Sự phát triển và đổi mới của văn học xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc


Trần Truyền Tài(*)

Thách thức và lựa chọn là hai phương diện mà trong thời đại mới – thời đại của công cuộc cải cách mở cửa, văn học xã hội chủ nghĩa phải đối mặt.

Sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc sẽ đem lại nhiều thách thức cho văn học. Những biến đổi của xã hội trong thời kì mới đã đem lại biến đổi một cách toàn diện và sâu sắc về mọi mặt trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá… Song song với sự biến đổi này, các quan niệm về giá trị, ý thức thẩm mĩ, tâm lí thẩm mĩ, nhu cầu thẩm mĩ của con người cũng đều có những biến đổi sâu sắc. Những thay đổi này chính là bài toán mà cuộc sống thời đại đưa ra và bản thân văn học phải đối mặt với nó. Văn học trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc muốn phát triển, đương nhiên không thể chia cắt sự liện hệ giữa nó với giai đoạn phát triển đã qua, đồng thời cũng cần phải kế thừa truyền thống và kinh nghiệm phát triển của quá khứ. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, văn học không thể đi theo quỹ đạo phát triển của quá khứ, không thể chịu sự bó buộc của những quan niệm văn học cũ, đặc biệt là phải vứt bỏ những thứ cực tả, cứng nhắc, nguy hại đến sinh mệnh của văn học. Văn học phải thích ứng được với những biến đổi phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời tìm ra cho mình con đường để phát triển.

Điều này cần phải giải quyết hai vấn đề: một là phải dùng một phương thức độc đáo để thâm nhập vào cuộc sống thời đại, nắm bắt cuộc sống thời đại và ảnh hưởng tới cuộc sống thời đại. Từ trước đến nay chúng ta đều cho rằng, hoạt động văn học không thể hoàn toàn tách rời khỏi cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân và văn học của xã hội chủ nghĩa trước kia đã có nhiều truyền thống tốt đẹp ở phương diện này. Tuy nhiên, sự biến đổi của xã hội ngày nay phức tạp hơn nhiều so với những năm tháng chiến tranh chỉ đơn thuần tập trung vào đấu tranh giai cấp. Ở đây có sự mâu thuẫn và xung đột giữa các quan niệm mới và cũ, có các mối quan hệ xã hội đan chéo vào nhau rất phức tạp, có các xung đột trong nội tâm của tự bản thân mỗi người… Chính vì vậy, nếu văn học giống như trước đây chỉ xuất phát từ một góc độ, chỉ tập trung phản ánh và miêu tả vẻ bên ngoài các hiện tượng của cuộc sống, chỉ dùng một thước đo giá trị để ca tụng một cách đơn giản sự vật mới hoặc phê phán, vạch trần các hiện tượng tiêu cực là hoàn toàn chưa đủ. Chúng ta cần phải phản ánh một cách toàn diện các vấn đề của cuộc sống, cần có một góc nhìn đa nguyên, xuất phát từ nhiều góc độ để quan sát, nhìn thấu đáo sự vật, cần phải có hệ thống giá trị đa nguyên để tham chiếu, từ đó mới có thể tiến hành đánh giá, phê bình những giá trị thẩm mĩ của cuộc sống.

Hai là, phải làm cho văn học có những đặc điểm phù hợp với đặc điểm của thời đại ngày nay, phải có những giá trị thẩm mĩ và đặc tính thẩm mĩ thích ứng với nhu cầu thẩm mĩ của công chúng. Những năm trước đây, do trình độ và yêu cầu thưởng thức thẩm mĩ của công chúng còn tương đối thấp, cộng với những cuộc đấu tranh cấp bách đã khiến nhà văn không thể đặt yêu cầu về giá trị nghệ thuật lên hàng đầu, chính vì vậy các tác phẩm hồi đó còn tương đối thô sơ là đều dễ hiểu. Tuy nhiên, trong điều kiện thời đại hiện nay, công chúng hoàn toàn có lí do để yêu cầu văn học có những giá trị thẩm mĩ cao và đặc tính thẩm mĩ phong phú.

Tóm lại, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc đã yêu cầu văn học phải tìm ra một điểm gắn phù hợp với cuộc sống thời đại, khôi phục và phát triển đặc tính thẩm mĩ, nâng cao giá trị thẩm mĩ của mình để thay đổi diện mạo bằng phẳng, cứng nhắc trước kia, xây dựng cho mình một hình tượng hoàn toàn mới.

  Ngoài ra, văn học của Trung Quốc ngày nay còn chịu nhiều thách thức của văn học thế giới (chủ yếu là văn học chủ nghĩa hiện đại của phương Tây). Một thời kì dài bế quan toả cảng, cách li với bên ngoài đã khiến Trung Quốc gần như không hiểu gì về thế giới bên ngoài, đặc biệt là thế giới của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Không có so sánh, không có cạnh tranh, không có thử thách và tất nhiên là sẽ không có sự phát triển tích cực. Sau khi cánh cửa của cuộc cải cách mở cửa được mở ra, đã giúp Trung Quốc phát hiện lại thế giới, nhìn thấy được khoảng cách giữa mình và người. Văn minh vật chất của phương Tây đã làm chấn động, rung chuyển nền văn minh truyền thống lâu đời của Trung Quốc và đưa ra những thách thức cho một Trung Quốc lạc hậu. Không thể phủ nhận rằng, trong cuộc sống khép mình, tách rời mình với thế giới bên ngoài trước kia, tầm nhìn của chúng ta đã thật sự bó hẹp, cảm giác nghệ thuật của chúng ta quá chậm ì, đôi cánh tưởng tượng nghệ thuật của chúng ta đã trở nên xơ cứng, hình thái phát triển văn học của chúng ta gần như chỉ có một mô thức. Các kiểu loại văn học của phương Tây đột nhiên xông vào đã khiến cho chúng ta bất ngờ đến hoa mắt. Chúng ta bắt đầu nhận thức được rằng, khoảng cách giữa văn học đương đại của Trung Quốc với trào lưu văn học thế giới là vô cùng lớn, vô cùng khác biệt, ý thức thẩm mĩ dân tộc truyền thống của Trung Quốc và ý thức thẩm mĩ của văn học đương đại thế giới đã có những xung đột gay gắt, đến nỗi mà văn học Trung Quốc khó có thể đối thoại được với văn học thế giới. Hiện nay, văn học thế giới đã xâm nhập ồ ạt vào lãnh địa của chúng ta, chúng đã đem đến những thông tin mới, đã khiến cho độc giả có những thay đổi lớn về ý thức thẩm mĩ và cảm nhận thẩm mĩ. Điều này đã gây ra một thách thức lớn cho nền văn học của Trung Quốc. Chỉ khi văn học của chế độ xã hội chủ nghĩa điều chỉnh lại chính bản thân mình, thay đổi lại các quan niệm về văn học và ý thức thẩm mĩ, học tập kinh nghiệm của người khác để tiến hành tìm tòi, đổi mới thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của người dân Trung Quốc đương đại, đồng thời mới có thể dần dần hội nhập được với thế giới.

Trong một bối cảnh mà xã hội có những biến đổi mạnh mẽ, phải đối mặt với hai thách thức nói trên, văn học Trung Quốc trong thời đại mới đã phải chọn lại cho mình con đường để phát triển, đồng thời trong thực tiễn tìm tòi, lựa chọn đã hình thành nên những đặc trưng cho riêng mình.

1. Quá trình tìm tòi và đổi mới của văn học Trung Quốc trong thời kì mới

Cuối những năm 70 trở lại đây là mốc của sự biến đổi xã hội ở Trung Quốc, đây cũng là thời gian khởi điểm mà văn học xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc bước vào một thời kì phát triển hoàn toàn mới. Quãng đường mà văn học thời kì mới đã đi qua mặc dù chưa phải là dài, song do cá tính sáng tác của nhà văn được giải phóng, tiến hành nhìn nhận lại những mô thức cũ, vượt qua những hình thái văn học trước kia đã đem lại cho quá trình sáng tác của văn học thời kì mới những sáng tạo và tìm tòi một cách toàn diện. Và cũng chính quá trình tìm tòi sáng tạo một cách toàn diện này đã hình thành lên những đặc trưng cơ bản của văn học thời kì mới, đó chính là đa nguyên hoá và tính đa tầng.

1.1. Xu hướng sáng tác văn học đa nguyên

Phương pháp sáng tác văn học và khuynh hướng thẩm mĩ của văn học thời kì mới có ba khuynh hướng cơ bản:

Khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực: Chủ nghĩa hiện thực đã từng là trào lưu chính của văn học xã hội chủ nghĩa và đã từng có truyền thống tốt đẹp, chỉ có điều truyền thống này đã bị xuyên tạc, bị chà đạp. Văn học thời kì mới được khởi nguồn từ việc giương cao ngọn cờ “khôi phục truyền thống chủ nghĩa hiện thực”, các tác phẩm được gọi là “văn học vết thương” như Vết thương, Giáo viên chủ nhiệm lớp…là những tác phẩm đã vạch tả và miêu tả một cách chân thực những hiện tượng xấu xa của xã hội thời kì từ cách mạng văn hoá trở lại đây. Sự ra đời của các tác phẩm này đã gây ra một chấn động lớn trong xã hội, đánh dấu một cho sự khởi đầu của quá trình tìm tòi của văn học xã hội chủ nghĩa thời kì mới. Sau đó không lâu, các nhà văn không chỉ dừng lại ở việc phản ánh và vạch trần các hiện tượng của cuộc sống và các vấn đề của xã hội ở bề mặt mà ngày càng quan tâm tới vấn đề sinh mệnh của con người và biến đổi trong xã hội, ngày càng tự giác đi theo con đường suy nghĩ và tìm hiểu về nhân sinh, nhìn nhận về lịch sử và hiện thực. Các tác phẩm này bao gồm các truyện dài như Thị trấn phù dung, Ngày xuân trong mùa đông, Đôi cánh nặng nề, Hoàng hà chảy về đông… hay các truyện vừa và ngắn như Nhân sinh, Sự phẫn nộ của mùa thu hoặc tập thơ Nhành cỏ nhỏ đang hát… Sự xuất hiện hàng loạt của các tác phẩm này đã cho thấy chủ nghĩa hiện thực vẫn là một khuynh hướng chủ yếu của văn học thời kì mới. Tuy nhiên, nó đã không còn giống như hình thái của văn học chủ nghĩa hiện thực trước kia mà đã phá vỡ những kết cấu và cách thức cũng như mô thức, phương pháp sáng tác, kinh nghiệm sáng tác truyền thống vốn có mà trước kia chúng ta đã từng hiểu. Từ đề tài, thể tài, phương pháp biểu hiện đến nghệ thuật đều phong phú, đa dạng hơn, điều này chứng tỏ trong điều kiện mới, chủ nghĩa hiện thực của văn học đã được phát triển mạnh mẽ.

Khuynh hướng sáng tác chủ nghĩa hiện đại: Chủ nghĩa hiện đại có thể không phải là một khái niệm chuẩn xác. Chủ nghĩa hiện đại mà Trung Quốc thường nói chính là chỉ trào lưu văn học hiện đại của phương Tây, nó chính là sản vật của xã hội phương Tây, bản thân nó mang những nội dung và tính chất đặc thù của xã hội thời đại. Xu hướng sáng tác chủ nghĩa hiện đại của Trung Quốc thời kì mới có những liên hệ nhất định với chủ nghĩa hiện đại của phương Tây, tuy nhiên bản thân nó cũng mang những đặc điểm riêng của mình bởi nó là sự tìm tòi mới của văn học Trung Quốc. Một mặt, những biến đổi của thực tế đã tạo nên những thay đổi to lớn của chủ thể cảm thụ. Sau khi những động loạn của cuộc cách mạng văn hoá trôi qua, thần tượng đã bị sụp đổ, những lí tưởng giả tạo đã bị dập tắt, ý thức chủ thể của con người đã dần dần được thức tỉnh. Họ vừa dọn dẹp những đống tro tàn của cuộc động loạn để tiến hành công cuộc cải cách và xây dựng xã hội, vừa phải xem xét, sám hối, nhìn nhận lại những gì mình đã trải qua để rồi nảy sinh ra những hoài nghi về các quan niệm giá trị vốn có, suy nghĩ về hiện thực, lịch sử, xã hội, nhân sinh. Những chủ thể cảm thụ này có sự tương thông nhất định với những cảm thụ về hiện thực dị hoá mà con người ở xã hội phương Tây đang phải đối mặt. Mặt khác, sau khi tiến hành cải cách mở cửa, sự xâm nhập của văn học chủ nghĩa hiện đại phương Tây đã cung cấp cho nhà văn Trung Quốc – những người đang đi trên con đường tìm tòi nhiều kinh nghiệm. Trường phái hiện đại của phương Tây có rất nhiều thế mạnh trong việc nắm bắt những tình cảm phức tạp, chi tiết hay trong phương thức tư duy và biểu hiện kĩ xảo. Chính những điều kiện khách quan và chủ quan nói trên đã khiến một số nhà văn bắt đầu cho mình một sự tìm tòi mới. Đầu tiên là lĩnh vực thơ ca, một tốp những nhà thơ trẻ được gọi là phái thơ mông lung như Thư Đình đã đi ngược lại với thi phong thẳng thắn, rõ ràng vốn có để dùng một phương thức độc đáo “nói thật như đùa” để biểu đạt những cảm nhận thẩm mĩ độc đáo, theo đuổi một ý cảnh thẩm mĩ mông lung đa nghĩa. Điều này đã khiến cho người đọc cảm nhận được những đặc trưng thẩm mĩ của tác phẩm này với trường phái thơ tượng trưng của phương Tây có rất nhiều điểm tương thông. Sự tìm tòi này lập tức đã thu hút được sự chú ý quan tâm của giới văn học, mặc dù hồi đó đã có rất nhiều tranh luận song mọi người đã nhận thức được và khẳng định sự tìm tòi dũng cảm của họ. Tiếp theo là lĩnh vực tiểu thuyết, Vương Mông đã đi đầu trong việc dùng một số phương pháp của chủ nghĩa hiện đại để thay đổi một cách khéo léo thể văn sáng tác, các tác phẩm của ông như Âm thanh mùa xuân, Hồ điệp, Tạp sắc… đều được coi là tiểu thuyết “ý thức lưu”, nó đã phá vỡ kết cấu và cách thức kể chuyện truyền thống của tiểu thuyết, vừa không coi trọng tính chỉnh nhất trong cốt truyện, cũng không thực sự coi trọng việc khắc hoạ tính cách nhân vật, cái được chú trọng chủ yếu trong tác phẩm lại là hoạt động ý thức tâm lí của nhân vật. Trong ý thức lưu động này, lịch sử và hiện thực, biến cố của xã hội cùng cảnh ngộ của nhân vật đã đan xen lẫn lộn vào nhau, vì vậy việc biểu hiện nhân vật cũng đồng thời là những cảm nhận và suy nghĩ phức tạp về nhân sinh của nhà văn. Những đột phá này là sự gợi ý cho rất nhiều nhà văn để học tập, hình thành lên trào lưu đổi mới và thực nghiệm cho tiểu thuyết. Trong quá trình tìm tòi và sáng tác, một số tác phẩm của các nhà văn trẻ như Không còn sự lựa chọn nào khác của Lưu Sách Lạp, Bản biến tấu không tên của Từ Tinh… đều là những tác phẩm rất gần với trường phái hiện đại của phương Tây. Chúng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của một số tác phẩm phương Tây như The Catcher In The Rye (tạm dịch là Người canh gác mạch điền) của J.D. Salinger, từ hình thức biểu hiện đến hình thái kết cấu đều có sự học hỏi từ tác phẩm phương Tây. Ngoài ra, trong lĩnh vực kịch chúng ta cũng thấy được sự liên hệ, học hỏi phương pháp nghệ thuật từ kịch hiện đại của phương Tây, chúng có những đặc trưng thẩm mĩ tương tự với kịch hiện đại của phương Tây.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận ra rằng, khuynh hướng chủ nghĩa hiện đại của văn học Trung Quốc thời kì mới và trào lưu văn học chủ nghĩa hiện đại của phương Tây là hai vấn đề khác nhau. Trường phái hiện đại của phương Tây chủ yếu thể hiện những đau khổ, bất an của con người khi những mâu thuẫn giữa người với thực tế không giải quyết được và cảm thấy thất vọng về hiện thực và tương lai, kết quả là từ tiêu cực đi tới siêu thoát. Còn những tác phẩm được gọi là mang đặc điểm sáng tác của khuynh hướng chủ nghĩa hiện đại của Trung Quốc lại mang một màu sắc tích cực, khẳng định những theo đuổi đầy nhiệt huyết đối với chân lí, lí tưởng, sự chờ đợi, tin tưởng vào những biến đổi của xã hội. Chính vì vậy, nhìn từ góc độ đặc trưng thẩm mĩ nghệ thuật, các tác phẩm này có những đặc điểm tương thông với trường phái hiện đại của phương Tây, nhưng nhìn từ góc độ tinh thần nội tại của văn học thì chúng vẫn có nhiều mối liên hệ hơn với chủ nghĩa hiện thực truyền thống.

Khuynh hướng văn hoá dân tộc: Khuynh hướng này bao gồm hai tốp. Một là các nhà văn thuộc tốp các bậc tiền bối như Lưu Thiệu Đường, Đặng Hữu Mai… đã hấp thu các chất dinh dưỡng của tiểu thuyết truyền thống, dùng thủ pháp miêu tả tự do để miêu tải một cách thú vị về cuộc sống của người dân bình thường, bút pháp miêu tả rất nên thơ, có một giá trị thẩm mĩ đặc biệt. Đây là xu hướng phát triển mới của văn học truyền thống của Trung Quốc. Tốp thứ hai gọi là phái “tìm lại cội nguồn văn hoá” của các nhà văn trung niên và nhà văn trẻ. Các nhà văn này lại theo đuổi một phong cách khác, chủ yếu là tập trung viết về một cuộc sống tĩnh lặng ở một nơi xa xôi nào đó, cuộc sống này tách rời khỏi những phồn hoa đô hội của thành phố náo nhiệt và mang một màu sắc nguyên thuỷ, xa xưa. “Tìm lại cội nguồn văn hoá” đương nhiên không phải là sự hoài niệm đối với một nền văn minh nguyên thuỷ hay nền văn hoá lâu đời mà hàm ẩn một sự trầm tư mĩ học đối với nền văn minh nhân loại của các nhà văn có ý thức hiện đại.

Tóm lại, quá trình tìm tòi đa nguyên của văn học thời kì mới có thể khái quát thành ba khuynh hướng như trên, sự khái quát này có thể không toàn diện và hoàn toàn chính xác, nếu xét về sự phát triển của văn học trong tương lai, có thể sẽ xuất hiện nhiều khuynh hướng khác. Nhưng có một điểm có thể khẳng định là khuynh hướng tìm tòi đa nguyên này chưa từng có trong lịch sử phát triển của văn học Trung Quốc, nó đánh dấu được sự phồn vinh trong sáng tác, tràn đầy sức sống và trở thành đặc trưng quan trọng nhất của văn học thời kì mới.

1.2. Khuynh hướng giá trị đa nguyên

Trong một thời kì dài, văn học của Trung Quốc đa số là “văn học tuân mệnh” – tức là căn cứ vào nhu cầu của thực tế đấu tranh, căn cứ theo một quan niệm sáng tác nhất định để sáng tác. Việc nghe theo lệnh của một người nào đó cộng với sự không tự do trong sáng tác, ý thức chủ thể đã dần dần bị yếu đi, kết quả đã khiến việc sáng tác đi theo một khuynh hướng đơn nhất. Trước đây chúng ta thường nói đến cái gọi là “hao hao” trong sáng tác, sự “hao hao” này không chỉ ở đề tài, cách viết, điều căn bản nhất, có nguồn gốc sâu sắc nhất có lẽ là sự nhất loạt trong tiêu chuẩn giá trị, phán đoán thẩm mĩ. Ví dụ, con người thì chỉ có hai phái, người tốt và người xấu. Người tốt thì tất cả đều tốt, lúc nào cũng tốt, người xấu thì tất cả đều xấu, ngay từ lúc mới sinh đã xấu; đối với sự vật cũng có một sự đánh giá tương tự – nếu không tốt thì chắc chắn là xấu. Dưới sự chi phối của quan niệm này, cho dù là một thiên tài phi phàm cũng không thể tạo ra những tác phẩm phong phú và đa dạng. Nhìn lại những sáng tác đã qua ta thấy khuynh hướng giá trị có hai đặc điểm: một là nội dung của tiêu chuẩn giá trị giống nhau, tức là đều thể hiện một tiêu chuẩn giá trị “hợp nhất giữa đạo đức và chính trị”, đối với bất kì sự vật nào cũng đều dùng một tiêu chuẩn chính trị và đạo đức đã định sẵn để đánh giá; hai là tiêu chuẩn đạo đức và chính trị này là phi chủ thể tự giác, nó được tiếp nhận từ một sự quyền uy nào đó. Vì thế nhà văn ngoài việc “tiếp nhận” những tiêu chuẩn giá trị đã định để dùng nó đánh giá sự vật ra sẽ không có sự “lựa chọn” của chủ thể, chính vì vậy không thể có được những sáng tạo thật sự về thẩm mĩ.

Sự giải phóng tính sáng tạo của văn học thời kì mới được biểu hiện bằng việc thức tỉnh của tính chủ thể của nhà văn. Tiêu chí và hậu quả trực tiếp của việc thức tỉnh tính chủ thể của nhà văn là họ không đeo đôi kính của người khác để nhìn thế giới, không dựa theo quan điểm của người khác và các tiêu chuẩn ngoại tại để đánh giá sự vật mà tiến hành lựa chọn một cách tự giác về chủ thể, biểu hiện bằng xu hướng giá trị và đánh giá thẩm mĩ đa nguyên.

1.3. Hình thái văn học đa nguyên và phong cách văn học đa dạng hoá

So sánh với cục diện đơn nhất hoá của văn học thời kì trước, ấn tượng trực quan về văn học thời kì mới là đa dạng, phong phú, các tác phẩm có khuynh hướng sáng tác khác nhau có những hình thái và đặc điểm thẩm mĩ khác nhau, các tác phẩm có khuynh hướng sáng tác tương tự nhau cũng có phong cách và hình thái khác nhau. Ví dụ phong cách và hình thái của các tác phẩm có khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực không hoàn toàn giống nhau.

Tóm lại, đặc trưng của văn học thời kì mới là tìm tòi và đổi mới đa nguyên. Chính sự đa nguyên trong tìm tòi và đổi mới đã khiến văn học thời kì mới có môi trường phát triển phồn vinh, trăm hoa đua nở, đồng thời hình thành lên xu hướng phát triển đa dạng, mở cửa. Đương nhiên, trong quá trình đổi mới phát triển đa nguyên của văn học cũng thể hiện một điểm chung là sự theo đuổi lí tưởng thẩm mĩ của chủ nghĩa xã hội.

2. Xây dựng nền văn học đương đại có nội hàm thẩm mĩ thời đại hoàn toàn mới

Song song với sự hình thành của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, ý thức, quan niệm, lí tưởng, giá trị của con người cũng có nhiều thay đổi. Khi chủ thể của xã hội là quần chúng nhân dân có những yêu cầu tự giác đi trước thời đại về những biến đổi của xã hội và biến sự tự giác này thành động lực thực tiễn thì sự đổi mới về chính trị, kinh tế xã hội mới có thể tiến thêm một bước nữa.

Trước mắt những biến đổi và phát triển của xã hội Trung Quốc đang ở vào giai đoạn quan trọng. Sau khi đổi mới, những thể chế cứng nhắc, không hợp lí, những thói xấu, lề thói cũ, quan niệm cũ bị phá vỡ, điều này đã khiến xã hội có những biến đổi to lớn. Việc cần làm hiện nay là phải xây dựng, sáng tạo, phát triển, điều này cần phải có những tự giác trong ý thức sáng tạo và tinh thần sáng tạo.

Sự phát triển của văn học hôm nay cũng phải đối mặt với những lựa chọn như vậy. Một mặt, sự phát triển của văn học luôn gắn liền với những biến đổi của xã hội, nó không thể tách rời cuộc sống thời đại để phát triển theo một con đường độc lập riêng của mình. Là một sợi dây mẫn cảm của thời đại, văn học có những ý thức độc đáo đi trước thời đại trong việc phát hiện xu hướng mới, vấn đề mới của cuộc sống. Khi những biến đổi và phát triển của xã hội đã thâm nhập sâu vào lĩnh vực văn hoá, chính trị, đi sâu vào tâm lí văn hoá của con người, khi các ý thức, quan niệm mới được xác lập và đi theo hướng xây dựng tích cực thì văn học phải làm cách nào để dùng ý thức tự giác đi trước thời đại và phương thức độc đáo của mình để nắm bắt được xu thế phát triển mới, đặc điểm mới của thời đại, từ đó có thể phát triển đồng bộ được với thời đại và hiện thực, đồng thời phải gây tác động một cách tích cực đối với hiện thực, đây chính là vấn đề mới mà văn học Trung Quốc ở thế kỉ XXI phải đối mặt. Thực tiễn văn học đã ngày càng cho thấy, văn học đương đại của Trung Quốc muốn đứng vững trong rừng văn học thế giới thì phải xây dựng một hình thái văn học mới có nội hàm thẩm mĩ thời đại hoàn toàn mới mang màu sắc Trung Quốc. Đây không chỉ là sứ mệnh vinh quang của một thế hệ các nhà văn, mà còn là mục tiêu lí tưởng của nhiều thế hệ, thậm chí rất nhiều thế hệ các nhà văn.

Những biến đổi, phát triển của văn học từ thập kỉ 90 trở lại đây cho thấy các nhà văn, các nhà phê bình văn học đã đứng trên một tầm nhìn mới để phản tư những tìm tòi, đổi mới của văn học những năm 80. Hướng tới thế kỉ XXI, diện mạo mới của văn học Trung Quốc được thể hiện ở các điểm dưới đây.

2.1. Giương cao tinh thần nhân văn, quan tâm và chú ý phản ánh lí tưởng, giá trị của người hiện đại

Ngày càng có nhiều nhà văn coi việc giương cao tinh thần nhân văn, quan tâm và chú ý phản ánh lí tưởng, giá trị của con người hiện đại là hạt nhân của văn học mang màu sắc xã hội chủ nghĩa Trung Quốc. Đặc biệt là các nhà văn tiên phong sau khi đã trải qua những thực nghiệm về hình thức thuần thẩm mĩ đã nhận ra được cùng với việc vứt bỏ hình thái ý thức công cụ chính trị luận, những hô hào khẩn thiết trong tinh thần nhân văn như lí tưởng, giá trị của con người hiện đại đã bị thất lạc đi. Chính vì vậy, một bộ phận các nhà văn trong phái tiên phong đã không thể không quay lại quan tâm chú ý, biểu hiện, suy nghĩ tới cảnh ngộ sinh tồn của con người, “tả thực hoá” đã trở thành điểm cộng hưởng trong văn học thập kỉ 90. Nó đã thúc đẩy “văn học cao nhã” hướng về và kết hợp với “văn học thông tục”, từ đó tạo ra những tìm tòi đáng quý như “tân tả thực”, “tân thể nghiệm” văn học. Mặc dù còn có sự xen vào của thoại ngữ ngụ ngôn – âm hồn của chủ nghĩa phi lí tính phương Tây còn lảng vảng trong các tác phẩm “tân tả thực” hoặc một số các tiểu thuyết thông tục và tác phẩm điện ảnh nghệ thuật còn theo đuổi những mị tục nhưng lại bỏ qua những giá trị nhân văn. Nhưng các nhà văn trong quá trình ngẫm nghĩ đã không ngừng tổng kết quy luật văn nghệ nhã và văn nghệ thông tục đại chúng phải ảnh hưởng hoà lẫn vào nhau để tả thực và lí tưởng, quan tâm chú ý đến cảnh ngộ sinh tồn và giá trị nhân văn trong sáng tạo văn học được hoà hợp và thống nhất.

2.2. Ý thức lịch sử của tác phẩm được tăng cường, hàm ý văn hoá sâu sắc thâm thuý hơn

Xét từ đặc trưng thẩm mĩ, do ảnh hưởng của triết học hiện đại và quan niệm về mĩ học, ý thức văn hoá dân tộc của các nhà văn đã dần được tăng lên, họ muốn đứng trên tầm cao nhất của thời đại để xem xét và xử lí các tài liệu thực tế của cuộc sống. Do vậy ý thức lịch sử của tác phẩm được tăng cường, hàm ý văn hoá càng sâu sắc thâm thuý hơn. Đặc biệt là các tác phẩm có tính kể chuyện (như những sáng tác tiểu thuyết từ thập kỉ 90 trở lại đây) đã vượt qua được các quan niệm truyền thống là chú trọng tái hiện quá trình của sự kiện và coi trọng quá trình trưởng thành của nhân vật, từ đó khiến cho phương thức kể chuyện, hình thức kết cấu và hình thức ngôn ngữ của tác phẩm đã có những biến đổi lớn.

Trong quá trình sáng tác nhà văn đã có những đột phá trong thời không vật lí thực tại của hành động nhân vật, phát triển sự kiện, tìm tòi những cảnh ngộ trong cuộc sống hoặc tâm tư cảm giác mang màu sắc chủ quan; bổ sung thêm nhiều những phân tích tâm lí vào mô thức tình tiết truyền thống; ngoài việc dùng phương pháp kể chuyện “toàn tri toàn năng” của ngôi thứ ba ra, còn chú ý đến góc độ đặc biệt của người kể chuyện trong quá trình kể chuyện…

Xét về việc kể chuyện, nhà tiểu thuyết người Pháp M. Butor cho rằng, nó là phương thức chỉnh lí lại kinh nghiệm, nắm bắt lại thế giới, nói một cách khác tiểu thuyết kể chuyện không chỉ là phương pháp sáng tác, không chỉ là một hiện tượng văn học mà là phương thức thể nghiệm, lí giải, giải thích thế giới của nhân loại. Các nhà văn của những năm 90 đã nắm bắt thế giới như thế nào, trong sáng tác họ đã có một thị dã như thế nào, thông qua việc nghiên cứu tác phẩm sẽ hiểu được các vấn đề trên. Ngoài ra, hiện nay trình độ thưởng thức thẩm mĩ của công chúng đã được nâng lên rất nhiều, ngoài việc chờ đợi những hàm ý chứa đựng trong tác phẩm ra, công chúng ngày càng chú ý đến việc tác phẩm đã “viết như thế nào”. Họ không còn chỉ đòi hỏi những câu chuyện có nội dung đơn giản, mà còn muốn tìm hiểu xem tại sao lại có câu chuyện đó. Ngoài ra, bản thân văn học đương đại cũng được trưởng thành song song với quá trình diễn biến của văn thể. Tóm lại, tìm hiểu và nắm bắt những diễn biến của văn thể trong các tác phẩm kể chuyện đồng thời cũng sẽ nắm bắt được mạch đập của văn học Trung Quốc thời kì chuyển giao thế kỉ1

Trần Thị Quỳnh Hương dịch

    Theo Lý luận văn học tân biên.

                                                                         Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1999.

Chú thích

(*) GS – Trường Đại học Nhân dân Trung Quốc.

Leave a Reply