Sòng phẳng với quá khứ


Lại Nguyên Ân

Ít lâu nay, mỗi lúc cần nói đến ý nghĩa của việc giữ gìn di sản văn hóa, nhiều người trong chúng ta thường viện đến câu của nhà thơ xứ Đaghestan (thuộc Liên bang Nga) Rasul Gamzatov: “Nếu anh bắn quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn anh bằng đại bác!”.

 

Thiết nghĩ, cái ý thức bảo vệ di sản ngụ trong câu ấy hiện vẫn cần thiết, bởi ngay ở ta vẫn còn không ít những phần di sản của quá khứ đang tiếp tục bị “bắn bằng súng lục”, tức là bằng sự im lặng lãng quên, thậm chí bằng sự phá hoại.

 

Tuy nhiên, nếu đi hết cái ý nghĩa tích cực của tâm niệm nêu trên, ta lại đứng trước cái giới hạn này: mọi thứ trong quá khứ vốn không như nhau về ý nghĩa, về giá trị. Trên thực tế, chưa bao giờ và không bao giờ người ta lại sùng bái tất thảy mọi thứ có trong quá khứ, không một chút thiên vị, không một chút sàng lọc, theo cách của mình. Chúng ta đang ở một thời điểm của những quá trình ngược chiều nhau: trong khi ngày càng có thêm nhiều giá trị quá khứ tưởng đã lấp hẳn vào lớp bụi của quên lãng, bỗng sống dậy, như là đáp ứng một loại nhu cầu văn hóa bức thiết nào đấy rất chính đáng, thì đồng thời lại có một nhu cầu khác là nghiêm khắc điểm lại con đường vừa đi qua, chẳng những để xem liệu những giá trị nào có thể “sống lâu”, mà còn để xem chính chúng ta có những ấu trĩ, sai lầm nào trong quan niệm và phương hướng hoạt động.

 

Ở một tình huống, một thời điểm như vậy, nếu chỉ tự vũ trang bằng lời răn đe rằng bất cứ cái gì đã qua đều đáng “ăn đạn đại bác” của tương lai thì rõ ràng là một sự tự vũ trang không đầy đủ, thậm chí còn gói theo cả những sự lừa mị mới. Thiết nghĩ, cần vũ trang thêm phương châm này của Tvardovski, nhà thơ được xem là lương tri của văn học Xô-viết: “Kẻ nào che giấu quá khứ sẽ không yên ổn được với tương lai!”. Phải sòng phẳng với quá khứ! Mà chúng ta, nói thật ra, chưa có sự sòng phẳng ấy.

 

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, kể cả những hạn chế lịch sử, chúng ta mới chỉ tiếp nhận một phần di sản văn hóa của “quá khứ xa” (tạm coi là từ thế kỷ trước ngược về thời cổ) chủ yếu gồm những gì gắn với chủ nghĩa yêu nước. Mà chủ nghĩa yêu nước, dù là một phần cơ bản, vẫn chưa phải là toàn bộ giá trị của các di sản văn hóa Việt Nam. Đối với “quá khứ gần” (tôi muốn nói đến các tác giả và tác phẩm văn nghệ từ đầu thế kỷ này đến tháng 8-1945), chúng thấy rõ những sự phân biệt đối xử và thiếu công bằng ở hàng loạt trường hợp. Điều đáng mừng là gần đây đang có những nỗ lực khôi phục sự công bằng ấy, nói đúng hơn là trả dần cho công chúng hiện nay cái quyền được xúc tiếp với những giá trị văn nghệ vốn có trong di sản dân tộc. Quá trình này chắc chắn sẽ đẩy tới nhu cầu vẽ lại bức tranh văn nghệ dân tộc từ đầu thế kỷ đến nay, bởi ngay đến hiện giờ nhiều nhận định và khái quát hiện hành đã không còn phù hợp.

 

Tuy nhiên, có thể dự toán rằng sẽ không có chấn động gì lớn chung quanh sự trở về của những tác phẩm thuộc các giai đoạn văn nghệ từ trước 1945. Gây chấn động thật sự có lẽ chính là những gì thuộc về nền văn nghệ mới Việt Nam, từ tháng 8-1945, bởi vì những người can dự hiện vẫn là người đương thời của hôm nay, không dễ khách quan, vô tư trước mọi sự phân tích, mổ xẻ cần thiết. Thế mà yêu cầu của đổi mới lại buộc ta chẳng những phải thấy rõ những cái được thật thích đáng, mà còn phải thấy cả những cái yếu, cái non kém và những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã gò bó, trói buộc, hạn chế văn nghệ phát triển. Lại cần phải tính đến một đặc điểm là: so với những thời kỳ trước, nền văn nghệ mới Việt Nam mang tính tổ chức, tính thống nhất cao, gần như nằm gọn trong một trường phái văn nghệ. Do vậy mà có sự tương ứng khá chặt chẽ giữa các tư tưởng lý luận chỉ đạo với thực tiễn sáng tác, thực tiễn các tác phẩm.

 

Một mặt, chẳng những mỗi thiên hướng, mỗi thiện cảm đối với từng loại chất liệu đời sống và chất liệu nghệ thuật, mà ngay cả mỗi định kiến, mỗi biểu hiện giản đơn, phiến diện, cực đoan, v.v… trong tư tưởng chỉ đạo hầu như đều có hình bóng ở những tác phẩm nhất định. Mặc khác, những sáng tác tiêu biểu nhất lại hội trong mình chúng cả những quá trình bề mặt lẫn những quá trình sâu hơn, vẫn diễn ra bên trong văn nghệ dân tộc, cùng với kết quả tìm tòi mang dấu ấn riêng của tác giả thực tài. Cũng giống như mùa vụ cấy trồng, dù khí hậu có bất thường đến mấy, thời nào cũng có hoa trái của nó, trong trình độ và khả năng thực tế của nó. Đấy là một sự thật.

 

Đứng trước nhu cầu nhìn lại những chặng đường đã qua của nền văn nghệ mới Việt Nam, thiết tưởng cần có sự sòng phẳng này: trước hết phải tách ra để xem xét tương đối độc lập một bên là hoạt động tổ chức, quản lý, lãnh đạo văn nghệ, và một bên là thực tế sáng tác, là diện mạo cụ thể của các tác phẩm đã được tạo ra suốt thời gian ấy. Đúng là bên cạnh những tác dụng tốt, hoạt động tổ chức quá trình văn học còn mang những đặc điểm và nhược điểm đã hạn chế và trói buộc văn nghệ phát triển. Nhưng dù những hạn chế và trói buộc ấy có gay gắt đến mấy thì thật ra cũng đã không biến giá trị của những gì các nhà văn viết ra thành con số không. Những tác phẩm thuộc một thời gian lịch sử ấy, dù nay bị tác giả ghét bỏ hay còn được tác giả ưu ái, vẫn cứ là đối tượng cho sự chọn lựa của công chúng, cho sự phân tích của nhà nghiên cứu, hiện tại và mai sau. Dù sao thì cho đến bây giờ, các tác giả ấy cũng không thể xin “rút” tác phẩm của mình ra khỏi cái kho chung đã có, không thể tuyên bố mình “vô can” đối với tiến trình văn học đã tham dự. Dẫu anh tự thấy mình đã dễ dãi “minh hoạ” những chủ đề, những đề tài nào đó, thì chính chủ đề, đề tài tác phẩm ấy của anh cũng đã tham dự vào xu hướng tư tưởng xã hội chung đương thời. Chả lẽ trong đó không in dấu niềm tin của anh, nhận thức của anh, cứ cho là nó còn ấu trĩ đi? Nhưng ngoài ra, lẽ nào trong đó anh đã không phải tiến hành giải quyết, theo cách của anh, những vấn đề “nghề nghiệp” như là sự miêu tả con người và cuộc sống đương thời, các giải pháp thể loại, hoặc ít nhất là ngôn ngữ văn học? Đây lại là những phương diện khác nữa của một quá trình văn học liên tục, − không đi qua cái “thời xa vắng” ấy thì không tới hôm nay.

 

Nếu như cái kho những tác phẩm đã có vẫn còn đó, vừa làm đối tượng cho sự nghiên cứu và phân tích về mặt lịch sử và chịu luật sàng lọc tất yếu của công chúng và thời gian, thì hoạt động tổ chức văn nghệ ở những thời kỳ đã qua vừa là những cái đã không thể sửa chữa cho quá khứ (vì đã đi vào quá trình lịch sử văn nghệ, đã tạo ra các tình huống văn nghệ nhất định), nhưng lại là cái có thể rút kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai. Thái độ sòng phẳng với quá khứ càng trở nên cần thiết, vì quán tính của các tình huống văn nghệ đã qua, từ cơ chế tổ chức đến tâm lý xã hội,  trong giới văn nghệ và trong công chúng, vẫn còn sức chi phối, tác động ngay khi ta đang vận động đổi mới. Thái độ sòng phẳng đối với tất cả những gì ở phía sau lưng có ý nghĩa rất lớn khi cất bước tiến tới. Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương đảng về công tác văn hóa văn nghệ vừa qua đã nêu gương về thái độ tự phê bình nghiêm túc. Chắc chắn là việc tự phê bình như vậy cần được triển khai trong dịp tiến hành đại hội các hôi sáng tác sắp tới. Vấn đề là ý thức được những quan niệm nào, những cơ chế tổ chức và phương thức hoạt động nào ngay ở thời gian trước đây cũng đã gò bó, hạn chế sáng tạo nghệ thuật, hoặc chúng chỉ thích hợp với thời gian trước đây, trong cơ chế hành chính tập trung quan liêu bao cấp, và không còn phù hợp với thời gian hiện tại và sắp tới, trong xu thế dân chủ hóa sinh hoạt xã hội. Những “lỗi lầm” của cơ chế dẫu hiển nhiên đến đâu cũng không thể biện hộ được cho những lỗi lầm và trách nhiệm cá nhân, tuỳ cương vị từng người, dù là người được tổ chức Đảng giao cho việc quản lý văn nghệ, là người đứng đầu các hội sáng tác hay là người nghệ sĩ, nhà phê bình.

 

Ngành phê bình văn nghệ cần được xem xét kỹ lưỡng hơn vì nó gắn nhiều hơn với các tư tưởng chỉ đạo và quản lý văn nghệ, với việc tạo ra các tình huống, khí hậu văn nghệ nhất định. Nhưng đây cũng không phải là chỗ để phác thảo lịch sử phê bình. Đây chủ yếu là chỗ để xem xét những quan niệm lý luận và phương pháp luận nào là sai lầm, thô thiển, trói buộc sáng tác; những khái quát nào không đúng với thực tế phát triển văn học; những nhận định và đánh giá nào là thiếu công bằng và khách quan đối với những tác phẩm và tác giả nhất định; những lề thói hoạt động phê bình nào là trái với nguyên tắc tự do phê bình, công khai, thẳng thắn, khách quan. Không thể vin vào chỗ việc phê bình trước đây thường nhân danh “tiếng nói của tập thể” để xóa mờ trách nhiệm riêng của từng nhà phê bình về các quan niệm và ý kiến của mình trước các vấn đề và sự kiện văn nghệ cụ thể. Trút trách nhiệm hoàn toàn cho “cơ chế” vô hình, thậm chí cho sự lãnh đạo của Đảng mà quên đi hoặc che giấu trách nhiệm của từng người, − là một thái độ không sòng phẳng về đạo đức.

 

● Báo Nhân dân, 28-5-1988

Leave a Reply