Số phận lịch sử của nền lý luận văn học Xô viết chính thống


Lã Nguyên

1. Hơn hai chục năm nay, kể từ khi Trung Quốc tiến hành “cải cách mở cửa” và Việt Nam thực hiện công cuộc “đổi mới”, trên diễn đàn văn học ở cả hai nước, người ta đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo lớn bé nói về sự yếu kém của lí luận, phê bình văn học và bàn mưu tính kế thúc đẩy sự phát triển của nó. Quan sát những cuộc hội thảo như thế, đâu đâu tôi cũng nghe thấy “chúng khẩu đồng từ” nhất loạt đổ tội cho Liên Xô, xem việc trước kia mình bắt chước mô hình lí thuyết của ông “anh cả” để xây dựng nền lí luận văn học của dân tộc là nguyên nhân tạo nên sự yếu kém và tình trạng xơ cứng của nó về sau này. Nếu có chút hiểu biết về Liên Xô ta sẽ thấy, nói như thế là không thực sự cầu thị. Bởi vì nền lí luận văn học của Liên Xô chưa bao giờ là hiện tượng thuần nhất. Ở Liên Xô, giai đoạn nào cũng vậy, bên cạnh hệ thống lí luận văn học chính thống, còn có rất nhiều hệ thống lí thuyết phi chính thống. Đó là di sản triết học, mĩ học của M. Bakhtin, người đã mở ra cả một  “hệ hình tư duy mới của thiên niên kỉ thứ ba”(1), là thi pháp học lí thuyết của Trường phái hình thức, là kí hiệu học văn hoá của Trường pháiTartu -Moscow… Các nước Âu – Mĩ đã khai thác những mỏ vàng ấy để tạo nên một thời đại lí luận văn học vô cùng giàu có, rạng rỡ kéo dài suốt từ những năm 60 cho đến hết những năm 80 của thế kỉ trước. Trung Quốc, ViệtNam và nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa lại tìm thấy cho mình kho báu tri thức ở hệ thống lí luận văn học chính thống của Liên Xô. Vậy lí luận văn học chính thống ở Liên Xô là gì? Nó được hình thành từ bao giờ? Nó có vị trí thế nào trong cấu trúc chỉnh thể của khoa nghiên cứu văn học Xô Viết? Sau khi nhà nước Liên Xô tan rã, số phận lịch sử của nó diễn biến ra sao? Phải trả lời được những câu hỏi như thế, ta mới hy vọng rút ra những bài học bổ ích cho việc xây dựng nền lí luận, phê bình văn học ViệtNam.

2. Ta biết, ngày 30 tháng 12 năm 1922, một quốc gia mới được thành lập, gọi là “Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết” (Liên Xô), gồm 6 nhà nước Xô Viết: Nga, Ukraina, Belorussia, Aizerbaidjan, Armenia, Gruzia. Đến năm 1925, Liên Xô có thêm hai thành viên là Uzbekistan, Turkmenia, năm 1929 có thêm Tadjikistan, năm 1936 có thêm Kazakhstan, Kirgizia và đến năm 1940 lại có thêm Moldavia, Latvia, Litva, Estonia. Cùng với sự ra đời của nhà nước Liên Xô, người ta thấy xuất hiện các khái niệm “lí luận văn học Xô Viết”, “lí luận văn học Liên Xô”. Theo nghĩa rộng, các khái niệm ấy được sử dụng nhằm chỉ toàn bộ hoạt động và quá trình phát triển của bộ môn lí luận văn học trên đất nước bao la gồm 15 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết trong suốt 70 năm tồn tại (1922-1991) như thế. Tức là không nên đồng nhất khái niệm “lí luận văn học Xô Viết” với khái niệm “lí luận văn học chính thống của Liên Xô” như ta vẫn thường thấy trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây.

Liên Xô chính thức ra đời vào năm 1922. Nhưng hệ thống lí luận văn học chính thống của Liên Xô phải đến những năm 30 mới hình thành. Những năm 20 thường được gọi là thời kì quá độ của nền lí luận văn học Xô Viết. Gọi đó là giai đoạn quá độ vì lúc này, lí luận văn học tồn tại và phát triển trong tình thế đầy mâu thuẫn, trước hết là mâu thuẫn giữa đường lối chuyên chính về chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô với hình thái đa nguyên văn hoá trong đời sống tinh thần của xã hội. Có được hình thái đa nguyên này là do, vào những năm 20, Đảng Cộng sản Liên Xô chưa kịp định hình chủ trương và hoàn thiện hệ thống phương pháp nhằm chính trị hoánhà nước hoá một cách hiệu quả các hoạt động nghệ thuật và khoa học. Có thể nhận ra điều đó qua Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Nga (Bolsevik) Về đường lối của đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật được ban hành vào ngày 18 tháng 6 năm 1925(2). Không phải ngẫu nhiên mà trong cuộc Hội nghị thảo luận văn kiện trên do Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản tổ chức vào tháng 5 năm 1924, N.I. Bukharin còn nêu chủ trương phải vận dụng tư tưởng của Lenin về sự cần thiết “hợp tác” với các giai cấp khác vào lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, hình thái đa nguyên văn hoá ở những năm 20 thể hiện rõ nhất qua sự nở rộ của vô số các hiệp hội các nhóm văn học(3). Có hai Hiệp hội rất lớn: Hiệp hội các nhà thơ toàn NgaHiệp hội các nhà văn toàn Nga. Hiệp hội các nhà thơ toàn Nga có trụ sở ởMoscow và Petrograd (Leningrad, Peterburg). Ở Moscow, Hội các nhà thơ hoạt động liên tục từ 1918 đến 1929 gắn với những tên tuổi lớn như V. Kamenski, V. Briusov, G. Senghel. Ở Petrograg, hoạt động của Hội này chia thành hai thời kì: 1920 – 1922 và 1924 – 1929, với sự tham gia của các nhà thơ A. Blok, N. Gumilev, I. Sadofiev, N. Tikhonov. Hiệp hội các nhà văn toàn Nga được thành lập năm 1918, do B. Zaisev làm Chủ tịch, cũng có hai chi nhánh ởMoscow vàPetrograd. Ngoài ra, còn có thể kể thêm một số hiệp hội như “Hội các nhà hoạt động văn học nghệ thuật” (thành lập tháng 3 năm 1918 ở Petrograd, với sự tham gia của M. Gorki, A. Blok, N. Gumilev, A. Kuprin, E. Zamiatin, K. Tsukopski…), hoặc “Hội những người yêu văn chương Nga” (1910 – 1930, với sự tham gia của hầu hết các nhà văn, nhà thơ Nga nổi tiếng thời ấy, ví như L. Tolstoi, V. Solovief, V. Korolenko, V. Veresaev, M. Gorki, K. Balmont, D. Merezkopski, V. Briusov, A. Belyi, Vjach. Ivanov, M. Volosin, B.Zaisev, A, Kuprin, A. Berdjaev…).

Các nhóm văn học xuất hiện khắp mọi nơi và hoạt động trên cái nền của các đại Hiệp hội nói trên. Một số tài liệu thống kê cho biết, thời kì này, chỉ riêng ở Moscowđã có trên 30 nhóm văn học hoạt động(4). Có thể tìm thấy trong các giáo khoa, giáo trình lịch sử văn học Nga, các loại từ điển “Thuật ngữ văn học”, “Bách khoa văn học”, “Bách khoa toàn thư”, “Đại bách khoa Xô Viết”… các khái niệm về những nhóm văn học sau đây: 1. Nhóm DÂN SKIF (tiếng Nga: “СКИФЫ”), 2. Nhóm CÁNH TẢ (ЛЕФ, 1922 – 1929), 3.Nhóm HÌNH TƯỢNG LUẬN (ИМАЖИНИЗМ), 4. Nhóm CẤU TRÚC LUẬN (КОНСТРУКТИВИЗМ), 5. Nhóm ANH EM SERAPIONOV (СЕРАПИОНОВЫ БРAТЬЯ), 6. Nhóm CÁI ĐÈO (ПЕРЕВАЛ), 7. PROLETKULT (ПРОЛЕТКУЛЬТ), 8. Nhóm THỢ RÈN và VAPP, VOAPP (КУЗНИЦА И ВАПП, ВОАПП)…

Hình thái đa nguyên văn hoá ở những năm 20 không chỉ thể hiện qua hoạt động của vô số nhóm văn học, mà chủ yếu còn thể hiện ở tình thế  lựa chọn tự do (alternative) các quan niệm tư tưởng – nghệ thuật.  Cho nên, điều thú vị là, nhóm văn học nào cũng tự nhận là đại diện chân chính cho tư tưởng thẩm mĩ của thời đại mới, thời đại cách mạng vô sản, nhưng quan niệm nghệ thuật của họ nhiều khi đối lập, trái ngược với nhau, thậm chí, có thể nhận ra sự đối lập, trái ngược như thế trong phạm vi mỗi nhóm. Chẳng hạn, nếu Hình tượng luận bảo vệ quan niệm về một thứ nghệ thuật trống rỗng nội dung, thì nhóm Cánh tả lại tuyên ngôn cho những quan niệm xã hội học nhiều khi rất dung tục.

Các nhà Hình tượng luận khẳng định tính ưu thắng của hình tượng đối với tư tưởng, “hình tượng đánh bại ý nghĩa”, “mọi thứ nội dung trong tác phẩm nghệ thuật cũng vô nghĩa và nhảm nhí chẳng khác gì cái nhãn mác được cắt ra từ tờ báo đem dán lên bức tranh”…V. Sersenhevik nói: “Nhà thơ ấy là kẻ điên rồ ngồi trên toà nhà chọc trời đang rừng rực khói lửa mà vẫn điềm tĩnh gọt nhọn cây chì màu để họa lại đám cháy.  Nếu xông vào cứu hỏa, dập tắt đám cháy, anh ấy sẽ thành một công dân, mà đã là công dân thì anh ta không còn là nhà thơ nữa”. Nhóm Cánh tả dĩ nhiên không thể tán thành một quan niệm nghệ thuật như thế. Họ cho rằng, chỉ Cánh tả mới có thể trở thành lực lượng  “bá  quyền” của văn học cách mạng”. Tư tưởng mĩ học của nhóm Cánh tả được phát biểu tương đối đầy đủ trong Thư viết về chủ nghĩa vị lai của Majakopski và trong bản tuyên ngôn tập thể Cánh tả chiến đấu vì cái gì(5). Các nghệ sĩ Cánh tả tìm mọi hình thức để nối kết nghệ thuật với cách mạng. Họ cho rằng nghệ thuật là bậc thang thuận tiện dẫn nghệ sĩ đến với sản xuất, từng lĩnh vực nghệ thuật phải am hiểu thấu đáo kĩ nghệ riêng của mình đúng như ý nghĩa và quan niệm mà lĩnh vực sản xuất vẫn sử dụng. Chính những người Cánh tả đã đặt nền tảng lí luận cho cái được gọi là “nghệ thuật sản xuất” và “đơn đặt hàng xã hội” để sau này Stalin đưa ra định nghĩa “nghệ sĩ là kĩ sư tâm hồn”. Đồng nhất nghệ thuật với sản xuất, nhóm Cánh tả chỉ thừa nhận loại văn học tư liệu xác thực. Họ đề cao một cách cực đoan vai trò của kí sự, bút kí, khẩu hiệu, phủ nhận hư cấu, ước lệ nghệ thuật và mọi sự khái quát trong sáng tác văn học. Cần biết, những người Cánh tả từng là thành viên của nhóm Vị lai. Họ tự tách ra và đặt danh xưng như thế nhằm đối lập với Phái hữu trong nhóm văn học này. Tức là quan điểm nghệ thuật của nhóm Vị lai ở Nga vốn cũng rất phức tạp(6).

Nếu đem Dân Skif đặt bên cạnh Proletcult, hoặc RAPP, ta càng thấy sự đa dạng của quan niệm nghệ thuật trong đời sống văn học ở nước Nga vào những năm 20. Bản thân Dân Skif  là tập hợp của những nhà văn thuộc nhiều trường phái, khuynh hướng khác nhau. Nhưng nhìn chung, tuyên ngôn nghệ thuật của nhóm này thường thấm đẫm tâm trạng thất vọng trước cuộc Cách mạng tháng Hai. Sau tháng Mười, họ xem cách mạng giống như một thứ thiên đường của nông dân. Vị chủ soái của nhóm này là Ivanov – Razumnhik thường quay về với nguồn cội Slavơ cổ xưa của nền văn hoá Nga để tìm kiếm cái đẹp, và vì thế, ông đặc biệt coi trọng ý nghĩa của chủ nghĩa tượng trưng huyền thoại. Lí luận của Proletcult lại đặc biệt nhấn mạnh tính giai cấp lập trường vô sản trong tất cả các lĩnh vực mĩ học, đạo đức và tư tưởng hệ.  Họ đề cao cái “ta” tập thể và tính ưu việt của hoạt động thực tiễn, phủ nhận cái “tôi” cá nhân và các hoạt động sáng tạo tinh thần. Họ xem sáng tạo nghệ thuật cũng giống như “tổ chức” kinh nghiệm tập thể của con người dưới dạng những “hình tượng sống”(7). Họ không chấp nhận di sản văn hoá của các thời đại trước để lại, họ đem văn hoá vô sản đối lập với mọi nền văn hoá khác. Theo họ, “sự thống nhất của hứng khởi” với máy móc (chủ nghĩa cơ giới) và cái nhìn thế giới từ quan điểm “lao động – tập thể” là những nguyên tắc thẩm mĩ phù hợp nhất với tâm lí, tình cảm của giai cấp công nhân. Nhận về mình sứ mệnh đào tạo các nhà văn xuất thân từ giai cấp công nhân, Proletcul tự tách ra khỏi mọi tầng lớp xã hội, kể cả nông dân và trí thức. Một lí luận gia của Proletcult là Fedor Kalinin quả quyết, rằng chỉ nhà văn – công nhân mới có thể nghe được tiếng “thì thầm trong tâm hồn” của giai cấp vô sản.  Về cơ bản RAPP đã kế thừa khuynh hướng xã hội học dung tục của Proletcult. RAPP tuyên bố trước bàn dân thiên hạ, rằng họ không chỉ là tổ chức văn hoá vô sản, mà còn là đại diện duy nhất của Đảng trong lĩnh vực văn học, nên kẻ nào chống lại RAPP tức là chống Đảng.  Tuy nhiên, khác với Prolecult, RAPP kêu gọi học tập các tác gia cổ điển, đặc biệt là L. Tolstoi. Về phương diện này, có thể thấy, tư tưởng thẩm mĩ của RAPP có khuynh hướng quay trở về với những truyền thống của chủ nghĩa hiện thực(8).

Nói về quan điểm nghệ thuật của các khuynh hướng văn học những năm 20, không thể không nhắc tới Trường phái hình thức Nga (РУССКАЯ  ФОРМАЛЬНАЯ  ШКОЛА), một khuynh hướng nghiên cứu chính thức xuất hiện vào năm 1914 với những tên tuổi lớn như Viktor Shklovski (1893-1984), Boris Eikhenbaum (1886-1959), Boris Tomashevski (1890-1957), Yuri Tynhianov (1894-1943), Roman Jakobson (1895-1982), Vladimir Propp (1895-1970), Viktor Vinogradov (1895-1969), Osip Brik (1888-1945)…Về trường phái này, chúng tôi hy vọng sẽ giới thiệu kĩ hơn trong một dịp khác. Ở đây chỉ xin nhắc lại ý kiến của L.B. Samin, tác giả mục từ Trường phái hình thức Nga trong Bách khoa từ điển Văn hóa học thế kỉ XX.  Ông viết: “Với những công trình lịch sử văn học, lịch sử nghệ thuật, nghệ thuật học, các nhà hình thức luận là chuẩn mực rất cao của sự uyên thâm, thông thái trong khoa học nhân văn và đã có cống hiến to lớn cho nền văn hoá Nga thời Xô Viết, nhưng vào những năm 30, họ bị phê bình Mác xit chính thống “đánh cho tơi tả”, buộc phải thừa nhận “những sai lầm” của mình, rồi bị đẩy vào trong bóng tối, và sau này, đến những năm 60, họ trở thành kí ức – huyền thoại về hình thái đa nguyên của những năm 20, khi hệ thống lí thuyết của họ được thừa nhận và được công bố”(9). Ý kiến này không chỉ nêu nhận xét về Trường phái hình thức, mà còn chỉ ra bước ngoặt trong đời sống học thuật của Liên Xô ở giai đoạn quá độ chuyển từ những năm 20 qua những năm 30.

3. Những mầm mống đầu tiên của một nền lí luận văn học chính thống xuất hiện ngay từ những năm 20 trong quan điểm nghệ thuật của các nhóm văn học vô sản, như Proletcult, Cánh tả, Cái đèo, RAPP…Nhưng phải đến những năm 30, lí luận văn học chính thống của Liên Xô mới có đầy đủ điều kiện để hình thành như một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, lí luận văn học chính thống được gọi là lí luận “Mác xít”, hoặc “Mác xit – Leninit”. Cánh cửa dẫn lí luận Mác xit tới địa vị chính thống ở Liên Xô được mở ra bằng con đường hành chính, tổ chức, nhằm nhà nước hoá các hoạt động văn nghệ và khoa học. Như đã nói, vào những năm 20, trên đất nước Liên Xô có hàng trăm nhóm phái, hiệp hội văn học hoạt động. Đến những năm 30, tất cả những nhóm, phái đó đều “bị thủ tiêu” theo quyết định của đảng cầm quyền. Nghị quyết Về việc cải tổ các tổ chức văn học nghệ thuật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô ban hành vào ngày 23.4.1932 ghi rõ: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc quyết định: 1) Thủ tiêu các hiệp hội nhà văn vô sản (VOPP, RАPP); 2) Tập hợp tất cả các nhà văn tán thành đường lối của chính quyền Xô Viết và có khát vọng tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội vào một hội duy nhất của các nhà văn xô viết trong đó có tổ chức của đảng cộng sản”(10). Hội nhà văn, cũng như các Viện nghiên cứu văn học sau này, là tổ chức nghề nghiệp, nhưng cũng là cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát nhà nước đối với các hoạt động văn nghệ và khoa học. Hội viên Hội nhà văn, nhà khoa học làm việc trong các Viện nghiên cứu được hưởng những quyền lợi mà người bị khai trừ ra khỏi các tổ chức ấy, hoặc người lao động tự do không thể có. Ví như họ được nhà nước trả lương, được tạo điều kiện xuất bản để công bố tác phẩm của cá nhân. Đây là cách thức biến Hội nhà văn và các Viện nghiên cứu văn học ở Liên Xô thành những cơ quan phát ngôn cho tiếng nói chính thống của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga Về đường lối của đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, ban hành ngày 18.6.1925, chỉ ra: “Chúng ta (…) đã bước sang thời đại làm cách mạng văn hoá nhằm tạo tiền đề để tiếp tục tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa”. “Giống như cuộc đấu tranh giai cấp nói chung chưa kết thúc, cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận văn học cũng chưa thể kết thúc”(11). Theo tinh thần của những “Nghị quyết” như thế, hoạt động văn nghệ và các khoa học về văn học không ngừng được chính trị hoá. Các thuật ngữ chính trị – xã hội và đấu tranh cách mạng được chính thức sử dụng như những thuật ngữ mĩ học, ví như “mặt trận” (“mặt trận văn học”), “đấu tranh”, “chiến đấu” (“chủ nghĩa Mác chiến đấu”), “chiến sĩ” (“nhà văn là chiến sĩ”), “vũ khí” (“văn nghệ là vũ khí đấu tranh giai cấp”), “ngòi bút – lưỡi lê”, “hiện thực xã hội chủ nghĩa”… Cho nên, ngay từ những năm 20, trong hoạt động văn nghệ ở Liên Xô đã thấy có sự phân biệt “nhà văn vô sản” với “những người bạn đường” (“Попутчики”), “nhà văn cách mạng” với “phản cách mạng”. Về sau, trong nghiên cứu khoa học, thường xuyên có sự đối lập giữa lí luận “Mác xit” với “phi Mác xit”, “lí luận Mác xit” với “lí luận tư sản”. Lí luận văn học “tư sản” được xem là thứ “giả, nguỵ” luôn luôn thù địch với lí luận Mác xit. Còn “lí luận phi Mác xit”, tuy cũng có những hạt nhân hợp lí, nhưng về cơ bản, xa lạ với giai cấp vô sản. Chính vì thế, suốt một thời gian dài, các khuynh hướng, trường phái lí luận “tư sản” và ‘phi vô sản” trở thành đối tượng phê phán thường trực của các nhà khoa học Liên Xô. Mãi đến những năm 70, người ta mới giới thiệu một cách dè dặt một số hệ thống lí thuyết của ngành ngữ văn học phương Tây, như lí thuyết thông tin, chủ nghĩa cấu trúc, cấu trúc – kí hiệu học…, và cũng chỉ xem đó như những tài liệu có thể tham khảo(12). Nhiều quan điểm lí thuyết được khởi xướng ngay trên đất nước Liên Xô cũng có số phận đầy bi đát. Như đã nói, ở Liên Xô, suốt một thời gian dài, Trường phái hình thức Nga không có chỗ đứng trong đời sống khoa học, tên tuổi và công trình của M. Bakhtin dường như không được ai biết tới, bản thân M. Bakhtin bị lưu đày. Năm 1925, B.V. Tomasevski cho xuất bản giáo trình Lí luận văn học. Thi pháp học. Trong một bài bình luận viết ngay trong năm ấy, Pavel Medvedev (M. Kakhtin) nói rằng “không thể không thừa nhận đó là cuốn sách tốt nhất của chúng ta”, “công trình của Tomasevski vượt xa mọi cuốn “lí luận văn học” đã có và hiện có”. “Nói ngắn gọn, một cuốn sách giáo khoa nghiêm túc, sáng sủa, hàm súc như thế, trước kia chúng ta chưa có và hiện nay cũng không có”(13). Cho nên, chỉ trong vòng mấy năm, từ 1925 đến 1931, cuốn sách của B.V. Tomasevski được tái bản tới 6 lần. Nhưng năm 1931, B.V. Tomasevski bị đuổi khỏi trường Đại học Tổng hợp Leningrad, vì ông là “tín đồ của chủ nghĩa hình thức”, cuốn sách của ông cũng lập tức biến mất, mãi 29 năm sau, năm 1959, giới nghiên cứu lại mới được nhìn thấy nó(14). Ta biết, Trường pháiTartu -Moscow chính thức xuất hiện từ đầu những năm 60. Nhưng cho đến cuối những năm 80, ở Liên Xô chưa thấy có cuốn giáo trình lí luận văn học nào viện dẫn các công trình của trường phái này như những tài liệu tham khảo chính thức. Thực tế cho thấy, cho đến tận cuối những năm 90 của thế kỉ trước, lí luận văn học Mác xit vẫn tồn tại ở Liên Xô như một hệ thống lí thuyết chính thống.

Với tư cách là một hệ thống lí thuyết chính thống, lí luận văn học Mác xit ở Liên Xô được kiến tạo từ những nguồn cội sau đây:

Thứ nhất: Tác phẩm kinh điển của K. Marx, F. Engels, V. Lenin. Vào đầu những năm 30, các bức thư của K. Marx và F. Engels gửi cho F. Lassalle, M. Kautsky, M. Harkness bắt đầu được dịch sang tiếng Nga và sau đó, năm 1938, xuất bản tuyển tập K. Marx và F. Engels bàn về nghệ thuật(15). Năm 1932, A.V. Lunasarski công bố tiểu luận Lenin và nghiên cứu văn học. Bài viết này mở ra đường hướng cho việc nghiên cứu toàn bộ di sản của Lenin, nhất là những tác phẩm có quan hệ trực tiếp tới văn học nghệ thuật, ví như Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử (1905), Tổ chức đảng và văn học có tính đảng (1905), Kỉ niệm Ghersel (1912), hoặc loạt bài viết về L.Tolstoi (1908-1911). Năm 1969, để chuẩn bị kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Lenin (1870-1970), ở Leningrad người ta tổ chức xuất bản một công trình với nhan đề: Di sản Lenin và khoa học về văn học(16).

Thứ hai:  Những tác phẩm văn học sáng tác theo khuynh hướng cách mạng – vô sản, bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Trước hết đó là sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Nga từng rất quen thuộc với Việt Nam, như M. Gorki, V. Majakovski, A.N. Tolstoi, A.A. Fadeev, D. Furmanov, A.X. Xerafimovich, F. Gladkov, L. Leonov, K. Fedin… Ngay từ những năm 30, 40 của thế kỉ trước, những tác phẩm như Người mẹ, Kẻ thù của Gorki, trường ca Tốt lắm của V. Majakovski, Con đường đau khổ của A.A. Tolstoi, Sapaev của D. Furmanov, Suối thép của A.X. Xerafimovich, Chiến bại của A.A. Fadeev, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang của M. Solokhov… đã được xem là kiểu mẫu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau này, khi nói tới nguồn cội của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, người ta còn nhắc tới sáng tác của một số tên tuổi của nhiều nước khác, như E. Jones (1819-1869, nhà văn Anh), G. Herwegh (1817-1875, nhà thơ Đức), G. Weerth (1822-1856, nhà văn Đức), F. Freilligrath (1810-1876, nhà thơ Đức), E. Pottier (1816-1887, nhà thơ Pháp, tác giả bài L’Internationale), A. Barbusse (1873-1935, nhà văn, nhà hoạt động xã hội Pháp)… Có thể gọi sáng tác của những nhà văn, nhà thơ nói trên là “sách mẫu”. Vì lí luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được khái quát chủ yếu từ sáng tác của những tác giả ấy.

Thứ ba: Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Liên Xô được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết về văn học – nghệ thuật. Đây là cơ sở quan trọng nhất, quyết định toàn bộ hướng đi cũng như cơ cấu nội dung của lí luận văn học chính thống. Có thể liệt kê ra đây một loạt “Nghị quyết” từng tác động sâu sắc đến đời sống văn học và nghiên cứu, phê bình văn học, như:

– Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b) Về đường lối của Đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật (18.7.1925),

– Nghị quyết Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc Về việc cải tổ các tổ chức văn học – nghệ thuật (23.4.1932),

– Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc Về phê bình văn học và công tác thư tịch (1940),

– Nghị quyết Ban Thường vụ tổ chức cán bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc Về các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad” (14.8.1946),

– Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô Về phê bình văn học – nghệ thuật (21.01.1972),

– Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô Về việc tiếp tục cải tiến công tác tư tưởng và giáo dục chính trị (26.4.1979)…

Được kiến tạo từ những nguồn cội như thế, hệ thống lí luận văn học chính thống ở Liên Xô có hai bình diện nội dung: bình diện nhận thức luận và bình diện tư tưởng hệ.

Ở bình diện nhận thức luận, lí luận văn học Mác xit khẳng định nghệ thuật là hình thái ý thức đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng song song tồn tại và có quan hệ tương tác với các hình thái ý thức khác. Ở bình diện tư tưởng hệ, nó đề cao nguyên tắc tính đảng và yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị. Trong hàng loạt tác phẩm, như Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý (1896), Làm gì? (1902), Hãy học tập kẻ thù (1905), Chính đảng xã hội chủ nghĩa và tính cách mạng phi đảng (1905), Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử (1905), Tổ chức đảng và văn học có tính đảng (1905), V.I. Lenin nhiều lần nhấn mạnh mệnh đề văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đấu tranh giai cấp và nguyên tắc tính đảng trong khoa học xã hội – nhân văn, trong triết học và văn học nghệ thuật. Đây là ý kiến phát biểu của V.I. Lenin trong bài Tổ chức đảng và văn học có tính đảng: “Đả đảo những nhà văn không có đảng tính! Đả đảo những nhà văn siêu nhân! Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái bánh xe nhỏ và đinh ốc nhỏ trong cỗ máy xã hội –  dân  chủ vĩ đại, duy nhất và thống nhất, do đội quân tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển. Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất của đảng xã hội – dân chủ”(17). Nguyên tắc tính đảng và yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị do V.I. Lenin khởi xướng được quán triệt, mở rộng trong nhiều “Nghị quyết” của Hội nhà văn qua các kì đại hội, “Nghị quyết” của Đảng Cộng sản Liên Xô và không ngừng được triển khai trong nghiên cứu khoa học(18) và thực tiễn sáng tạo nghệ thuật. Cho nên, nếu đối sánh hệ thống luận điểm trong nhận thức luận, phản ánh luận của chủ nghĩa Mác – Lenin với các nguyên tắc của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa và đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản, ta sẽ thấy, nội dung tư tưởng hệ mới thực sự là linh hồn của nền lí luận văn học Xô Viết chính thống.

Trong bài Iu.M. Lotman: Khoa học và tư tưởng hệ, Viện sĩ M.L. Gasparov nhận xét: “Nghiên cứu văn học Xô Viết xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác. Trong chủ nghĩa Mác có phương pháp và tư tưởng hệ <…> Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác chiến thắng hoàn toàn xa lạ, chẳng phù hợp chút nào với phương pháp của chủ nghĩa Mác chiến đấu. Nhưng điều đó đã được che đậy rất kĩ lưỡng”(19). Thật vậy! Phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là linh hồn của nhận thức luận, phản ánh luận Mác xit – Leninit. Lập trường duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác thể hiện ở hệ thống luận điểm về nguồn gốc, bản chất của văn học nghệ thuật. Lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn của cá nhân và xã hội là nguồn cội của văn học nghệ thuật. Văn học nghệ thuật là sản phẩm của những điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi thời đại. Hoàn cảnh kinh tế xã hội quy định cả đối tượng phản ánh, lẫn cách thức phản ánh hiện thực đời sống của văn học nghệ thuật(20). Tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác thể hiện ở học thuyết về sự phát triển không đồng đều giữa văn học nghệ thuật và nền tảng kinh tế xã hội, học thuyết về mâu thuẫn, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập như là động lực tạo nên mọi sự phát triển.

Nhưng ở bình diện tư tưởng hệ, các “Nghị quyết” của Đảng đều khẳng định, sứ mệnh của giai cấp vô sản là thủ tiêu mọi hình thức áp bức bóc lột. Cuộc cách mạng do giai cấp vô sản tiến hành là cuộc cách mạng cuối cùng trong lịch sử nhân loại. Cách mạng vô sản thành công  cũng có nghĩa là lí tưởng đã trở thành hiện thực. Chân lí thế là đã được phát hiện, lịch sử hoá ra đã hoàn kết, xong xuôi. Cho nên, ngay từ năm 1934, Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ nhất đã thông qua Điều lệ quyết định chọn “hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp chính yếu của văn học hiện đại và phê bình văn học”(21). Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô (công bố vào những năm 1946-1948) đều có những chương mục nói về việc kiện toàn quan điểm lí luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Năm 1957 và 1959, nhiều cuộc tranh luận về chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa do Viện Văn học thế giới (“ИМЛИ”- IMLI) khởi xướng diễn ra rất sôi nổi. Cuộc tranh luận nào cũng dẫn tới những kết luận nhằm khẳng định: “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là giai đoạn mới phù hợp với quy luật phát triển của nghệ thuật thế giới, là câu trả lời duy nhất đúng dành cho cuộc tìm kiếm một nền văn hoá nghệ thuật tiên tiến của nhân loại, là hình thức tự nhận thức bằng nghệ thuật của các dân tộc đang đấu tranh vì sự giải phóng xã hội”(22).

Ngay từ năm 1934, tại Đại Hội nhà văn toàn quốc lần thứ I, phát biểu với các nhà văn, A.A. Zdanov(23) huấn thị: “Đồng chí Stalin gọi các đồng chí là những kĩ sư tâm hồn con người. Danh hiệu ấy đặt ra trước các đồng chí những trách nhiệm gì? Trách nhiệm thứ nhất là phải am hiểu đời sống để biết cách miêu tả nó một cách chân thực trong các tác phẩm nghệ thuật, không phải miêu tả theo kiểu giáo điều, chết cứng, càng không phải miêu tả một cách giản đơn giống như thứ “hiện thực khách quan”, mà miêu tả hiện thực trong sự phát triển cách mạng. Chẳng những thế, tính chân thật và tính cụ thể lịch sử của sự phản ánh nghệ thuật cần phải kết hợp với nhiệm vụ cải tạo tư tưởng và giáo dục quần chúng lao động theo tinh thần của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”(24). Thế nào là “miêu tả hiện thực trong sự phát triển cách mạng”? Điều lệ Hội nhà văn Liên Xô ghi rõ: “Hội nhà văn Liên Xô đặt mục đích chính yếu là sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật có giá trị nghệ thuật cao, mang hơi thở cuộc đấu tranh anh hùng của giai cấp vô sản thế giới, thấm đẫm cảm hứng chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, phản ánh sự anh minh vĩ đại và chủ nghĩa anh hùng của đảng cộng sản. Mục đích mà Hội nhà văn Liên Xô đặt cho mình  là sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật xứng đáng với thời đại vĩ đại của chủ nghĩa xã hội” (Những chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN)(25). Rõ ràng, chức năng giáo dục mới thực sự là điểm then chốt của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở đây, nội dung nhận thức luận được thay thế hoàn toàn bằng nội dung tư tưởng hệ, giai cấp luận. Cho nên, sau này, các sách giáo khoa, giáo trình lí luận văn học được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học và cao đẳng ở Liên Xô đều nhấn mạnh chức năng giáo dục và xem tính đảng cộng sản là linh hồn của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa(26).

Theo con đường nhà nước hoá, chính trị hoá, lí luận văn học Xô Viết đã triệt tiêu về cơ bản cơ chế lựa chọn làm nên tính phức điệu và trạng thái đối thoại văn hóa được hình thành trong “thế kỉ bạc”, nhất là ở những năm đầu, sau Cách mạng tháng Mười. Nhờ thế, mĩ học Mác – Lenin với hạt nhân là giai cấp luận đã trở thành hệ thống lí thuyết chính thống. Thời kì hiển hách nhất của nền lí luận chính thống kéo dài từ đầu những năm 30 cho đến hết những năm 50. Đây là thời kì đầy biến động của xã hội Xô Viết: Liên Xô chấm dứt “chính sách kinh tế mới” (НЭП), tập trung xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội toàn trị, bộ máy đảng bao trùm trong mọi chức năng xã hội. Đây cũng là thời kì chiến tranh tàn khốc. Thế chiến thứ hai đã làm hơn 20 triệu người Xô Viết thiệt mạng, hàng nghìn thành phố, làng mạc, các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, văn hoá của Liên bang Xô Viết bị thiêu huỷ. Trong hoàn cảnh ấy, cái mà cả xã hội Xô Viết quan tâm đối với văn học và khoa học ngữ văn chắc chắn không phải là bình diện hình thức và những vấn đề thi pháp, mà là hoàn thiện lí luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác và phê bình văn học. Cho nên, đây cũng là thời đại hoàng kim của nền lí luận văn học Xô Viết chính thống. Nhưng con đường nhà nước hoá, chính trị hoá nhằm triệt tiêu cơ chế lựa chọn làm nên tính phức điệu và trạng thái đối thoại văn hóa chính là con đường khiến cho nền lí luận ấy nhanh chóng bị quy phạm hoá, ngày càng trở nên xơ cứng và khi Đảng Cộng sản không còn là đảng cầm quyền, nhà nước Xô Viết tan rã, sự sụp đổ của nó là một kết cục tất yếu.

4. Mục đích của công cuộc cải tổ do M.S. Gorbasev khởi xướng là giải phóng các tiềm năng chưa được khai thác của xã hội. Để giải phóng các tiềm năng ấy, cải tổ tìm cách nới lỏng sự kiểm soát tập trung của Đảng và Nhà nước trong một số lĩnh vực đời sống, tự do hoá ngôn luận, bầu cử cạnh tranh và tiến tới loại bỏ sự can thiệp của cơ cấu đảng vào kinh tế và một số mặt thuộc lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội. Vừa được nới lỏng tự do, văn nghệ liền lên tiếng, các khoa học xã hội cũng lập tức chuyển động. Cuối năm 1986, người ta đã thấy có những thay đổi đầu tiên trong lĩnh vực văn hoá. Trước hết là sự thay đổi của hàng ngũ lãnh đạo Hội nhà văn(27), các chi hội ở địa phương, Hội đồng lí luận phê bình, của Tổng biên tập và Ban Biên tập của hàng loạt ấn phẩm văn học – nghệ thuật. Hoạt động lí luận, phê bình, ấn loát, xuất bản văn học trở nên vô cùng náo nhiệt. Trong vòng hai năm 1986 – 1987, sáng tác của V. Vysoski(28) được xuất bản với khối lượng khổng lồ. Các tạp chí văn học mỗi số phát hành hàng triệu bản. Cả phê bình chuyên nghiệp lẫn phê bình đại chúng thảo luận rất sôi nổi về trước tác của những nhà văn Nga lưu vong, như I.A. Bunin, A.I. Solzenisyn, V.P. Nhecrasov, G.N. Vladimov, P.A. Sorokin, V.E. Marsimov, hoặc những tác phẩm từng bị cấm vào những năm 20-30, nay mới được xuất bản, ví như Chúng tôi của E.I. Zamjatin, Hố móng của A.P. Platonov, Bác sĩ Jivago của B.L. Pasternak,  Những đứa con của Arbat của A.N. Rybakov, Cuộc đời và số phận của V.S. Grossman…(29) .

Giữa sự náo nhiệt ấy, người ta dễ nhận ra những dấu hiệu của sự hỗn loạn. Tình trạng hỗn loạn được thể hiện rõ nhất ở sự rối loạn của hệ thống chuẩn mực giá trị. Rất nhiều giá trị nghệ thuật từng được khẳng định mạnh mẽ dưới chế độ Xô Viết, tưởng như đã ổn định, nay được đưa ra xem xét lại. Khi xem xét lại như thế, người ta chia giới lí luận, phê bình thành hai phe, một bên là môn đệ Stalin, bên kia là những ai chống lại ông ấy. Trên tạp chí Tháng Mười, số 8 năm 1987, nhà phê bình trẻ Iu. Burtin còn đối lập “thời Stalin” với “thời Breznev”. Những sự đối lập như thế đã mở đường cho việc phủ nhận sạch trơn toàn bộ hệ thống xã hội và những giá trị văn hoá dưới chế độ Xô Viết. Chẳng hạn, năm 1928, tên của M. Gorki được mang ra để đặt cho nhiều thành phố, đại lộ, ga tầu điện ngầm, nhà hát, thư viện, công viên, thậm chí có cả những sân bay mang tên Gorki. N.N. Primochkina nhận xét: “Từ 1928 đến 1933 là thời mà sự thừa nhận chính thức của chính quyền Xô viết dành cho Gorki lên tới mức cao nhất, ông ấy có thể lui tới nơi làm việc của những nhân vật cao cấp nhất, ân sủng mà người dồn cho ông ấy như nước chảy chỗ trũng”(30). Nhưng từ cuối những năm 80, từ thành phố quê hương của Gorki, các thành phố khác, cho đến các ga tàu điện ngầm và ngay cả đại lộ mang tên Gorki ở Moscow… đều nhất loạt đổi tên. Người ta đề nghị đưa tác phẩm của Gorki ra khỏi chương trình đào tạo của nhà trường. Khi người ta thanh lọc hệ thống thư viện của Đảng Cộng sản, sách của Gorki thậm chí còn bị mang ra đốt(31). Trong sự đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình, mới hồi nào, Gorki là “nghệ sĩ vĩ đại”, nay bỗng hoá thành “số không”, thành “Gorki cay đắng”(32). Hoặc năm 1988, ở Liên Xô, người ta vẫn tiếp tục xuất bản loạt sách được gọi là “Cuộc đời những nhân vật phi thường”. Trong chuyên luận tương đối dày dặn của A.A. Mikhailov, Majakovski vẫn được xem là “nhà thơ tài năng nhất, kiệt xuất nhất của thời đại chúng ta”. Nhưng cũng chính trong năm ấy, trên tờ Nghệ sĩ Moscow, một tờ báo có số lượng phát hành cực lớn, nhà điêu khắc V. Lemport tung ra nhận xét: “Majakovski chỉ muốn sao cho “ngòi bút hoá thành lưỡi lê”, Stalin tán thành ý tưởng ấy nên tiến hành thủ tiêu những quan niệm thi ca không giống như thế và những ai gieo rắc các quan niệm ấy”(33). Xung quanh tên tuổi và sự nghiệp của Majakovski diễn ra những cuộc tranh luận nảy lửa. “Nhà thơ tài năng nhất, ưu tú nhất của thời đại chúng ta” hoá thành kẻ tòng phạm tiếp tay cho những cuộc khủng bố đẫm máu của Stalin, thành tác giả của những tác phẩm rất đáng ngờ về giá trị nghệ thuật(34). Còn rất nhiều tên tuổi lớn bị giới phê bình bôi đen như thế. Tác giả Sông Đông êm đềm bị ghép vào tội đạo văn. Nhiều thế hệ từng rất yêu thích Mười hai chiếc ghế, nay tập thể tác giả cuốn tiểu thuyết bị kết tội “phỉ báng” tinh hoa trí thức của nước Nga cũ. L. Leonov, A. Fadeev và cả những tác giả mới “tái xuất” như M. Bulgakov, M. Tzvetaeva, O. Mandelstam cũng không thoát khỏi sự chỉ trích cay độc. Thái độ hư vô chủ nghĩa trong việc đánh giá di sản văn hoá trùm lên cả những tác gia cổ điển. G.V. Plekhanov từng khẳng định, có những thời kì V. Belinski vô cùng ngưỡng mộ F. Schelling, I.G. Fichte, G. Hegel, L. Feuerbach, để rồi cuối cùng, ông đã trở thành nhà tư tưởng lớn nhất của châu Âu. Thế mà bây giờ có nhà nghiên cứu quả quyết: “Bielinski đến với văn học từ phía bên trên, từ việc vận dụng những quan điểm triết học phổ quát. Nhưng muốn hiểu tác phẩm, muốn có phương pháp phân tích, muốn chiếm lĩnh quy luật của sáng tạo nghệ thuật, người ta lại phải bắt đầu từ phía bên dưới, từ các tác phẩm nghệ thuật mà xây dựng khoa học về văn học. Belinski không có đủ thì giờ, sức lực và những điều kiện vật chất để làm việc ấy. Từ đó, tôi rút ra kết luận (…), nếu các bạn biết nhìn và thấy rõ, thì Belinski chẳng cần cho các bạn, nếu các bạn không thể thấy như thế thì nhà phê bình sẽ làm cho các bạn phải nhầm lẫn”. V. Belinski chính là “thời non trẻ ngây thơ của chúng ta” và cũng là “thời non trẻ ngây thơ” của một nền “phê bình chưa kịp trưởng thành”(35).  Tình trạng rối loạn chuẩn mực giá trị là bằng chứng nói lên sự sụp đổ vô phương cứu vãn của hệ thống lí luận chính thống.

5. Tất nhiên, sự hỗn loạn chỉ là cái phần nổi trên bề mặt của đời sống phê bình diễn ra ở những cuộc hội nghị, hội thảo được tổ chức liên miên trong giai đoạn cải tổ. Khi Liên Xô tan rã, đời sống kinh tế của đất nước trở nên vô cùng khó khăn, nhìn vào khối lượng phát hành của các tạp chí, các đầu sách được xuất bản trong khoảng thời gian 1991-1995, ta thấy, hoạt động văn nghệ và nghiên cứu khoa học có vẻ lắng xuống. Người ta gọi đó là thời kì trì trệ. Nhưng cả sự hỗn loạn lẫn sự trì trệ rồi cũng qua đi. Theo dõi những chuyển động đang diễn ra trong đời sống học thuật của nước Nga hậu Xô Viết, ta dễ dàng nhận ra sự lên ngôi của các hệ thống lí thuyết trước kia bị xem là phi chính thống (ví như thi pháp lí thuyết của Trường phái hình thức, kí hiệu học văn hoá của Trường phái Tartu – Moscow), sự “hồi hương” của lí luận hải ngoại, sự tiếp thu cởi mở các học phái Âu – Mĩ và M. Bakhtin được đặt ngang hàng với những tác gia kinh điển vĩ đại của nhân loại. Di sản triết học, mĩ học của M.Bakhtin đang mở đường đưa lí luận văn học ngày càng xích lại gần với văn hoá học. Trên các diễn đàn khoa học, ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tên tuổi thật mới. Lớp học giả ở độ tráng niên “tứ thập”, “ngũ thập” thấy văn học hậu hiện đại là đối tượng mà nghiên cứu văn học không được phép bỏ qua. Đã thấy xuất hiện nhiều chuyên luận nghiên cứu kĩ lưỡng văn học hậu hiện đại Nga(36). Bên cạnh những bộ Bách khoa Đại Từ điển truyền thống, trên giá sách của người Nga hiện nay còn có cả Từ điển thuật ngữ hậu hiện đại được biên soạn rất công phu(37). Những chuyển động ấy làm cho hệ thống lí luận Xô Viết chính thống trở thành hiện tượng lịch sử một đi không trở lại. Theo dõi nội dung nhiều cuốn giáo khoa, giáo trình dành cho đại học và cao đẳng, hoặc bài vở đăng tải trên những tạp chí văn học lớn nhất của nước Nga trong vòng mươi năm trở lại đây, ta không thể không thừa nhận một sự thật: hệ hình lí luận văn học lấy phản ánh luận Mác – Lenin và giai cấp luận làm điểm tựa dường như đã hoàn toàn biến mất(38). Mươi năm trở lại đây, không tìm thấy tạp chí nào còn đăng những bài viết về hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở nước Nga, hầu như không có trường đại học hoặc cao đẳng nào còn sử dụng các bộ giáo trình của những tác giả rất quen thuộc với độc giả Việt Nam như G.L. Abramovik, L.V. Sepilova, S.M. Petrov, L.I. Timofeev… Ngày nay, trong các trường đại học và cao đẳng ở nước Nga, tài liệu học tập của sinh viên chủ yếu là những bộ giáo trình rất mới của các học giả như V.E. Khalizev, N.D. Tamartzenko, V.I. Chiupa, S.N. Broiman, hoặc tập thể tác giả của Viện Văn học Thế giới (IMLI) thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga. Bộ giáo trình do N.D. Tamartzenko chủ biên không hề nhắc tới phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa(39). Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ chiếm một vị trí vô cùng khiêm tốn trong giáo trình của V.E. Khalizev(40) và bộ 4 tập của IMLI(41). Một đặc điểm nữa: ở tất cả những bộ giáo trình ấy đều không thấy có phần viết về nguyên lí tính đảng, tính giai cấp của văn nghệ, hoặc phản ánh luận của Lenin.

Tóm lại, tôi thấy có đủ cơ sở để khẳng định như thế này:

Nhiều trang sách cũ đã được gấp lại và một cục diện hoàn toàn mới đang được mở ra trong nghiên cứu văn học Nga hậu Xô Viết1

                                                   Đồng Bát, 24.5.2008

_____________

(1) Xem: N.K. Boneskaja.- Conférence quốc tế về Bakhtin lần thứ 7 //Dialogue. Carnivil.Choronotope, 1995, số 3, tr.138.

(2) Xem: Tư liệu của ЦК РКП(б) – ВКП(б) ВЧК – ОГПУ – НКВД  về đường lối văn hóa 1917 – 1953 (Tổng biên tập A.N. Jiakovlev). M, Quỹ Quốc tế “Dân chủ”, 1999, tr.53-57.

(3) Xem: Golubkov M.M: Đánh mất sự lựa chọn hay là sự hình thành quan niệm toàn trị trong văn học Xô Viết những năm 20 – 30. M, 1992.

(4) Xem: L.P. Egorova, P.K. Tsekalov: Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Tác gia Xô Viết cổ điển, Moskva – Stavropl, 1998. Nguồn: http://www.teneta.ru/rus/ee/egorova-lp chekalov-pk historia russkoi literatury.html.

(5) Xem: Sự vận động của văn học thời Xô Viết. Dữ liệu và chứng thư. Văn tuyển. M,1986, tr.30-45 (tiếng Nga).

(6) Về quan điểm tư tưởng – nghệ thuật của chủ nghĩa vị lai Nga, xin xem: Lenin V.I: Về văn học nghệ thuật, in lần thứ 4, M, 1969; Lunasarski  A.V: Tuyển tập. T.2, M, 1964, T.7, M, 1967 (tiếng Nga); Сhủ nghĩa vị lai. Nguồn: http://www.cultinfo.ru/fulltext/1/001/008/117/978.htm

(7) Sự vận động của văn học thời Xô Viết. Dữ liệu và chứng thư. Văn tuyển. M, 1986, tr.26 (tiếng Nga).

(8) Xem: L.P. Egorova, P.K. Sekalov: Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Tác gia Xô Viết cổ điển,Moscow – Stavropl, 1998. Nguồn: http://www.teneta.ru/rus/ee/egorova-lp chekalov-pk historia russkoi literatury.html.

(9) Văn hoá học thế kỉ XX – Bách khoa từ điển. T.2, Nxb. St-Peterburg, tr.185 (Tiếng Nga).

(10) Xây dựng đảng. Số 9-1932, tr.62 (Tiếng Nga). Cũng có thể tìm thấy văn kiện này trong sách: Власть и художественная интеллигенция. Документы ЦК РКП(б) ВКП (б), ВЧК ОГПУ НКВД о культурной политике. 1917-1953. Под ред.А.Н.Яковлева. Cост. А.Н.Артизов, О.В.Наумов. М.: Международный фонд “Демократия”, 1999.

(11) Sự thật. 1.7.1925; Tin tức. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b). số 25,26-1925, tr.8. Nguồn: http:// www.hist.msu.ru/ER/Etext/USSR/1925.html.

(12) Xem: A. Anikst: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu văn học dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hình thức. Trong sách: R. Wellek và O. Warren. – Lí luận văn học. Nxb. Tiến Bộ, M, 1978, tr.5-29;  V. Krutous: Những vấn đề tranh luận của hướng nghiên cứu cấu trúc – kí hiệu học trong nghiên cứu văn học và nghệ thuật học. Trong sách Chủ nghĩa cấu trúc: “tán thành” và “phản đối”. Nxb. Tiến Bộ, M, 1975, tr.3-24.

(13) Medvedev P: B.V. Tomasevski. Lí luận văn hoc (Thi pháp học)// Ngôi sao, số 3 (9)-1925, tr.298.

(14) Xem: I.D.Tamarchenko: “Thi pháphọc”  của B.V.Tomasevski và số phận của nó.- Trong sách: B.V. Tomasevski: Lí luận văn học. Thi pháp học. M, 2003, tr.5-21. (Tiếng Nga).

(15) K. Markx và F. Engels bàn về nghệ thuật (К Маркс и Ф Энгельс об искусстве). Nxb. Nghệ thuật, M,-L, 1938.

(16) Di sản Lenin và khoa học về văn học. Nxb. Khoa học, chi nhánhLeningrad, L,1969.

(17) Bài Tổ chức đảng và văn học có tính đảng lần đầu tiên được công bố trên tạp chí Đời sống mới (Новая жизнь), số 12, 13.11.1905, dưới bút danh “N. Lenin”. Để bạn đọc tiện tra cứu, chúng tôi trích dẫn theo bản dịch tiếng Việt: C. Mac – Ph. Ăng-ghen – V.I. Lê-nin: Về văn học và nghệ thuật. Nxb. Sự thật, 1977, tr.305.

(18) Có thể tìm thấy trong các thư viện ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây hàng nghìn bài báo, tiểu luận, chuyên luận bàn về tính đảng trong văn nghệ. Trong Lời giới thiệu mở đầu chuyên luận của mình,  A.K. Dremov đã điểm tên, kể ra một danh sách rất dài các tác giả từng có những công trình viết về tính đảng, ví như: Iu. Barabas, A. Busmin, I. Dzeverin, A. Dubrovin, A. Egorov, V. Ivanov, B. Vorobiev, A. Yezuitov, A. Karaganov, G. Kunhisin, M. Lifsis, G. Lotmize, Iu. Lukin, D. Markov, A. Metchenko, A. Mjasnhikov, L. Novichenko, M. Ovsjanikov, A. Ovsachenko, S. Petrov, G. Pospelov, B. Suskov, G. Frilender, M. Khrapchenko, I. Serhousan, N. Samot, V.Serbina… Xem: A.K. Dremov: Tính đảng của văn học và thời đại chúng ta,  Nxb. Văn học nghệ thuật, M., 1980, tr.3-4 (Tiếng Nga).

(19) M.L. Gasparov: Iu.M. Lotman: Khoa học và tư tưởng hệ// Trong: M.L. Gasparov: Tác phẩm chọn lọc. T.2, M, 1997, tr.487.

(20) Về vấn đề này, xin xem các bài viết của V.I.Lenin về L.Tolstoi trong sách: C.Mac-Ph. Ăng-ghen-V.I. Lê-nin: Về văn học và nghệ thuật. Nxb. Sự thật, 1977, tr.194-239.

(21) Đại từ điển bách khoa Xô Viết. Nguồn: http://www.cultinfo.ru/fulltext/1/001/008/130/alp 388.htm.

(22) Đại từ điển Bách khoa Xô Viết. Nguồn: http:// www.bse.freecopy.ru/print.php?id=82952

(23)  Zdanov A.A. (Жданов Андрей Александрович): 14.2.1896 – 31.8.1948. Sau Đại hội Đảng lần thứ XVII (1934), ông là Bí thư Ban chấp hành Đảng Cộng sản toàn quốc, kiêm Bí thư Tỉnh uỷLeningrad.

(24) Dẫn theo: Boffa G: Lịch sử Liên Xô. T.1, M., 1994, tr.427.

(25) Đại hội các nhà văn Xô Viết toàn quốc lần thứ nhất: Phúc trình tốc kí, M,1934,  tr.716 -718. Nguồn: http://www.his95.narod.ru/doc22/46.htm

(26) Xem: – L.I. Timofeev: Nguyên lí lí luận văn học (Bản dịch tiếng Việt của Lê Đình Kỵ, Cao Xuân Hạo, Bùi Khánh Thế, Nguyễn Hải Hà, Minh Hải, Nhữ Thành), Nxb. Văn hoá, Viện Văn học, 1962, tr.253-274; L.V.Sepilova: Dẫn luận nghiên cứu văn học. Nxb. Cao đẳng, M, 1968, tr.350-365 (Tiếng Nga);  Iu. Borev: Mĩ học. (In lần thứ 2), Nxb. Văn học chính trị, 1975, tr.297-308 (Tiếng Nga); S.M. Petrov: Những vấn đề cơ bản của lí luận về chủ nghĩa hiện thực: Hiện thực phê phán và hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nxb. Giáo dục, M., 1975, tr.146-285; G.L. Abramovich: Dẫn luận nghiên cứu văn học (In lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung). Nxb. Giáo dục, M, 1975, tr.316-351 (Tiếng Nga).

(27) Chủ tịch Hội nhà văn Liên Xô: Từ 1977 đến 1986: Georgi Markov (Георгий Марков); từ 1986 đến 1991: Vladimir Karpov (Владимир Карпов).

(28) Vladimir Semyonovik Vysoski (Владимир Семёнович Высоцкий): 25.1.1938 – 25.7.1980 – nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, diễn viên, từng phổ nhạc cho hàng trăm bài thơ của mình, sáng tác của ông đụng chạm tới rất nhiều đề tài bị cấm kị thời Xô Viết.

(29) Xem: Cải tổ ở Liên Xô: Ý đồ cải cách kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị. Nguồn: http:// www. Examens.ru/otvet/6/11/1006.htm1.

(30) N.N. Primochkina: Những chàng Donkihote của chủ nghĩa bolsevisme: Maksim Gorki và Nikolai Bukharin// “Tư tưởng tự do”, 1993, Số 4, tr.66 (Tiếng Nga).

(31) Xem: M. Agurski: Kẻ tà giáo vĩ đại (Gorki như là nhà tư tưởng tôn giáo)// Những vấn đề triết học. Số 8-1991, tr.10 (Tiếng Nga).

(32) Nguyên văn: “gorki Gorki” (“горький Горькийр”). Đây là cách chơi chữ của giới phê bình. Ttrong tiếng Nga, chữ “Gorki” (“горький”) có nghĩa là “cay”, “đắng”.

(33) V. Lemport: Nghệ sĩ Moskva, 1988, 23.10, tr.26 (Tiếng Nga).

(34) Xem: O. Zemljakova: A lô, ai nói đấy, mẹ hả?. Nữ công nhân. Số 11-1988; Iu. Khanfin: Đồ đệ của ông chủ// “Thế kỉ XX và thế giới”. Số 6-1990; G.S. Seresin: Từ lịch sử sáng tác của Majakovski: Majakovski và tệ sùng bái cá nhân Stalin// Văn học Nga. Số 2-1989; P. Trukovitin: Xin phép giới thiệu: Majakovski// “Nghệ sĩMoscow”. 1988, 8, tháng Giêng.

(35) Xem: Vissarion Belinski, thời thơ ngây non trẻ của chúng ta, mà cũng là của một nền phê bình chưa trưởng thành. Nguồn: http://solsand.com.

(36) Xem: Ilia Ilin: Chủ nghĩa hậu hiện đại từ cội nguồn đến cuối thế kỷ: Sự tiến hoá của huyền thoại khoa học. “Intrada”, M, 1998; Vjatzeclav Kurysin: Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Nga. “OGI”, M, 2000.

(37) Ilia Ilin: Chủ nghĩa hậu hiện đại. Từ điển thuật ngữ. “Intrada”, M, 2001.

(38) Có thể tìm thấy bài vở về lí luận văn học từ năm 1995 đến nay trên các tạp chí sau đây: “Арион”, “Вестник Европы”, “ВОЛГА-ХХI век”, “Дружба Народов”, “Звезда”, “Знамя”, “Иностранная литература”, “Континент”, “Нева”, “Новая Юность”, “Новый Мир”, “Октябрь”,”Урал”, “Вопросы литературы”, “Критическая Масса”, “Логос”, “Неприкосновенный запас”, “НЛО”, “Отечественные записки”, “День и ночь”, “Дети Ра”, “Зарубежные записки”, “Зеркало”, “Иерусалимский журнал”, “Интерпоэзия”, “Крещатик”, “Новый Берег”, “Сибирские огни”, “Слово\Word”, “Студия”, “Волга”, “Новая Русская Книга”, “Новый ЛИК”, “Старое литературное обозрение”, “Уральская новь”… Nguồn: http://magazines.russ.ru

(39) N.D. Tamarsenko (Chủ biên), V.I. Tiupa, S.N. Broiman: Lí luận văn học (2 tập). “Academa”, M, 2004 (Tiếng Nga).

(40) V.E. Khalizev: Lí luận văn học.- “Cao đẳng”, M, 1999 (Tiếng Nga).

(41) Iu. Borev (chủ biên): Lí luận văn học (4 tập).- IMLI RAN, “Di sản”, M, 2001 (Tiếng Nga).

Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn (in lần đầu trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 – 2008). Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply