Sự lên ngôi của văn bản và sự khai sinh của độc giả


Thu An

Chủ nghĩa cấu trúc không tuyên cáo về cái chết của chủ thể nhưng chính nó đã nhấn chìm địa vị đầy quyền uy của tác giả đồng thời chẳng hề đoái hoài đến người đọc. Tác giả đã bị “lờ đi” bởi vì đối với các nhà cấu trúc luận, ý nghĩa của văn bản không phải do tác giả hay độc giả truyền vào mà do cấu trúc nội tại của văn bản tạo ra. Mỗi văn bản cụ thể là một biến thể trong hệ thống, phụ thuộc vào hệ thống chứ không lệ thuộc vào tác giả của nó. Những đối lập nhị nguyên mà các nhà cấu trúc xác lập có cơ sở từ cấu trúc tâm trí cộng đồng trở thành những yếu tố chi phối nguyên tắc tạo nghĩa của văn bản: nóng/lạnh, đàn ông/đàn bà, ánh sáng/bóng tối, tự nhiên/xã hội, sống/chết… Trong cặp đối lập nhị phân của chủ nghĩa cấu trúc, chỉ có một yếu tố có quyền tồn tại, một yếu tố là trung tâm. Ý nghĩa của văn bản phụ thuộc vào sự đối lập với cái nó không làĐôi mắt của Nam Cao tự nó có ý nghĩa vì tương tác giữa những cặp đôi: cũ/mới, đúng/sai, phản động/cách mạng, tiến bộ/lạc hậu…. Nhưng đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thật khó xác quyết cái gì chỉ là chính nghĩa/phi nghĩa, sống/chết, tình yêu/thù hận, lý tính/bản năng…Trong chính nghĩa có phi nghĩa, trong sống có chết, trong thù hận có tình yêu, trong bản năng có lý tính. Thật bất công khi buộc một yếu tố phải “vắng mặt” và thừa nhận một chân lý cuối cùng. Văn bản không đăng quang vì nó tự trị, bất cần tác giả và người đọc như chủ nghĩa cấu trúc hằng tin tưởng.

Những bộ óc tinh hoa nhất của phương Tây trong tư trào hậu cấu trúc – giải cấu trúc đã xác quyết rằng ngôn ngữ không đáng tin cậy và văn bản chẳng có một trung tâm nào. Với họ, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt nhằm tạo nghĩa thực ra chỉ là một ảo tưởng. Bởi vì chẳng có cái được biểu đạt nào cả. Ngôn ngữ không làm chức năng quy chiếu đến thực tại mà quy chiếu đến chính nó. Cái biểu đạt không dẫn đến thực tại mà dẫn đến chỉ những cái biểu đạt và quá trình này diễn ra vô tận. Thế là văn bản thay thế thực tại. Nguyễn Du viết Kiều, diễn giải rằng nàng bạc mệnh là do ông Trời (“Ngẫm hay muôn sự tại trời”). Nhưng Trời là gì? Trong quan niệm của Nguyễn Du đó là “con Tạo”, “Hóa nhi”, “Hóa công”…xét cho cùng cũng chỉ là những cái biểu đạt. Thay thế tác giả, chiếm chỗ của thực tại, văn bản chễm chệ ngồi trên ghế tộc trưởng của bộ lạc văn chương. Nhưng văn bản không phải là một bản thảo có tính chất vật liệu của tác phẩm như quan niệm lâu nay về nó. Trước đó, khi ta tin rằng tác giả là Thượng đế, văn bản có nhiệm vụ gánh vác một ý nghĩa ổn định và thậm chí duy nhất mà tác giả đã mang lại cho tác phẩm. Theo cách hiểu đó, văn bản là đầy tớ cho “vầng hào quang thần thánh của tác phẩm”. Quan niệm truyền thống này thực chất là biểu hiện của một cách nhìn tôn ti thứ bậc, coi tác phẩm là yếu tố thứ nhất, văn bản là yếu tố thứ hai; coi nói quan trọng hơn viết, viết phụ thuộc vào nói và bản thân sự viết chỉ là ghi chép lại tư tưởng, là mang lại tính xác định cho tư tưởng tác giả như Derrida đã đã phân tích.

Trong Từ Tác phẩm đến Văn bản, Barthes trình bày quan niệm mới của mình về văn bản và tác phẩm. Tác phẩm chiếm một không gian nhất định trong một tập sách trong khi đó văn bản không cần thiết chiếm một không gian mang tính vật lý. Tác phẩm có thể tìm thấy trên kệ sách thư viện, còn văn bản là ‘một lĩnh vực có tính chất phương pháp luận’. Tác phẩm có thể được phô bày, còn văn bản chỉ tồn tại trong biến động của một diễn ngôn, tức là tiến trình hiện thực hóa sự phô bày ấy bằng ngôn ngữ. Văn bản vì vậy chỉ có thể được kinh nghiệm thông qua hành vi sản xuất, cấu thành từ sự chao đảo miên man giữa sự có mặt và vắng mặt của những cái được biểu đạt khác nhau. Những sự có mặt và vắng mặt này vốn vô tận, do đó văn bản tất yếu mang tính đa bội. Nói cách khác, văn bản là một không gian đa chiều kích, ở đó hội tụ vô số văn bản đến từ vô số nền văn hóa khác nhau. Nỗi buồn chiến tranh là kết quả của sự tan loãng hằng hà sa số những văn bản viết về chiến tranh trước đó, không chỉ là những tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam như Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Minh Châu mà còn là các kiệt tác của văn chương thế giới với các tác giả như L.Tolstoi, E.Hemingway, E.Remarque. Do vậy, văn bản không kết thúc ở Văn chương mà là ở văn hóa nói chung. Barthes đề xuất rằng khắp văn bản ‘sự trích dẫn, sự quy chiếu, những tiếng vọng, ngôn ngữ văn hóa…giao cắt nhau thông qua văn bản và thông qua vô số âm thanh lập thể (stereophony)’. Ý nghĩa của văn bản được tạo ra từ những sự đan dệt mang tính chất liên văn bản của những văn bản trước đó. Một thành tố như cách hành xử của Hồ Quý Ly với Khổng tử và Nho giáo được ghi lại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh chất chứa trong đó vô số tiếng vọng liên văn bản. Cũng theo Barthes, người ta không thể xác định những nguồn gốc cũng như ảnh hưởng từ một văn bản, bản thân nó là văn bản – giữa – văn bản khác. Rõ ràng, theo cách nhìn của Barthes, nguồn gốc của văn bản không phải là ý thức xuất phát từ một tác giả duy nhất. Có phải F. Saussure là tác giả duy nhất đã viết ra Giáo trình ngôn ngữ học đại cương? Có phải Cao Xuân Huy là tác giả của Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu? Hay những học trò của hai ông cũng là tác giả? Hay sự thật là chính những văn bản ấy đã được đan dệt từ vô số giọng nói, của vô số từ ngữ, của vô số phát ngôn khác và văn bản khác? Trong sáng tác Phạm Thị Hoài, ngôn ngữ kiến tạo một thế giới với những con người cô đơn, luôn suy tư, tự tra vấn, săm soi, phán xét, lúc buông xuôi, lúc điên rồ, tham lam, phồn tạp, đa đoan trong một không – thời gian bất ổn, phi lý với đầy ắp những tiếng vọng liên văn bản từ trường tri thức phân tâm, phi lý, định mệnh khác. Văn bản lên ngôi vì thế giới là một văn bản khổng lồ mà mỗi văn bản cá nhân là một liên văn bản. Nói thế không có nghĩa là biến sáng tạo thành một trò sắp đặt ngẫu nhiên của các con chữ, viết là “chơi sóc đĩa” với một mớ chữ nghĩa được tung vãi tùy tiện trên trang giấy. Viết là quá trình tương tác đối thoại giữa các văn bản, là tạo lập mạng lưới liên văn bản. Nhà văn chẳng có sợi tơ nào để chăng mắc, hoặc đan bện mãi vài sợi tơ đã sờn mòn thì không thể có thành tựu. Dùng mãi vốn tự có, không chịu mở rộng tri thức, đối thoại liên tục với các văn bản khác đang nảy sinh không ngừng tất sẽ dẫn đến nguy cơ lặp lại mình. Nguy cơ đó hiện diện rất rõ trong nhiều cây bút Việt Nam hiện nay.

Nhìn lại những thành tựu đã qua của các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Xuân Khánh…đều nhận thấy các nhà văn đã quăng mình vào không gian văn bản mênh mông để đối thoại, giễu nhại, bắt chước, vay mượn các văn bản văn hóa khác. Cái chính là họ đã đứng trên vai những văn bản khổng lồ, những luồng gió lớn. Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh đối thoại với lịch sử, giải thiêng lịch sử không phải để tìm kiếm một “sự thật” ở cấp độ vi mô: Quang Trung có văng tục, chửi bậy, mê gái không? Hay Hồ Quý Ly có đúng là đã tiếm ngôi nhà Trần không? Rõ ràng, cả hai văn bản đều đối thoại với những đám đông (tập thể) mang thói quen độc quyền chân lý. Bảo Ninh đối thoại với cả một truyền thống tiểu thuyết – sử thi và lối tư duy đơn giản, một chiều về chiến tranh. Phạm Thị Hoài mang một hệ văn hóa khác để đối thoại với cái cộng đồng bầy đàn, với lớp người tinh hoa đầy tự mãn. Đối với Barthes, cũng như đối với nhiều nhà hậu cấu trúc khác, không phải chúng ta tư duy bằng văn bản nữa mà giờ đây văn bản tư duy chúng ta, kiến tạo chúng ta. Với họ, không có yêu đương, cảm xúc, tư tưởng …trước những văn bản miêu tả về những yêu đương, cảm xúc, tư tưởng. “Họp hành”, “tín nhiệm”, “biểu quyết” trong văn bản Nguyễn Huy Thiệp đã trượt từ nghiêm chỉnh sang giễu nhại để rồi “điều khiển” cách chúng ta tư duy về thực tại, một lối tư duy không còn giống như trước được nữa.

Văn bản là liên văn bản kéo theo sự lên ngôi của người đọc. Bởi vì văn bản giảm bớt khoảng cách tồn tại giữa đọc và viết. Văn bản trở thành một ‘không gian xã hội’ nơi mà không ngôn ngữ nào là trinh nguyên. Tất cả đều kéo theo những ý nghĩa cũ và không trơn tru khi mang một ý nghĩa mới. Mọi văn bản đều hiện diện trong quan hệ với các văn bản khác. Thế giới thơ Hàn Mặc Tử hiện diện trong Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương với những sắc độ đậm nhạt dễ thấy. Có những trường tri thức: “về hưu”, “loạn cờ”, “không có vua” ám ảnh tâm trí cộng đồng suốt thời kỳ đầu Đổi mới chăng mắc đan bện trong vô số văn bản khác: báo chí, diễn văn chính trị, ngôn ngữ hè phố…rồi hội tụ trong văn bản Nguyễn Huy Thiệp. Nếu tác giả dùng những sự kết nối liên văn bản để tạo nghĩa thì độc giả/nhà phê bình cũng làm công việc tương tự Độc giả đọc/đọc lại văn bản hệt như là đang viết lại nó, họ đã mang vào cuộc chơi đó kinh nghiệm và mọi thứ họ biết về văn bản trước khi cầm nó trên tay. Sự kết nối giữa các văn bản không bao giờ có kết thúc (“không có một dấu nối rõ ràng về nơi một văn bản kết thúc và một văn bản bắt đầu” – Barthes). Và ở đây, kinh nghiệm của người đọc quyết định trạng thái tồn tại đích thực của văn bản. Nếu không có những hệ văn bản liên quan đến văn học viết bằng tiếng Đức, các tác phẩm triết học của Nietzsche, tâm lý học của Freud, truyền thống văn học Việt, nhất là những sáng tác của các nhà văn giới nữ như Hồ Xuân Hương…thì đọc Phạm Thị Hoài tất sẽ đưa văn bản đến đích tác giả và hiện thực. Tác giả thành kẻ báng bổ, còn hiện thực thì nhất quyết “không thể như thế”! Văn bản là nơi gặp gỡ giữa một bên là thứ được sáng tạo ra bởi người đọc và bên kia là những sự kết hợp mang tính chất liên văn bản. Văn bản tạo ra những mạng lưới và truyền dẫn đến người đọc. Nó yêu cầu người đọc tham gia trò chơi văn bản. So sánh văn bản với một bản kí âm, Barthes nói rằng chúng phải là một sự cộng tác tồn tại giữa độc giả và văn bản.

Tác giả đã chết, thực tại cũng đã tiêu vong, nhà phê bình giờ đây chỉ có một đích đến duy nhất là văn bản trong mối quan hệ liên văn bản, là đưa văn bản và chính mình vào mênh mông văn bản. Trong tình huống đó, liệu nhà phê bình – những siêu độc giả có còn tính cá nhân, hay chính anh ta cũng đã bị văn bản ngốn nuốt? Viễn cảnh nào dành cho nhà phê bình trong thời đại tác giả đã chết?

Nguồn: Văn nghệ Trẻ số 13 ra ngày 26, 27 – 2011

Leave a Reply