chút, hòa giải, chứ không phải để bài bác, gây hấn, tạo căng thẳng. Giữa đám bạn văn, trà dư tửu hậu, không phải không có lúc Giá cao giọng, nhưng không hẳn để lí sự, tranh hơn tranh kém về lí, mà thường để làm rõ một thái độ, một điệu tình cảm nào đó thôi. Trước những hiện tượng mới lạ, Giá cũng không quá vồ vập, nóng vội, mà thường “cứ để yên xem sao đã” rồi mới lên tiếng. Và, Giá đã viết phê bình bằng con người ấy. Anh thích dùng trực cảm để đi vào văn bản tác phẩm. Nhưng không hẳn dạng trực cảm nguyên sơ, mà là trực cảm đã được tưới tẩm bởi một kiến văn nào đó. Do vậy, dù dựa hẳn vào trực cảm nhưng cái viết của Giá không lâm vào cảm tính, kinh nghiệm chủ nghĩa, cũng chả mỏng tri thức. Tôi nghĩ Giá đã đúng khi coi trọng sự đồng cảm giữa người phê bình và người sáng tác, thậm chí, xem mối đồng cảm này là tiền đề cho thành bại của phê bình. Mọi hạt giống ý tưởng trong phê bình chắc chắn sẽ chết yểu, nếu không được gieo trồng trên miếng đất màu nhiệm của niềm đồng cảm. Đối với Giá, viết phê bình trước hết là để chia sẻ. Chia sẻ với người viết, chia sẻ với người đọc. Được chia sẻ là hạnh phúc của người viết, chia sẻ được là hạnh phúc của người đọc. Chia sẻ là hạnh phúc chung của người đời. Chẳng phải văn chương muôn đời vẫn là một sự chia sẻ vô tận của con người hay sao! Muốn chia sẻ phải có lòng tri kỉ. Tôi cho rằng, văn chương nghệ thuật trên đời này sống được là nhờ vào tấc lòng tri kỉ của đời thôi. Nhờ có khả năng đồng cảm thế, Giá đã viết cùng bạn viết như một ngòi bút tri kỉ. Cứ đọc những trang về Quang Dũng, Hòa Vang, Mạc Can, Vương Trung, Trần Hòa Bình… mà xem, thiếu một niềm đồng cảm chân thành, một tấc lòng tri kỉ, liệu Giá có thể làm sống dậy những tình ý cảm động đến thế được chăng! Giá đã dồn vào ngòi bút của mình thật nhiều yêu thương trân trọng khi nói về những tác giả ấy, nhất là với ai lắm nông nỗi éo le. Người biết nâng niu vẻ đẹp bình dị mà chân thật của tình cảm, hẳn sẽ không quên sự đồng cảm ấy của Giá khi đọc anh. Có thể nói, đồng cảm đã làm nên Văn Giá.

Mà khả năng đồng cảm là gì nếu không phải phẩm chất hàng đầu của con người nghệ sĩ ? Nhờ mối đồng cảm ấy Giá đã có được thành công quan trọng nhất của mình ở chặng phê bình vừa rồi: trường hợp Vũ Bằng. Có thể nói, cơ duyên của Văn Giá chính là Vũ Bằng. Ông nhà văn rất mực tài hoa này sao lại có một thân phận éo le đến thế ? Chỉ cần đọc Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội không thôi, niềm đồng cảm đã mách bảo với Giá rằng: người đã có tâm hồn như vậy, tấm lòng như vậy quyết không thể là cái người méo mó về nhân cách như miệng thế đồn thổi lâu nay. Ai tin thì tin, riêng Giá thì không. Trực cảm thầm cam đoan với Giá vậy. Đã thế, Giá phải quyết tìm cho ra nhẽ, dù phải húc vào hàng núi khó khăn. Và Giá đã ném mình vào công việc chẳng chút nề hà. Có lẽ anh hồn của Vũ Bằng cũng cảm kích tấm lòng nồng hậu của Giá nên đã dẫn dắt anh đến những nơi cần đến để tìm được nhiều tư liệu gốc cùng nhiều nhân chứng tin cậy mà xác minh về nhân thân và nhân phẩm cho mình chăng ? Chả thế mà, sau nhiều năm trời vào Nam ra Bắc tìm đọc và tìm gặp, Giá đã khui được biết bao tư liệu quí. Cuối cùng, công lao của tấm lòng ấy đã được đền đáp: cái bóng đè tệ hại già nửa thế kỉ chụp xuống Vũ Bằng đã được dẹp bỏ, ông đã được chiêu tuyết, được nhà nước ghi công. Những ai thầm hâm mộ ông đều mát lòng mát dạ. Rồi, Giá còn dồn biết bao tâm sức đào sâu vào văn nghiệp của tác gia họ Vũ này, nhờ đó phát hiện ra không ít những quí giá ở đấy, góp phần làm sáng danh tầm cỡ của ông. Cho đến nay, công trình Vũ Bằng bên trời thương nhớ vẫn là phần tâm đắc nhất của Văn Giá. Nó thực sự là công trình của tấc lòng tri kỉ. Chính nó đem lại cho Văn Giá vị trí một chuyên gia hàng đầu về Vũ Bằng.

Tac gia Van Gia ra mat sach

Phê bình, về một mặt nào đó, là cuộc phiêu du vào thế giới nghệ thuật của kẻ viết. Có hai lối: du lãm và du khảo. Nếu du khảo coi trọng khảo cứu, thì du lãm lại coi trọng thưởng lãm. Du khảo là hứng thú của tạng hàn lâm, du lãm là đam mê của chất nghệ sĩ. Không phải không có hứng khảo đả, tra xét, và trên thực tế Giá đã có không ít những kết quả thú vị từ những chuyến du khảo. Song, phần trội của Giá vẫn thuộc về du lãm. Mỗi bài viết là một chuyến tung tẩy du lãm của Giá. Đọc ai, điều Giá mong không hẳn là xác lập nên những khái niệm hàn lâm nào đó từ những khổ công khảo sát nghiền ngẫm. Trái lại, cái mà Giá coi trọng là những ấn tượng thẩm mĩ nổi trội do thế giới nghệ thuật ấy đem đến cho mình, gieo vào hồn mình. Bảo rằng lối của Giá là ấn tượng chủ nghĩa cũng không ngoa. Ấn tượng ấy là những mách bảo của giá trị. Đúng hơn, giá trị ẩn tàng gặp được mối đồng cảm mà hiện hình thành ấn tượng trong hồn kẻ tri kỉ. Giá tin rằng giá trị kia thường náu mình trong những hình sắc độc sáng nào đó vẫn nằm sẵn ở mỗi thế giới nghệ thuật. Cứ tin và cứ tìm, sẽ thấy. Bằng cách ấy Giá đã du hành vào Thanh Châu, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Mỹ, Hòa Vang, Vương Trung… Mà trường hợp Quang Dũng là điển hình hơn cả. Ai đọc nhà thơ xứ Đoài này mà hồn chẳng từng vương Mây đầu ô và nhất là cái câu Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm. Nhưng có lẽ, sau một thoáng vương vấn, với nhiều người, mây ấy đã trôi đi. Còn Giá, Giá đã thấy mây đáng được lưu tâm nhiều hơn thế. Mây là vẻ đẹp riêng của hồn thơ và phong cách thơ Quang Dũng. Từ phân tích hàng loạt những câu thơ đẹp về mây, dường như, Giá đã khiến người đọc vỡ lẽ ra rằng: mây là một mật mã Quang Dũng. Giá đã biến mây thành một biểu tượng để qui chiếu và soi sáng thế giới thi ca của thi sĩ tài hoa và hào hoa này: “khi Quang Dũng ví phận mình như mây trắng đầu ô với niềm khao khát được lang thang thì ông đã bứt ra khỏi từ trường truyền thống để trở thành một sáng tạo độc đáo. Và vì thế hình ảnh mây khi bay vào chân trời biểu tượng đã được mở rộng thêm nhiều tầng nghĩa”. Ấy, bước du lãm cứ tung tẩy thế mà gặt hái lắm khi cũng ra phết đấy chứ ! Tôi cho rằng, trước khi là khám phá sắc sảo của tay nghề khảo cứu, mây kia đã là phát hiện tinh tế của một niềm đồng cảm. Du lãm vào cõi thơ với tấc lòng tri kỉ, đó là phong thái của Văn Giá.

Ai gần Giá, chắc nhận thấy điều này: không hiểu sao, anh cứ thích nói chữ “tung tẩy” thành “túng tẩy”. Chẳng biết có phải anh muốn thêm thanh “sắc” vào để gia tăng sắc thái phóng túng không, mà khi viết, Giá thực sự mê lối văn tung tẩy (à quên, “túng tẩy”). Có phải túng tẩy ở anh là chất nghệ sĩ luôn thoát li khỏi dây dợ hàn lâm, là cảm xúc muốn bứt lên khỏi trọng trường lôgic, là đồng cảm ưu tiên hơn biện bác? Có phải túng tẩy là lời hoa mĩ chen ganh lời thuần mộc, là nhồi các câu văn nói vào lòng những đoạn văn giàu nhịp điệu? Có phải túng tẩy là tằn tiện khái niệm, xả láng lời nôm, khoái xài khẩu ngữ nhằm tạo chất giọng kiểu văn xuôi tự sự ?… Làm được thế, tất sẽ li tâm được nhiều với lối văn hàn lâm. Cái đoạn viết về mây Quang Dũng này chẳng túng tẩy a: “Hình ảnh mây đã ám vào số phận thi ca này như một định mệnh, như một phán quyết của thượng giới vô hình không thể cưỡng lại được ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia. Nhưng lúc đó ông làm sao hiểu được tiền vận hậu vận của mình. Ông cứ làm một áng mây trắng xứ Đoài hồn nhiên lang thang từ làng ra phố, hết phố lên rừng, rồi lại từ rừng về phố. Để cho đến hôm nay, vào tuổi 50, mới ngộ ra cái phận mình y như một áng mây lang thang không hơn không kém”. Túng tẩy, đó chính là nỗ lực của gã sáng tác Văn Giá, không chỉ riêng trong lời văn phê bình.

Song, cái gì thì cũng có mặt này mặt kia. Phê bình của Văn Giá nói chung đạt tình nhưng chưa phải lúc nào cũng thấu lí. Mạnh chia sẻ, chưa mạnh lí giải. Cảm xúc lấn lướt luận lí. Thưởng lãm thường bay bổng, đánh giá đôi lúc chông chênh. Lời lẽ túng tẩy còn chen lẫn non lép. Giá có tự biết những mặt này chăng ? Giá biết. Giá còn biết đó đều thuộc một cái tạng giời cho, giời định, giời đày cả.

Tập sách xuất bản đến nay đã sắp được một năm rồi. Nghĩa là Giá cũng đã li thân với phê bình chừng ấy thời gian. Giờ Giá đang dan díu với truyện ngắn. Nhưng, tự bấy đến nay, cũng đâu phải ít lần, gió mát trăng trong, Giá rời truyện ngắn lén về túng tẩy với phê bình. Cái giống đời, một khi đã trót nặng tình thì dứt bỏ đâu có dễ gì, Văn Giá nhỉ ?

 

                                             Văn Chỉ, đầu hạ 2009

                                                                               CVS

_________________________

(*) Bài viết này của nhà NCPB Chu Văn Sơn được viết cách đây hơn 3 năm về tập sách của tôi khi mới xuất bản, đã đăng trên báo Văn nghệ cũng vào dịp đó. Nay xét thấy vẫn còn “hợp cảnh hợp tình”, được sự đồng ý của tác giả, xin đưa vào tập sách này như một Lời bạt viết sớm (VG).

Leave a Reply