Sứ mệnh của tiểu thuyết trong thời đại cáo chung của văn học


Svetlana Sherlaimova(*)

Nếu tin theo các nhà phê bình, sản phẩm nghệ thuật hiện đại được chia thành văn hoá đại chúng, những ốc đảo nhỏ của chủ nghĩa truyền thống đã già cũ không thể nào cưỡng lại được và chủ nghĩa hậu hiện đại. Đối với phần đông các tác giả, cái sau cùng là câu trả lời tương xứng cho các yêu cầu của thời gian, là sự phản ánh chính bản chất của thời đại chúng ta đang sống qua. Nếu khoảng hai mươi năm trước người ta không ngớt tranh luận về đề tài “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là gì”, thì bây giờ trong tất cả các ấn phẩm có liên quan đến văn học, tại tất cả các hội nghị khoa học, mọi câu chuyện lại xoay quanh chủ nghĩa hậu hiện đại là gì. Trong khi đó văn học và tư tưởng mỹ học vận động lên trước không chỉ theo đường ray của những quan niệm phổ quát được thừa nhận rộng rãi (tính cho đến thời điểm này). Một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý hết sức nghiêm túc trong văn học châu Âu hiện đại, có thể nói một cách chắc chắn, đó là các tiểu thuyết và tiểu luận về tiểu thuyết của Milan Kundera.

Thực tế là tất cả những gì ông viết ra, kể từ những tập thơ đầu tiên xuất bản vào những năm 50, đều thu hút sự chú ý của độc giả và làm dấy lên những cuộc tranh cãi phê bình, mặc dù nhìn chung thơ của ông, cũng như vở kịch Người giữ nguồn nước (1962) từng gây tiếng vang, vẫn nằm trong khuôn khổ những quan niệm vốn có hồi ấy về văn học xã hội chủ nghĩa, còn những xung đột tình yêu từng được coi là mạnh bạo trong tập thơ Độc thoại (1957) đến hôm nay cảm thấy là thường. Nhưng tận trong tính cách và tài năng của Kundera ngay từ đầu đã có tính phi chuẩn mực, tính luận chiến, chúng sẽ được bộc lộ đầy đủ trong văn xuôi và các bài luận lý thuyết của ông.

 Hiện tượng Kundera

Nhà văn không cho phép in lại hiện nay những sách ông viết ra trước tiểu thuyết Chuyện đùa (1967): “Trong số những sách tôi đã viết ra, cái duy nhất tôi coi trọng, đó là các tiểu thuyết”. Ngoài các tiểu thuyết ra, ông còn xếp vào đây “biến thể phóng tác” của mình về đề tài tác phẩm Jacques, anh chàng theo thuyết định mệnh của Diderot dưới dạng vở kịch Jacques và ông chủ. Tưởng nhớ Denis Diderot (1970), tập truyện ngắn Những chuyện tình vui nhộn (1970) và hai tập tiểu luận lý thuyết Nghệ thuật tiểu thuyết (1986), Những di chúc bị phản bội (1993).

Ngay bài phát biểu đầu tiên của Kundera về các vấn đề của lý luận văn học đã gây tiếng vang lớn trong xã hội Czech. Năm 1955 trong bài viết “Quanh những cuộc bàn cãi về di sản” ông đã hăng hái ủng hộ một cách đầy thuyết phục Vitezslav Nezval, người đã  từng tuyên bố sẽ không có thơ thế kỷ XX nếu thiếu Guillaume Apollinaire.

Đó là sự mở đầu vang dội của việc khôi phục lại dòng thơ tiền phong chủ nghĩa mà ở Czech nó đã bị rút phép thông công vì sự toàn thắng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng việc bảo vệ phái tiền phong không phải là đề tài duy nhất trong bài viết của Kundera. Ông khẳng định rằng trong văn học thế giới có chỗ cho mọi khuynh hướng khác nhau. Kundera không đi theo sự phân chia thơ ra thành thơ truyền thống và thơ tiền phong, ông có các tiêu chí phân loại khác. Thứ thơ gần gũi nhất với mình ông gọi là “thơ ca của cuộc sống trần thế”: Rimbaud – Apollinaire – các nhà vị lai Nga – Nezval thời trẻ. Nhưng ông cũng thừa nhận các đại diện của thứ thơ “triết học tư tưởng” mà ông xếp vào đó Mallarmé – Valéry – Rilke – Pasternak – Holland, thừa nhận thứ thơ chính trị bậc cao. Luận điểm chính trong quan niệm của ông là cần phải trên cơ sở những thành tựu đã có tiến tới sự tổng hợp: “… nghệ thuật của chúng ta đang dần dần bước vào một thời đại lịch sử rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển mới”. Sau này Kundera sẽ rút ra kết luận về tác động nguy hại của thứ thơ chính trị đối với xã hội, sẽ có nhận xét tiêu cực về thơ “trữ tình”, sẽ tẩy hẳn khỏi vốn từ của mình khái niệm “chủ nghĩa hiện thực”, nhưng vẫn giữ lại và củng cố cái nhìn bao quát về hệ vấn đề văn học, sự chối bỏ các sơ đồ nghiên cứu văn học thông dụng, khát vọng thường xuyên tìm đến một hình thức mới thu nạp vào mình tất cả những gì tốt nhất đã có.

Vào những năm đó Kundera bắt đầu giảng dạy văn học thế giới ở Viện Hàn Lâm điện ảnh Praha, nơi trong số các thính giả của ông có nhà đạo diễn nổi tiếng sau này Milos Forman. Gắn với hoạt động giảng dạy này là cuốn chuyên luận của Kundera Nghệ thuật tiểu thuyết. Con đường của Vladislav Vanchura đi đến sử thi lớn (1960) thông qua sự đối chiếu cuốn tiểu thuyết cỡ vừa Anh thợ bánh mì Jan Margoul của nhà văn lớn thuộc phái tiền phong Czech với kiểu tiểu thuyết Balzac để nêu lên quá trình tiến triển của thể loại tiểu thuyết – từ phác hoạ chân dung xã hội đến phản ánh con người riêng rẽ.

Trên đất nước Tiệp Khắc dấy lên phong trào đấu tranh vì dân chủ, vì một thứ “chủ nghĩa xã hội mang khuôn mặt người”, phong trào về sau được gọi bằng cái tên ẩn dụ là “mùa xuân Praha”. Kundera trở thành một trong những nhân vật hàng đầu của cánh văn học trong phong trào này, có chân trong ban lãnh đạo Hội nhà văn Tiệp Khắc.

Xã hội Tiệp Khắc xôn xao khi xuất hiện tiểu thuyết Chuyện đùa của Kundera với nội dung đánh giá lại một cách mỉa mai “thời kỳ xây dựng cơ sở của chủ nghĩa xã hội” và bài phát biểu của ông tại đại hội nhà văn lần thứ IV (1967), một đại hội có ý nghĩa trọng đại đáng nhớ trong cao trào của phong trào dân chủ, trong đó ông khẳng định rằng “đầu tiên là sự chiếm đóng, sau đó là chủ nghĩa Stalin” đã hạ thấp văn học Czech xuống mức một thứ “chủ nghĩa tuyên truyền trống rỗng”, rằng sự phồn vinh của dân tộc nhất thiết phải phụ thuộc vào cao trào văn hoá được khởi lên từ những năm 60. Năm 1968 danh tiếng nhà văn bắt đầu lan khắp châu Âu: Chuyện đùa được dịch ra tiếng Pháp với lời của L. Aragon: “Đây là cuốn tiểu thuyết tôi cho là tuyệt vời”, năm 1969 bản dịch tiếng Anh đầu tiên của tác phẩm này xuất hiện, v.v…

Cuộc đổ bộ bằng xe tăng của quân đội Xô viết vào Tiệp Khắc ngày 21 tháng Tám 1968 Kundera xem như một đòn đánh nặng nề chứ không phải là sự thất bại của mùa xuân Praha. Ông cho rằng thành công lớn của dân tộc là trong vòng nửa năm ở Tiệp Khắc Đảng cộng sản đứng đầu là Aleksandr Dubseck vẫn duy trì được sự lãnh đạo như trước, báo chí đối lập tập trung lên án “quân chiếm đóng”, còn các xe tăng Xô viết từ các đường phố và làng mạc bị dồn vào các doanh trại biệt lập. Trong số ra dịp Giáng Sinh của tuần báo Những chiếc lá của Hội nhà văn Tiệp Khắc, Kundera đã viết một bài ca ngợi tinh thần bất khuất của dân tộc Czech: “Có niềm tự hào của những dân tộc huênh hoang với những cuộc hành binh của các Napoleon và Suvorov của mình, nhưng cũng có niềm tự hào của những dân tộc không bao giờ xuất khẩu những Suvorov hung bạo” – và bày tỏ hy vọng vào sự kiên cường của nhân dân Czech có học thức và biết suy nghĩ… Nhà viết kịch trẻ nổi tiếng hồi ấy là Vazlav Havel đã lên tiếng phản đối lại Kundera, ông kêu gọi “đừng sưởi ấm nhau bằng những hồi ức về các thành công trong quá khứ”, đừng bàn luận dài dòng mà hãy bắt tay vào những công việc cụ thể để tổ chức sự phản kháng.

Ý kiến của Havel về những mối hiểm hoạ và sự cần thiết phải đấu tranh khi đó Kundera thấy có vẻ như là một sự phô trương, một thứ chủ nghĩa cấp tiến vô căn cứ, nhưng cuộc trao đổi quan điểm sau đó giữa hai người với nhau, mà những tiếng vọng của nó đến nay vẫn còn có thể nhận thấy trong các tiểu thuyết của Kundera, đã bị gián đoạn do sự thay đổi đột ngột của tình hình đất nước. Tháng Tư 1969 G. Husak lên nắm quyền lãnh đạo Đảng cộng sản Tiệp Khắc và thời kỳ “quy phạm hoá” bắt đầu: siết chặt báo chí, thanh đảng, đàn áp những người khác chính kiến. Kundera bị khai trừ khỏi đảng, mất việc làm, bị cấm in ấn, các sách của ông bị loại ra khỏi thư viện. Các tiểu thuyết mới của nhà văn – Cuộc sống không phải ở nơi đây, và Điệu van giã từ, cũng như những cuốn sau này viết ở nước ngoài Sách cười và lãng quên, Nhẹ kiếp nhân sinh v.v… – thoạt đầu xuất bản qua bản dịch tiếng Pháp, chỉ sau đó mới được in bằng tiếng Czech tại một nhà xuất bản lưu vong ở Toronto.

Trong một lần sang Pháp giảng bài Kundera bị tước quốc tịch Tiệp Khắc, đành phải sống lưu vong. Sau “cuộc cách mạng nhung” năm 1989 ông không trở về nước. “Tháng Mười Một 1989 – ông thú nhận – tôi cảm thấy trào dâng niềm vui sướng khi sự chiếm đóng đã chấm dứt, nhưng đồng thời cũng lại buồn bã: đối với tôi cuộc chuyển biến này diễn ra quá muộn, tôi không còn đủ sức để thay đổi quê hương một lần nữa”.

Cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của ông Chậm rãi (1995) và các sách tiểu luận lý thuyết ông viết bằng tiếng Pháp.

Nhà nghiên cứu người Czech K. Hvatik đã có nhận xét đúng đắn: “Cái chế độ muốn bắt Milan Kundera im tiếng, ngược đời sao, lại đã tặng cho văn học châu Âu một trong những nhà tiểu thuyết lớn nhất thế kỷ XX”. Chúng ta có thể nói thêm: không chỉ cho văn học châu Âu. Các bản dịch tiểu thuyết của Kundera thuộc vào danh mục các sách bán chạy và được trao nhiều giải thưởng uy tín không chỉ ở các nước Tây Âu, mà còn ở Mỹ – ở đấy đã có bốn tập chuyên khảo và một tập bài viết về sáng tác của ông, một bộ phim quay theo cuốn Nhẹ kiếp nhân sinh có tiếng vang lớn (nhà văn cho bộ phim đó không thành công và từ bỏ nó, nhưng hiển nhiên là bộ phim đã góp phần thêm cho danh tiếng của ông). Các sách của Kundera còn được dịch ra tiếng Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và các thứ tiếng châu Á khác.

Tất cả các tiểu thuyết của Kundera đều mang đậm khuynh hướng chống chủ nghĩa toàn trị theo kiểu Stalin, như nó từng tồn tại ở Tiệp Khắc những năm 50, và theo kiểu “quy phạm hoá” của Husak – chúng phê phán gay gắt Liên Xô, chế độ Xô viết và học thuyết xã hội chủ nghĩa. Nhưng tất nhiên không thể lý giải sự thành công của chúng bằng vào quan điểm chính trị như thế, loại quan điểm rất tiêu biểu cho phần lớn tác phẩm của thứ văn học ly khai và lưu vong. Có biết bao tác phẩm “văn xuôi sôi sục” mang tính tố cáo xuất hiện vào những năm 70-80, đến nay đã hoàn toàn bị quên lãng! Các sách của Kundera có nhiều chất khiêu dâm, nhưng đến nay còn ai ngạc nhiên về điều đó? Thực chất là ở chỗ các cuốn tiểu thuyết cô đọng của Kundera, mỗi cuốn đều đáng được phân tích cặn kẽ, mang lại cho độc giả một cái nhìn độc đáo về thế giới hiện đại và vị trí của con người trong đó, một thứ triết học riêng về cuộc sống và các quan hệ liên cá nhân. Trong chúng chủ đề sắc sảo và các tính cách con người sinh động được kết hợp với những suy tư về các đề tài triết học và hiện sinh mang tính toàn cầu, còn những bài tiểu luận lý thuyết của ông được viết bằng một văn phong không kém phần hấp dẫn và đặc sắc so với các tác phẩm nghệ thuật.

Căn cứ vào những bài viết của nhà văn được tập hợp trong hai cuốn Nghệ thuật tiểu thuyếtNhững di chúc bị phản bội, vào các cuộc phỏng vấn của ông, vào những lời ông bình chú các tác phẩm của mình và những suy nghĩ của tác giả gài đặt trong các văn bản tiểu thuyết, có thể nói về một lý thuyết tiểu thuyết độc đáo như là một tiếng nói mới trong sự phát triển của tư tưởng mỹ học hiện đại.

Về tiểu thuyết châu Âu

Tiểu thuyết đối với Kundera – đó là tiểu thuyết châu Âu, ở đây thuật ngữ “châu Âu”, cũng như ở Husserl, mang nội dung tinh thần chứ không phải địa lý, nó chỉ sự thuộc về một kiểu văn minh nhất định. Lịch sử tiểu thuyết này ông dẫn từ Cervantes, đến Diderot mà ông đặc biệt kính trọng, Balzac, Flaubert, Tolstoi, Joyce, còn trong thế kỷ XX ông tách riêng ra “truyền thống Tây Âu” được đại diện bởi những tên tuổi Kafka, Hasek, Broch, Musil, Hombrovich. Hạt nhân quan niệm này là ở chỗ Kundera xem tiểu thuyết không phải như một trong các thể loại văn học giữa các thể loại khác, mà như một kiểu phương pháp phức hợp nhận thức cuộc sống đưa lại những kết quả đáng tin cậy hơn các nghiên cứu khoa học, có khả năng vượt lên trước chúng: “Tiểu thuyết biết đến tiềm thức sớm hơn Freud, biết đến đấu tranh giai cấp sớm hơn Marx, nghiên cứu hiện tượng học sớm hơn các nhà hiện tượng học”.

Khái quát kinh nghiệm tích cực của các nhà văn kể trên, cũng như của T. Mann, E. Hemingway và một số người khác, khước từ kinh nghiệm tiêu cực của sự phát triển văn học trong hoàn cảnh độc tài tư tưởng nghiệt ngã, cũng như tiếp tục suy xét những bài học từ sáng tác của chính mình, Kundera nêu lên những yêu cầu mà tiểu thuyết cần phải đáp ứng để có khả năng hoàn thành được sứ mệnh cao cả của mình. Tiểu thuyết, theo Kundera, thể hiện trong mình “tinh thần của phức tạp”, “hiền minh của hoài nghi”, nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi, nó nghiên cứu “không phải hiện thực mà hiện sinh”, nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con người. Kundera không thể thoả mãn với quan niệm về tiểu thuyết như về sự phản ánh hiện thực, đối với ông đó trước hết là “sự tổng hợp trí tuệ lớn”, tự do thu nhận vào mình những suy tư về bất kỳ đề tài nào: “Không cái gì có thể đưa ra suy luận mà lại bị loại ra khỏi nghệ thuật tiểu thuyết”. Đó không phải là những đoạn tiểu luận ngoại đề, mà là tư tưởng tiểu thuyết mang tính động lực chung bao trùm tất cả, nó gần gũi với tư tưởng triết học thực nghiệm của Nietzsche: “Nếu như tôi là người ủng hộ sự có mặt trí tuệ trong tiểu thuyết, điều đó không có nghĩa là tôi thiện cảm với cái gọi là tiểu thuyết triết học, trong đó tiểu thuyết theo đúng nghĩa của nó bị phụ thuộc vào triết học, tự sự – phụ thuộc vào các tư tưởng chính trị và đạo đức. Tư tưởng tiểu thuyết đích thực (tiểu thuyết sau Rabelaire đã biết đến nó) bao giờ cũng mang tính phi hệ thống, vô kỷ luật, nó giống như tư tưởng của Nietzsche mang tính thực nghiệm, tất cả các hệ thống tư tưởng hiện có đều thông tiếp được với nó, nó nghiên cứu (thông qua trung gian các nhân vật) tất cả các cách thức tư duy khi cố đi đến tận cốt lõi mỗi cách thức đó”.

Thông qua trung gian các nhân vật” nghĩa là gì? Câu trả lời cho câu hỏi này – cả trên cấp độ thực tiễn nghệ thuật, cả trên cấp độ công thức – có thể tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Kundera Nhẹ kiếp nhân sinh. Tiền đề triết học xuất phát điểm của nó được biểu hiện bằng câu cách ngôn: “Einmal ist Keinmal” (“Một lần – đó không phải là một lần”, tiếng Đức), bởi vì cuộc sống con người là duy nhất và không lặp lại. “Đời người diễn ra chỉ một lần, vì thế chúng ta không bao giờ có thể xác định được trong các quyết định của chúng ta cái nào đúng, cái nào sai. Trong hoàn cảnh đó chúng ta chỉ có thể quyết định được một lần duy nhất, và chúng ta không còn có cuộc đời thứ hai, thứ ba, thứ tư để mà có khả năng đối chiếu các quyết định đã đưa ra”. Khả năng như thế không đơn giản mà tính được. Nhưng cuốn tiểu thuyết, mà nhân vật trong đó là một dạng “cái tôi thực nghiệm” của tác giả, dường như cho thấy nhãn tiền kết quả của những quyết định đã đưa ra. “Các nhân vật cuốn tiểu thuyết của tôi – đó là những khả năng riêng của tôi mà không thực hiện được. Vì thế tôi yêu mến tất cả chúng như nhau và cũng kinh sợ tất cả chúng như nhau, mỗi cái trong số đó đã bước qua giới hạn mà bản thân tôi chỉ dám đi vòng qua. Chính cái giới hạn phạm tội này (giới hạn mà đằng sau đó cái tôi của tôi kết thúc) đã lôi cuốn tôi. Chỉ ở phía sau nó mới bắt đầu những sự bí ẩn mà tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết – không phải là một thứ tôn giáo của tác giả, mà là sự nghiên cứu cuộc sống trong cái cạm bẫy do thế giới biến thành”. Lời thú nhận này nhà văn có thể lặp lại cho mỗi cuốn tiểu thuyết của mình.

Điều làm Kundera băn khoăn là độc giả hiện đại thích đọc các sách viết về những chuyện đồn đại trong cuộc đời các nhà văn nổi tiếng, chứ không phải là các tác phẩm của họ. Theo ý ông, trong tiểu thuyết – “thứ văn xuôi tổng hợp lớn dựa trên trò chơi với các nhân vật hư cấu” – tác giả, khi đưa ra những đòi hỏi, những quyết định có thể hay không thể của mình để thử thách các nhân vật đó, tỏ ra tự do và cởi mở hơn rất nhiều so với qua thư từ, nhật ký, hồi ức. “Trò chơi với các nhân vật hư cấu” không nhằm mục đích đạt đến sự giống như thật, nhưng cũng không mâu thuẫn với những sự tìm kiếm chân lý, ngược lại, nó kết hợp với những suy ngẫm tạo thành cơ sở của sự nghiên cứu tiểu thuyết đối với cuộc sống.

Cách thức suy luận theo lối tiểu thuyết đòi hỏi sự tiếp nhận theo lối tiểu thuyết từ phía độc giả. “Chỉ có một cách hiểu các tiểu thuyết của Kafka. Đọc chúng như các tiểu thuyết. Đừng tìm cách xem nhân vật K. là chân dung của tác giả, còn những lời của K. là bức thông điệp bí mật được mã hoá, mà hãy chăm chú dõi theo hành vi của các nhân vật, các ý đồ và tư tưởng của chúng, cố hình dung tất cả mọi việc như đang diễn ra trước mắt anh”.

Cái cười ác quỷ và thiên thần

Kundera dành một vai trò hết sức quan trọng cho sự mỉa mai khi ông đối lập cái cười “ác quỷ” mang tính tra vấn, khiêu khích và do đó đưa tới nhận thức, với cái cười “thiên thần” mang tính phụ hoạ, tán dương, dẫn đến sự cảm nhận sai lệch về thế giới. Vốn là người bắt đầu văn nghiệp của mình như nhà thơ của thời xã hội chủ nghĩa, bây giờ ông hết sức phê phán lối “trữ tình”, coi đó như sự thể hiện của “cái cười thiên thần” khác biệt với lối sử thi mỉa mai mà sự chế nhạo “ác quỷ” của nó không cho phép các chân lý đã được tìm ra bị trôi vào quên lãng. Trong tiểu thuyết Cuộc sống không phải ở nơi đây ông nhạo báng cái cách cảm thụ trữ tình đối với thế giới như là một lối thích nghi điên rồ, cùng chung một duộc với các trại tập trung khổ sai (Gulag). Nói về Tiệp Khắc trong khoảng giao thời giữa hai thập niên 40 và 50, khi diễn ra những vụ án đẫm máu chống lại “kẻ thù của nhân dân” nhưng đồng thời cũng có vô số tập thơ dở đầy hồ hởi lạc quan được xuất bản và có tiếng vang, ông viết trong tác phẩm trên: “Bức tường mà phía sau đó những người bị bắt phải chịu cực hình được xây bằng những câu thơ, quanh bức tường đó người ta nhảy múa”. Còn trong sách Những di chúc bị phản bội ông khẳng định: “Đối với cuộc cách mạng Nga thiên tài của Maiakovski cũng tối cần thiết như cảnh sát của Zerginski”.

Trong tiểu thuyết của Kundera có nhiều khiêu dâm. Một số nhà điểm sách có xu hướng cho đó là sự chiều theo thị hiếu của độc giả đại chúng. Còn bản thân tác giả thì nhất quyết cho rằng khiêu dâm là một thành phần tất yếu của sự suy xét triết học đối với thế giới. K. Hvatik, nhà nghiên cứu tinh tế đã nói ở trên, chuyên gia về Kundera, đồng ý với cách đặt vấn đề như vậy, ông viết về cuốn Nhẹ kiếp nhân sinh: “Đề tài tình yêu trong tiểu thuyết của Kundera trở thành tấm gương phê phán thời đại cuối thế kỷ, thời đại của sự hoài nghi và sự lừa dối tập thể, của sự thao túng con người và tư tưởng”.

Kundera xác lập các yêu cầu đối với các hình thức mới trong nghệ thuật như sau: “1) vứt bỏ triệt để tất cả những cái gì không quan trọng để nắm bắt lấy sự phức tạp của hiện sinh trong thế giới hiện đại, mà vẫn không làm mất đi sự rõ ràng của thuật kiến trúc; 2) sự đối âm tiểu thuyết” – để thống nhất triết học, tự sự và tưởng tượng thành một dòng chảy âm nhạc duy nhất; 3) lối tiểu luận đặc thù của tiểu thuyếtnói cách khác: thay vì nêu lên những câu châm ngôn mang tính tất yếu, hãy nói những lời giả định, vui nhộn hoặc mỉa mai”. Theo niềm tin chắc của ông, tiểu thuyết kiểu mới hầu như sẽ tự động mang theo mình vấn đề phức điệu. Ông nhấn đi nhấn lại bản chất tra vấn của tiểu thuyết, khả năng hoài nghi tất cả của nó. Chính dựa vào đó, theo Kundera, nhà tiểu thuyết mới có khả năng tiến sát đến việc khám phá ra điều bí ẩn duy nhất mà hắn phải quan tâm, – “điều bí ẩn của hiện sinh mà chỉ hắn và nghệ thuật tiểu thuyết của hắn mới khám phá ra được”.

Sự trùng hợp một số điểm trong các quan niệm của Kundera với lý thuyết của Bakhtin đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra, nhưng tôi không dám quả quyết nói thẳng về ảnh hưởng của nhà bác học Nga. Đây có thể là sự trùng hợp thuần tuý “loại hình”: bởi Kundera trong các cấu trúc lý thuyết tiểu thuyết của mình, khác với Bakhtin, dựa phần nhiều vào các quan điểm mỹ học của các nhạc sĩ tiền phong chủ nghĩa thế kỷ XX. Kundera thường nhắc đi nhắc lại rằng ông viết về tiểu thuyết với tư cách nhà thực hành chứ không phải nhà lý thuyết. Điều quan trọng đối với ông là xác định vị trí của mình trong hàng ngũ các nhà tiểu thuyết, chứ không phải các nhà lý thuyết. Theo ý tôi đóng vai trò lớn ở đây là sự ác cảm của nhà văn đối với lối làm ra vẻ hàn lâm khoa học, với những trò tập luyện ngôn từ trừu tượng quanh các đề tài văn học, tách khỏi quá trình phát triển sống động của nó.

Trong sách Những di chúc bị phản bội Kundera kể một câu chuyện theo quan điểm của ông là buồn cười, nhưng lại có ý nghĩa tiêu biểu đối với tình trạng hiện thời của tư tưởng phê bình văn học, chuyện đó xảy ra do đọc không đúng một tình tiết trong cuốn tiểu thuyết Sách cười và lãng quên: “Sau Joyce chúng ta đã biết rằng sự phiêu lưu lớn nhất trong cuộc sống chúng ta đó là không có sự phiêu lưu nào cả… Chàng Odysée của Homer đã chuyển chỗ vào bên trong con người”. Các nhà phê bình coi câu nói đó là tín điều của Kundera, thán phục sự quan sát tinh tế và sâu sắc của ông. Bản thân Kundera đã gọi bài nói của một giáo sư là “sự triết lý hão đần độn” và viết thêm: “Vào những năm bảy mươi tôi thường nghe thấy quanh mình trò ba hoa hỗn hợp đó, nó được may lại từ những đoạn cắt của cấu trúc luận và tâm phân học”. Cũng do những nguyên nhân đó nên Kundera không hào hứng gì với những cuộc tranh luận về chủ nghĩa hậu hiện đại. Nhà văn kiên quyết chống lại việc liệt ông vào hàng các nhà hậu hiện đại, mặc dù trong các tác phẩm của ông thực tế có thể dễ dàng nhận thấy tất cả các thủ pháp gắn với thuật ngữ này.

Tiểu thuyết học

Khi xây dựng quan niệm tiểu thuyết của mình, Kundera không quan tâm đến các sơ đồ nghiên cứu văn học đã được thừa nhận. Ông rất thản nhiên đối chiếu, chẳng hạn, Vụ án của Kafka và Chiến tranh và hoà bình của Tolstoi, cả hai cuốn đối với ông hoàn toàn không phải thể hiện sự đối lập “chủ nghĩa hiện thực – chủ nghĩa hiện đại”, mà là đều thuộc về nghệ thuật tiểu thuyết bậc cao. Kundera chứng minh rằng mỗi một cuốn đó đã khám phá theo cách của mình những tính quy luật toàn cầu của sự sinh tồn của con người và cả hai cuốn đều có cảm giác thơ ca cố hữu. Chúng ta cần lưu ý rằng khái niệm “thơ ca” ở đây không phải là một định nghĩa thể loại, không có gì chung với loại “trữ tình” mà ông đã nhắc đến và bác bỏ ở trên – nó tương quan với các khái niệm “tính thơ” và “vẻ đẹp”. Kundera viết rằng “không thể đi xa hơn Kafka trong Vụ án, nơi ông đã sáng tạo nên hình tượng đặc biệt có tính thơ về một thế giới không hề thơ mộng chút nào”. Và tiếp: “… những ô cửa sổ mở ra trong cuốn tiểu thuyết của Kafka trông ra phong cảnh của Tolstoi, ra cái thế giới mà ngay cả vào những thời khắc khủng khiếp nhất các nhân vật vẫn giữ được quyền tự do quyết định, nhờ đó mang lại cho cuộc sống niềm vui bất ngờ – cái tạo nên nguồn thơ”.

Kundera đối lập các tiểu thuyết của Kafka và Tolstoi với các tác phẩm của Dostoievski và Orwell, nơi cái vượt trội không phải là thơ ca mà là hệ tư tưởng. Theo ý ông “bản sắc các nhân vật của Dostoievski là nằm ở hệ tư tưởng cá nhân của chúng, hệ tư tưởng này trực tiếp hay gián tiếp quy định trước hành vi của chúng… nhưng trong đời thực liệu con người có phải là sự phóng chiếu của hệ tư tưởng của mình không?”. Ông càng thấy khó chấp nhận hơn nữa các tiểu thuyết của Orwell khẳng định những tư tưởng đã được biết đến từ trước. Trong Nghệ thuật tiểu thuyết ông viết: “Cái Orwell nói với chúng ta thì cũng có thể nói được như thế (thậm chí còn hay hơn nhiều) qua tiểu luận hay văn đả kích”. Trong Những di chúc bị phản bội ông khẳng định rằng “sự tiến bộ chính trị” không thể biện hộ cho sự định kiến tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật. Về tiểu thuyết 1984 ông viết: “Tác động tiêu cực của cuốn tiểu thuyết này là ở chỗ rút gọn quá đáng hiện thực chỉ về phương diện chính trị của nó, còn bản thân phương diện này thì lại bị rút gọn chỉ về nội dung phủ định của nó. Tôi bác bỏ lối biện hộ cho loại sản phẩm như thế bằng cách cho rằng nó có thể có ích về mặt tuyên truyền trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa toàn trị xấu xa… Cuốn tiểu thuyết của Orwell, bất chấp ý đồ của ông ta, tự nó đã biến thành cái mang tinh thần chủ nghĩa toàn trị, tinh thần tuyên truyền”.

Đến đây chúng ta đã đi sát gần tới luận điểm nền tảng trong lý thuyết tiểu thuyết của Kundera thể hiện ở sự đối lập dứt khoát với tính định sẵn về chính trị và tư tưởng của nghệ thuật thông qua các quan niệm mỹ học chính thống của thời đại xã hội chủ nghĩa và thu nhận vào mình kinh nghiệm đã được suy xét về sự tham gia của cá nhân ông vào các cuộc tranh luận và xung đột chính trị, kinh nghiệm về những đam mê, hy vọng dân chủ và những đổ vỡ cay đắng mà ông đã trải: thoạt đầu là vào khả năng cải cách chủ nghĩa xã hội, sau đó là vào bản thân hệ tư tưởng. Ông đi đến kết luận rằng nhà tiểu thuyết không nên gắn mình với bất kỳ một học thuyết nào dù là về chính trị, tư tưởng, tôn giáo hay thậm chí đạo đức. “Chính kiến là gì? – ông suy luận – Đó là tư tưởng đã bị dừng lại, bị đông cứng, người có chính kiến đó là con người bị giới hạn. Tư tưởng thực nghiệm (mà tiểu thuyết cần phải xây lên trên đó – S.Sh) không nhằm thuyết phục, mà nhằm gây hứng, đánh thức sự phát triển của tư tưởng khác, làm cho tư tưởng đó chuyển động: nhà tiểu thuyết chỉ đơn giản có bổn phận phi hệ thống hoá một cách hệ thống tư tưởng của mình, phá đổ những rào cản mà bản thân hắn dựng lên quanh TƯ TƯỞNG của mình”. Mệnh lệnh tư tưởng tất yếu sẽ dẫn đến cái chết của tiểu thuyết, điều này, theo ý Kundera, đã xảy ra ở Liên Xô thời kỳ Stalin, nơi chỉ có thể xuất hiện “những cuốn tiểu thuyết sau sự chấm dứt lịch sử của tiểu thuyết”.

Trong một cuộc phỏng vấn người ta hỏi Kundera: “Ngài là người cộng sản, thưa ngài Kundera? – Không, tôi là nhà tiểu thuyết. – Ngài là phần tử ly khai? – Không, tôi là nhà tiểu thuyết. – Ngài là tả hay hữu? – Tôi chẳng tả mà cũng chẳng hữu. Tôi là nhà tiểu thuyết”.

Danh xưng “nhà tiểu thuyết”, theo Kundera, cần phải biểu đạt một mức độ đặc biệt của sự tự do, sự khách quan và sự vô can. “Xa lánh các chuẩn mực đạo đức – ông quan niệm – đó không phải là sự vô đạo đức của tiểu thuyết, mà là đạo đức của nó”. Có thể phản đối rằng sự khách quan tuyệt đối mà tác giả Nghệ thuật tiểu thuyết nêu lên nói chung là không tồn tại. Có thể bằng cách phân tích các tiểu thuyết của ông chứng minh rằng bản thân ông cũng không đủ khả năng, như chính ông đã tuyên bố, yêu tất cả các nhân vật như nhau, rằng hiển nhiên là ông cũng tìm cách thuyết phục độc giả về một cái gì đó… Có lẽ, các công thức ông đưa ra quá mang tính cực đoan, nhưng chúng thấm đẫm niềm tin vào sức mạnh của nghệ thuật, vào việc văn học cho đến hiện nay vẫn có thể mang lại rất nhiều cho con người. Theo Kundera, cuốn tiểu thuyết có tính tra vấn, mỉa mai, thoát khỏi thiên kiến tư tưởng có thể giúp định hướng trong cái thế giới hiện nay của những sự thật bị bóp méo và những tình cảm bị trương phình. Nếu như trữ tình với cảm hứng thiếu suy nghĩ chỉ làm cho tư tưởng bị tê liệt đi, thì tiểu thuyết bằng “sự hiền minh của hoài nghi” sẽ đánh thức tư tưởng dậy, giúp hiểu ra sự phức tạp khôn cùng của cuộc sống.

D. Godrova gọi quan niệm của Kundera là “tiểu thuyết học”. Quả thực, ông gán cho tiểu thuyết những khả năng hầu như vô hạn. Nhưng chúng ta đừng nên quên rằng đây là quan niệm không phải của nhà lý thuyết, mà của nhà thực hành “công việc tiểu thuyết”. Cố nhiên chẳng nên tin vào những lời thuyết phục được nhắc lại nhiều lần rằng dường như ông không hề có ý lập thuyết ở đây. Nếu thế thì ông cứ cho ra hết cuốn này đến cuốn khác về lý thuyết tiểu thuyết để làm gì! Nhưng có một điều khác quan trọng hơn: khi thừa nhận cho tiểu thuyết những khả năng hết sức rộng lớn nhận thức “hiện sinh”, khi khẳng định rằng trong tình trạng khủng hoảng hiện nay của các hệ thống tư tưởng và triết học, cũng như của tất cả các khoa học nhân văn, tiểu thuyết vẫn còn cần thiết hơn bao giờ trước đây, như vậy là Kundera với tư cách nhà thực hành, nhà tiểu thuyết đã nhận về mình những bổn phận hết sức cao cả. Thật vậy, ông có trách nhiệm rất cao đối với các văn bản tiểu thuyết của mình, không chỉ về đề tài, nhân vật, cốt truyện, mà cả về hình thức cũng vậy. Ông sửa chữa rất kỹ lưỡng cấu trúc, sự tương thông giữa các phần các chương, vứt bỏ tất cả những cái không quan trọng, vươn tới sự chính xác của từng câu. Mặc dù ông không thú nhận điều này, nhưng theo tôi cảm thấy, ông lắng nghe nhận xét của các nhà phê bình, chăm chú theo dõi các bản dịch tác phẩm của mình và trong những trường hợp nếu có thể được về mặt ngôn ngữ, ông dò soát lại gần như từng từ. Trong Nghệ thuật tiểu thuyết ông đưa hẳn vào cả một từ điển những khái niệm ông hay dùng nhất (chương “Sáu mươi ba từ”), giải thích tỉ mỉ ý nghĩa của chúng để các dịch giả không hiểu sai và không chọn những từ đồng nghĩa thiếu chính xác với cớ là “cho đẹp âm tiết”. Lẽ dĩ nhiên, có thể nhận ra giữa Kundera-nhà lý thuyết và Kundera-nhà thực hành có những mâu thuẫn, nhưng sự phụ thuộc làm phong phú lẫn nhau giữa hai lĩnh vực hoạt động này của ông là điều hoàn toàn rõ ràng.

Cách giải thích của Kundera về lịch sử tiểu thuyết và vai trò của nó trong thế giới hiện đại có nhiều điều gợi lên ý muốn tranh luận. Đã có nhiều người lên tiếng phản đối, trong đó có Iosif Brodski, sự đánh giá tiêu cực của ông đối với sáng tác của Dostoievski. Cũng không thể chấp nhận thái độ phủ định một chiều của ông đối với “trữ tình”, mặc dù ông đã nắm bắt rất tinh tế cái xu hướng tiêu biểu của các chế độ toàn trị là dựa vào sự cảm thụ thế giới một cách nồng nàn hời hợt. Nói cho đúng ra thì bản thân Kundera đã nhiều lần có nhận xét tốt về các nhà thơ cụ thể; chẳng hạn ông lấy làm kinh ngạc trước việc những kẻ hiện nay lật đổ Maiakovski lại quên mất thơ trữ tình tình yêu và “những ẩn dụ khó tưởng tượng nổi” của ông ta. Kundera tin tưởng sâu sắc rằng loại tiểu thuyết mang tính tra vấn, hoài nghi là thù nghịch hữu cơ với chủ nghĩa toàn trị, thứ chủ nghĩa này không cần gì đến việc nghiên cứu các vấn đề của cuộc sống, mà chỉ cần sự tuyên truyền cho những “lời giải” đã soạn sẵn. Nhưng liệu có thể trên cơ sở này nói về cái chết của tiểu thuyết được chăng? Không phải tất cả các nhà tiểu thuyết đều chịu làm cái “bàn là tư tưởng” (chữ dùng của Solzhenitsyn). Ngay cả vào thời kỳ toàn trị vẫn xuất hiện những tác phẩm của thứ nghệ thuật cao, thậm chí nếu như chúng không phải bao giờ cũng đến được ngay với độc giả. Một thí dụ điển hình – cuốn tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita của M. Bulgakov được hoàn thành trong những ngày ảm đạm nhất dưới thời Stalin, chẳng hiểu sao cuốn này lại lọt khỏi mắt Kundera. Cũng như ở Tiệp Khắc thời “quy phạm hoá” của Husak vẫn có những tiểu thuyết xuất sắc được viết ra, thí dụ Anh chàng người Czech mê ngủ của L. Vatsulick hay Tôi đã phục vụ hoàng đế Anh quốc như thế nào của B. Hrabal, đấy là chưa nói đến các sách của chính Kundera.

Dành hẳn mấy chương trong các sách viết về tiểu thuyết để nói về âm nhạc (Ngẫu hứng, tưởng niệm Stravinski, Người chán ngấy trong gia đình mình – về di sản của Janasek), Kundera đã hào hứng mô tả thi pháp các tác phẩm của mình bằng các thuật ngữ âm nhạc, dùng chúng để xác định nhịp điệu, thanh điệu, trường độ của các phần riêng biệt. Ông thích cấu trúc kiểu “xônát”, thích “chiến lược biến tấu kiểu Beethoven”. Tiểu thuyết trong quan niệm của ông là sự thống nhất các biến tấu về một đề tài (trong tiểu thuyết, như ông từng nhấn mạnh, chính đề tài là đặc biệt quan trọng), ông cho số bảy là con số ma thuật tổ chức nên sự hài hoà. Vốn từ nhỏ đã đắm mình trong thế giới âm nhạc (ông là con trai của một nhạc công piano và giáo viên dạy nhạc, lại đã từng học cách soạn nhạc) nên đối với ông tất cả những cái đó đều chất đầy ý nghĩa, đều hiện diện khi tạo ra tác phẩm như một “mệnh lệnh âm nhạc”. Tuy nhiên những “nút buộc” âm nhạc thẳng băng này đôi khi có vẻ là sự tìm tòi cố ý, mặc dù không thể không thừa nhận rằng bản thân sự có mặt của thế giới âm nhạc trong các sách về tiểu thuyết đã đưa lại cho chúng “dung lượng văn hoá học”.

Là người cho đến tận gần đây vẫn viết bằng tiếng Czech, đối với công chúng quốc tế vẫn còn bị coi là người “xứ lạ”, nên Kundera rất quan tâm đến việc dịch. Chẳng hạn ông đã có riêng một bài viết phân tích việc dịch một câu của Kafka ra các thứ tiếng khác nhau. Nhưng ngay bài viết đó cũng không hẳn nói về việc dịch, mà là nói về đặc thù của nghệ thuật tiểu thuyết. Kundera khuyên: phải đọc các tiểu thuyết thật chậm rãi, chăm chú; thật ra liền đó ông cũng nói ngay rằng khó mà tìm được một người nào trên đời đọc sách lại không nhảy cóc từng trang. Nhưng thực chất là ở chỗ cần phải viết ra những cuốn tiểu thuyết đáng để đọc chậm.

Tiểu thuyết, theo Kundera, đó là “nghệ thuật mang tính châu Âu nhất trong tất cả các nghệ thuật”, nếu – xin nhắc lại – hiểu châu Âu ở đây “không phải như lãnh thổ, mà như văn hoá”. Nó có những phẩm chất “siêu cá nhân”, và “các tiểu thuyết vĩ đại bao giờ cũng mang nhiều tính trí tuệ hơn các tác giả của chúng”, còn hình thức trong nghệ thuật “đó bao giờ cũng lớn hơn chỉ là hình thức”.

  *

Xa lánh chính trị và hệ tư tưởng, Kundera thực chất tin tưởng vào thiên chức xã hội, nhân văn cao cả của nghệ thuật tiểu thuyết. Khi đưa lại cho con người sự nhận thức phù hợp nhất về ý nghĩa của sinh tồn, nó đối lập lại với các phương tiện thông tin đại chúng, những cái không để cho con người được đối diện với chính mình, tước mất của con người ký ức lịch sử, đè nén cá tính của con người: “Cuộc sống thường xuyên bị ngốn nuốt bởi các sức mạnh thoái hoá”, và công việc của nhà văn đó là những nỗ lực Đông Ky Sốt bảo vệ con người khỏi sự thoái hoá, là khát vọng tạo ra một thế giới tưởng tượng nhỏ bé có sự tươi mới của một câu hỏi bất ngờ”. Vào một thời kỳ khủng hoảng, bất lợi cho nghệ thuật như hiện nay, Kundera – với tất cả sức mạnh lôgích, tầm học vấn rộng lớn và tài năng văn chương – kiên trì tư tưởng về vai trò đang tăng lên của văn học: “Nếu quả thật những biến cố lớn lao đang tới gần, tôi không biết có gì cần thiết cấp bách hơn việc kéo dài cuộc sống của văn học và sự độc lập hoàn toàn của nó. Trong trường hợp ngược lại chúng ta sẽ bị nghiến nát bởi cỗ máy của sự tầm thường về chính trị và tư tưởng, cỗ máy này vào những thời kỳ biến cố lớn laothường quay nhanh đáng sợ”.

Lý thuyết tiểu thuyết của Kundera, tương ứng với những sự yêu thích của ông, không nhằm đưa ra lời đáp, mà là đặt câu hỏi. Được trình bày với độc giả theo lối châm ngôn mỉa mai, nó buộc phải hoài nghi cái đã được chấp nhận rộng rãi, nó khiêu khích, nó gợi mở tư tưởng. Không bắt buộc, mà cũng không thể đồng ý với ông về tất cả các vấn đề, còn niềm tin của ông vào sứ mệnh cứu vớt của tiểu thuyết có thể ai đó sẽ coi là quá ảo tưởng. Nhưng biết đâu ông lại đúng ở điều chính yếu thì sao?

                                                                NGÂN XUYÊN dịch

                                               từ nguyên bản tiếng Nga, báo “Điểm sách”, phụ trương của “Báo độc lập”, 21. 08. 1997.

* TS ngữ văn – Viện Slavơ học và Bancăng học, Viện Hàn lâm khoa học Nga.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 6 – 2005. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply