Suy nghĩ từ hành trình khai quật quá khứ


Lại Nguyên Ân

Nhân dịp kỉ niệm 120 năm sinh Phan Khôi (1887-1959), và sự ra mắt  những tập sách mới nhất trong bộ Phan Khôi, tác phẩm đăng báo do NXB Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây phối hợp xuất bản, phóng viên TIA SÁNG đã có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, người sưu tầm và biên soạn bộ sách này. Ông đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của mình về Phan Khôi, về công tác nghiên cứu lịch sử văn học, văn hóa và các nguồn tư liệu ở Việt Nam hiện nay.

 

● Chào ông, trước hết xin được chúc mừng ông nhân dịp hai tập sách mới nhất trong loạt sách Phan Khôi tác phẩm đăng báo do ông sưu tầm đã được ra mắt đúng  dịp kỉ niệm 120 năm sinh  nhà văn hóa này. Thưa ông, công việc sưu tầm di sản văn hóa của Phan Khôi đã được ông bắt đầu từ bao giờ?

 

− Có thể nói là ngay từ những năm 1997, 1998 nhưng công việc chỉ thực sự bắt đầu từ năm 2000. Nguyên nhân trực tiếp là cuộc gặp gỡ với ban giám đốc nhà xuất bản Đà Nẵng và một người bạn vong niên thời học đại học của tôi là họ hàng xa của gia đình Phan Khôi. Tôi đã được họ ủy thác cho công việc này. Nhưng sâu xa hơn, mối quan tâm của tôi đã có từ những đầu những năm 1990, lúc tôi làm nhiều loại sách, đều là các sưu tập Thơ Mới, nhân kỷ niệm 60 năm phong trào này (1932-92). Ngay hồi đó ở tôi xuất hiện câu hỏi: việc Phan Khôi mở đầu cho phong trào Thơ Mới phải chăng là ngẫu nhiên? Câu hỏi ấy ngấm ngầm thúc đẩy tôi tìm hiểu nhân vật này.

 

● Ông có thể giới thiệu đôi chút về hành trình “đi tìm Phan Khôi” của ông?

 

− Ban đầu công việc cũng khó khăn. Tôi bắt đầu từ những cái dễ tìm: Nam phong tạp chí, An Nam tạp chí, Tri tân. Trong 3 tờ này, chỉ ở Nam phong có một ít tác phẩm Phan Khôi.

 

Về mặt này mấy cuốn kê biên mục lục các tờ Nam phong, Tri tân của học giả Nguyễn Khắc Xuyên là công cụ bổ trợ đắc lực; nhờ vậy mà tôi biết chắc trên Tri tân không có tác phẩm Phan Khôi để khỏi mất công sục tìm trong bộ sưu tập dày dặn này. Rồi tôi cùng Trung tâm Đông Tây khai thác sưu tập Sông Hương, tờ báo duy nhất do Phan Khôi sáng lập; sưu tập Sông Hươngchúng tôi đã làm xong từ lâu dưới dạng bản thảo, nhưng đến nay vẫn chưa kiếm được tài trợ để in ra.

 

Thời điểm vào cuộc mạnh mẽ nhất của tôi là một tháng tìm tài liệu ở mấy thư viện Đại học ở Mỹ. Tôi đã có dịp kể chuyện Peter Zinoman đến tìm tôi ở Hà Nội hồi 1997 để hỏi tư liệu xung quanh văn nghiệp Vũ Trọng Phụng, và từ đấy quen nhau; đến giữa năm 2000, Peter Zinoman mời tôi thăm khoa sử Đại học Berkeley, California, luôn thể cho biết tại các thư viện đại học Mỹ có một số lượng kha khá vi phim (microfilm) báo chí cũ Việt Nam, do mua được từ Pháp, hy vọng tôi có thể tìm trong số đó các bài vở cần tìm. Trước lúc tôi lên đường, vợ chồng Peter còn cẩn thận fax cho tôi một bản kê các báo cũ Việt Nam trước 1945 hiện có tại các thư viện đại học Mỹ, bảo tôi “chấm” trước dăm bảy tờ thật cần để có thể mượn trước đưa về một nơi. Thế là tôi có trên 20 ngày miệt mài đọc tại thư viện đại học Berkeley, 5 ngày đọc tại thư viện đại học Cornell, tiền chụp tài liệu phải tính bằng ngàn đô, hành lý trở về là mấy chục kí giấy A4 chụp photocopy; hành động của mình nếu không gọi là đưa “châu về Hợp Phố” thì cũng là “trả cây về rừng”, thế mà về đến Nội Bài còn lo….

 

Tôi đọc và chụp, đồng thời ghi thành danh mục bài PK đăng các tờ Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm…, lại còn tìm được một ít tài liệu hiếm nữa của Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Kim Lân…

 

Thời điểm mà tôi muốn “eureka” lên một mình là khi tôi dám chắc có bài PK đăng Đông Pháp thời báo năm 1928, dù trên đó không hề có chữ “Phan Khôi” nào hết. Tôi thấy Nam âm thi thoạiđược đăng tiếp tục ở đây, chỉ ký tác giả C.D.; “Nam âm thi thoại” thì chắc chắn của Phan Khôi rồi; vậy C.D. tức Chương Dân, tức Phan Khôi; và tôi chụp lấy tất cả các bài ký C. D. trên báo đó.

 

Tất nhiên nguồn tư liệu lấy được từ chuyến đi nói trên lại vẫn cần được bổ sung bằng nguồn tư liệu có trong nước. Năm 2002, tôi và Zinoman đọc ở thư viện quốc gia Hà Nội đã được tiếp sức bởi một chuyên gia thư viện khác: chị Judith Henchy; chị là người Anh, làm việc ở thư viện đại học bang Washington (Mỹ), sang Việt Nam đọc để viết luận án về Nguyễn An Ninh, thấy báo chí cũ ở đây khó tìm, chị đã giúp tìm tài trợ cho một dự án kiểm định và sắp xếp lại báo chí cũ, vậy là nhân thể có được một tổng mục lục, giống như một “bản đồ”. Tôi cũng nhờ cái bản đồ ấy mà dễ tiếp cận kho báo chí trước năm 1945 lưu trữ tại thư viện quốc gia (Đến hiện nay thì cơ sở dữ liệu lưu trữ tại thư viện quốc gia đã được số hoá, có thể tra cứu từ xa theo địa chỉ: http:// www.nlv.gov.vn). Các tư liệu tôi lấy ở Thần chung, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn…đều được bổ sung nhờ bản gốc các báo đó lưu tại thư viện quốc gia; riêng tờ Trung lập mà từ tháng 5.1930 đến 1933 có dày đặc bài của PK thì chỉ thư viện quốc gia ở Hà Nội là có, và đây là bộ sưu tập đầy đủ.

 

Qua việc đọc và lấy tư liệu từ những nguồn nói trên, trước mắt tôi, diện mạo hoạt động của ngòi bút Phan Khôi hiện diện rõ dần.

 

● Như thế là ông đã tham khảo được khá nhiều nguồn lưu trữ khác nhau. Vậy đâu là nơi cung cấp tư liệu chính và ông có nhận định gì về tình trạng tư liệu ở những lưu trữ này?

 

−  Nơi chủ yếu cho tư liệu Việt Nam vẫn là thư viện quốc gia Hà Nội. Đây là kết luận chung của giới nghiên cứu Việt học nước ngoài. Mấy năm nay, hè nào tôi cũng gặp David Marr từ Úc sang đây đọc báo Việt cũ; tôi với ông ta có hẹn nhau sẽ có lúc cùng đi uống bia mà chưa lúc nào thực hiện vì cùng mải đọc như nhau!

 

Nhưng tư liệu ở nguồn chính này cũng đầy khiếm khuyết nên mọi chuyên gia Việt học đều không thể không tìm kiếm ở những kho tư liệu khác. Nhân đây cũng xin nói một thực trạng là thư tịch sách báo quốc ngữ trước 1945 còn lại cho đến ngày nay là hết sức tản mác, lại chưa hề một lần được kê biên rốt ráo.  Không một kho tư liệu nào giữ được đầy đủ, vậy mà đây lại là nguồn tài liệu gốc tối quan trọng phục vụ cho một loạt các ngành nghiên cứu từ sử học, văn học, tư tưởng, văn hóa…Vì thế ngay ở mảng tư liệu bằng chữ quốc ngữ từ trước 1945 vẫn cần đặt vấn đề liên kết, phối hợp các kho tư liệu trong và ngoài nước. Cần phải làm điều này sớm chừng nào hay chừng đó. Nên nhớ, với các tư liệu Hán Nôm, sau khi liên kết các nguồn thư tịch trong và ngoài Việt Nam, với việc biên soạn và xuất bản được bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam ( in 1993, 3 tập, gần 3000 trang, kê tên trên 5000 đơn vị tư liệu), khả năng “nối mạng” để tìm tài liệu đã khả quan hơn trước. Theo tôi, với các mảng tư liệu chữ Việt 1965-1945, rồi 1945-1954, v.v…cũng cần những nỗ lực liên kết tương tự.

 

● Thưa ông, sau khi đã hoàn thành được một chặng quan trọng của việc sưu tập các bài viết về Phan Khôi, ông có thể cho biết Phan Khôi là ai?

 

−  Thực ra tôi mới chỉ sưu tầm tác phẩm của Phan Khôi chứ chưa đặt bút để luận bàn khái quát về nhân vật này; nhân được hỏi, xin phác thảo một vài nhận định.

 

Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Có thể đi vào chi tiết hơn để thấy ở ông một nhà tư tưởng sớm biết đặt ra vấn đề của di sản tư tưởng Nho giáo cổ truyền trước thời đại mới, sớm đặt vấn đề tiếp nhận tư tưởng Âu Tây để đổi mới xã hội, rõ nhất là xây dựng quan niệm mới về người phụ nữ trong sự bình đẳng về giới tính, xem đổi mới vị trí người phụ nữ là góp phần đổi mới xã hội; một nhà xã hội học biết phân tích sự chuyển động bên trong xã hội và đặt ra các vấn đề về phẩm chất người hoạt động chính trị, phẩm chất quan chức trong bộ máy quản lý; một nhà Hán học và Trung Quốc học, am tường văn hoá cổ Trung Hoa và hiểu biết các vấn đề của xã hội Trung Hoa đương thời mình; một nhà ngữ học vừa nghiên cứu tiếng Việt vừa tác động đến sự phát triển của tiếng Việt trong thời hiện đại; một nhà thơ, một dịch giả văn học, là một trong những người đã dịchKinh Thánh Thiên Chúa giáo ra tiếng Việt; một nhà văn xuôi với thể hài đàm mà ông là người mở đầu ở Việt Nam, một nhà phê bình văn học đã tác động thật sự đến sự phát triển của nền văn học tiếng Việt.

 

Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng  đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức.

 

● Quan sát những gì mà Phan Khôi để lại, có thể thấy, ông là một trong những kiến trúc sư chuẩn bị cho cuộc cách mạng văn học trong thập niên 30 của thế kỉ trước.

 

− Đúng vậy. Ông chuẩn bị cho cuộc cách mạng ấy trước hết là về ngôn ngữ. Từ kinh nghiệm tân văn nghệ Trung Quốc, ông hiểu rằng việc họ chuyển sang dùng bạch thoại để viết văn có nghĩa là đưa ngôn ngữ sống đương đại trở lại làm chất liệu cho sáng tạo văn chương đương đại, thay cho việc sử dụng văn ngôn là thứ văn phong đã xa cách đời sống, đã gần trở thành tử ngữ như chữ Latin. Đối với Việt Nam thời Phan Khôi, việc chữ Quốc ngữ bắt đầu đi vào đời sống hàng ngày cùng lúc với sự xuất hiện của những phương tiện truyền thông mới là báo in sách in cũng đặt ra vấn đề xây dựng những lối viết tiếng Việt mới, đáp ứng các nhu cầu từ thực dụng tới nghệ thuật, cho báo chí, cho các loại văn, song tất cả phải dựa trên căn bản tiếng nói đời thường đương thời.

 

● Nhưng đó là khuynh hướng chung của toàn bộ văn chương học thuật ở Nam kì cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Vậy đâu là đóng góp riêng của Phan Khôi.

 

− Cái riêng của Phan Khôi là ở chỗ trong khi chủ trương xây dựng tiếng Việt trên căn bản ngôn ngữ nói, ông vẫn chống lại khuynh hướng tuyệt đối hóa các phương ngữ, một dạng “li khai” ngôn ngữ có thể dẫn đến li khai trong nội bộ dân tộc. Ông luôn đấu tranh cho một tiếng Việt chuẩn mực, chung cho toàn quốc mà mỗi phương ngữ chỉ là một biến thể của tiếng Việt chung đó. Phải đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1929-1930, trong lúc có những người đã đòi soạn riêng sách giáo khoa tiếng miền Nam thì mới thấy đóng góp của Phan Khôi và các đồng nghiệp của ông ở tờThần chung khi xới lên cuộc tranh luận bảo vệ sự thống nhất của tiếng Việt là quan trọng.

 

● Nhưng đóng góp của Phan Khôi không chỉ có ngôn ngữ…

 

− Còn cả trong lĩnh vực tư tưởng. Ta biết rằng trước cả Tự lực văn đoàn, ông là người khởi xướng trào lưu nữ quyền với những bài phê phán những mặt trái của đại gia đình truyền thống, vạch ra cả tính phi nhân khi chế độ đại gia đình đưa đến nạn tự vẫn của một số thanh niên, do nó hạn chế sự tự chủ của cá nhân những con người đã ở lứa tuổi trưởng thành. Ông phê phán Khổng giáo đặc biệt ở phương diện hệ tư tưởng này bảo vệ cho chế độ quân chủ chuyên chế. Ông giống như người “giải phóng mặt bằng” cho những người tiếp theo trong đó có các nhà Thơ mới và nhóm Tự lực văn đoàn, dựng trên đó những công trình của mình. Tất nhiên đó là một thế hệ mới đầy tài năng, đã thực hiện đôi khi ở mức tuyệt vời hơn hẳn điều mà người tiền bối có thể hình dung.

 

● Vậy thì câu trả hỏi của ông đặt ra khi bắt đầu tìm hiểu Phan Khôi đã có lời giải đáp. Nhưng hình như những đóng góp của Phan Khôi đối với xã hội và văn hóa Việt Nam không chỉ giới hạn trong địa hạt văn chương.

 

− Trước hết là văn hóa. Phan Khôi là người có ý thức về di sản văn hóa truyền thống của người Việt và nhu cầu tổng kết di sản đó. Nhưng ông cũng là người vượt qua được ảo tưởng mang tính phóng đại về tầm lớn lao của nền văn hóa đó. Điều đó thể hiện rất rõ trong các cuộc tranh luận về quốc học, quốc văn. Là nhà báo, ông là người theo sát các diễn biến chính trị ở Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1930: các cuộc biểu tình, các đảng chính trị, giới chính khách ở Nam Kì. Ông sớm nhận ra những hủ bại của giới “chính trị gia” đó và từ đó, ông bắt đầu hình dung về một xã hội dân sự kiểu Tây phương, − một xã hội mà theo ông hình dung là Việt Nam sẽ phải vận động tới đó. Và ông chuẩn bị cho xã hội đó khi đề cập đến một loạt chuyện: chuyện chính đảng, lập hội, biểu tình, quan hệ chính đảng với quần chúng, vấn đề tự do ngôn luận…

● Ông đã nói Phan Khôi không chỉ là một nhà Hán học mà còn là một nhà Trung Quốc học am hiểu xã hội Trung Quốc đương đại thời ông sống. Liệu điều đó có tác dụng gì cho việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của xã hội Việt Nam?

 

− Phan Khôi là người quan sát kĩ xã hội Trung Quốc từ sau cuộc cách mạng của Tôn Trung Sơn cho đến nền cai trị của Quốc Dân Đảng, giai đoạn những năm 1920 − 1930. Một trong những vấn đề mà ngay từ thời đó, qua thực tế Trung Quốc ông đã sớm nhận ra là sự khó khăn của các xã hội Khổng giáo khi chuyển đổi từ thể chế quân chủ chuyên chế sang thể chế dân chủ cộng hòa. Phan Khôi chỉ ra rất sớm cái phương cách “dĩ đảng trị quốc” trên thực tế đã được dùng như phương cách thay thế tạm thời cho quân quyền sau khi đã lật đổ quân quyền. Xem thế thì thấy những xã hội mang nặng truyền thống Khổng giáo sẽ rất khó khăn trong việc xây dựng một hiến pháp dân chủ và một thể chế chính trị thượng tôn hiến pháp.

 

●Thưa ông, cũng là người có điều kiện “quan sát” Phan Khôi, tôi có ấn tượng rằng Phan Khôi là một người cô độc. Ông có chia sẻ với tôi ấn tượng này?

 

− Điều này cũng đúng. Thiếu Sơn từng nói ở Phan Khôi có nét “bất cận nhân tình”. Điều ấy không phải không có. Trọng chân lí hơn thầy, thẳng thắn, quyết liệt và không khoan nhượng không thỏa hiệp trong sự truy tìm chân lí. Đó là nét tính cách Phan Khôi. Hình như tính cách ấy có một cái gì thật khó dung hòa với nền văn hóa “duy tình”, “chín bỏ làm mười” của người Việt. Không thể phủ nhận Phan Khôi là một người yêu dân tộc mình. Nhưng cũng hiếm ai như ông đã chỉ ra không thiếu một thói xấu nào của dân tộc mình. Một con người như thế thường bất hạnh. Nhưng tính cách ấy lại không sợ bất hạnh đâu. Cái khoẻ khoắn, cái sức mạnh của tính cách ấy nằm trong sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm với nhận thức của mình.

 

● Thưa ông, trong hành trình đi tìm Phan Khôi của mình, ông có tiếp nhận được gì từ các học giả miền Nam, những người đã đi trước trong việc đề cập đến nhân vật này?

− Tôi có đọc họ. Từ Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Bằng Giang cho đến Vu Gia, Nguyễn Q.Thắng.Trong chuyện này có cái gì đó giống như một cuộc chạy tiếp sức vậy. Họ là những đi trước trong các hồ sơ tư liệu và cấp cho mình những gợi ý về văn học sử; ở mức cao hơn, họ và công chúng miền Nam trước 1945 gửi cho chúng ta những tín hiệu về giá trị; những thiện cảm đối với các tên tuổi này hay khác thông báo một điều gì đó có khi quan trọng hơn cả những tư liệu làm sẵn.

 

● Quan sát công việc của ông trong khoảng gần chục năm trở lại đây, có thể thấy ông đã chọn cho mình công việc của một nhà biên khảo, sưu tầm tư liệu, lập các hồ sơ cá nhân của các tác giả quá khứ. Điều gì đã dẫn ông đến lựa chọn này?

 

− Các sách nghiên cứu văn học sử 1900-45 ở miền Bắc tỏ ra quá nghèo về cứ liệu, lại tập trung một cách không bình thường vào một số tác giả, tác phẩm. Nhà trường và truyền thông vừa “tiếp tay” vừa làm “lộ tẩy” điều này. Những ai không quá hời hợt đều không thể bằng lòng với tình trạng đó; người ta yêu cầu được thấy một lịch sử văn học, một lịch sử văn hóa khác, phồn tạp hơn và sống động hơn. Và tôi thấy mình có nhu cầu đi tìm cái hình ảnh sống động đó trong những tài liệu gốc, những tài liệu mà thậm chí nhiều  người còn chưa biết đến. Hơn nữa, tôi thấy trong nghiên cứu văn học sử và nhiều bộ môn xã hội và nhân văn khác có tình trạng là thiếu điều tra cơ bản, thiếu việc làm kỹ những hồ sơ cho từng đề tài, trước khi nêu ra những luận bàn tổng kết về quá khứ. Có những nơi tuy có điều tra cơ bản nhưng hồ sơ làm xong cất một chỗ, người viết văn học sử không dùng tới, thậm chí là có những người viết văn học sử không cần dữ liệu cơ bản, họ cho là chỉ cần viết trên cái trí nhớ của mình, chỉ ngồi luận là được rồi.

 

Ở đây phải đặt vấn đề lại: ta hiểu làm văn học sử Việt Nam là thế nào? Tôi cho rằng: Nếu bạn đã nghiên cứu văn học quá khứ, ví dụ một giai đoạn 1930-45, thì dứt khoát bạn không thể bỏ qua một cái tên nào, một tác phẩm nào, tức là trong những kênh xuất hiện của văn học là các tờ báo, tạp chí, sách xuất bản, phải kiểm kê hết. Thế là có hai nhóm: một là sách, phải thống kê hết ra, hai là báo chí, cũng phải lọc hết bài vở tác phẩm các loại đăng trên đó, thống kê hết ra. Còn chuyện ai hơn ai kém, quyển hay quyển dở, ấy là quan điểm đánh giá, mà chuyện đánh giá thì tuỳ thuộc chủ quan, tuỳ thuộc thiện cảm ác cảm từng thời từng giới. Xét theo quan niệm này thì văn học sử của ta, ví dụ một đoạn 1930-45 thôi, còn bỏ quên hàng trăm tác giả, tác phẩm; đó là chưa nói có thể nghiên cứu các chủ thể văn hoá từng thời như các nhóm phái, từng tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản…Nghiên cứu văn học sử là nghiên cứu hoạt động sáng tạo ngôn từ của con người trong lịch sử; làm sao có thể bằng lòng với một bản thu nhỏ về tác gia tác phẩm mà ban đầu chỉ cốt dùng để dạy đủ mấy trăm tiết cho học trò, rồi về sau lại vênh vang cho rằng văn học giai đoạn ấy tất cả chỉ có thế mà thôi?

 

● Là người đã “đằm đìa” trong các kho tư liệu, ông có nhận xét gì về tình trạng bảo tồn tư liệu quá khứ nhất là mảng sách báo trước năm 1945 bằng chữ quốc ngữ?

 

− Rất đáng báo động. Nó là hệ quả của lịch sử. Lưu trữ ở cả hai miền không tốt. Không tốt từ khởi nguồn. Mặc dù chế độ thực dân làm được một việc cũng tốt là từ năm 1922 bắt đầu quy định chế độ lưu chiểu ấn phẩm, nhưng chế độ này được thực hiện ở cả hai miền đều không tốt. Thế nên bộ mặt thật của xuất bản báo chí ở mọi kho tư liệu dồn lại đều thiếu thốn rất nhiều. Thời trước 1945 hình như người Pháp cũng không đánh giá cao lắm những gì đang được làm ra đương thời ở Việt Nam. Các chuyên gia giỏi của họ tập trung hết tài lực vào tư liệu Hán Nôm. Họ đi dập bia, đi mua sách, thuê chép sách chữ Hán, nhưng sách báo đương thời thì hình như được chăng hay chớ. Tiếp theo là cách mạng và kháng chiến rồi chia cắt hai miền. Khi đất nước chia đôi hình như tư liệu cũng bị mang đi, bị chia sẻ. Rồi sau đó suốt những năm 1950-1980 là một tâm lí ngự trị trong nhiều giới với niềm tin rằng mọi cái cũ đều chẳng còn giá trị gì, người ta nghĩ rằng di sản quá khứ đáng bị vứt hết. Một thái độ như thế đối với quá khứ đã ảnh hưởng nhiều và xấu tới công tác tư liệu. Giở lại tư liệu nhất là tư liệu liên quan đến những tác giả bị phê một thời sẽ thấy một thái độ rất ấu trĩ của những người tiếp cận tư liệu. Có cuốn sách của Vũ Trọng Phụng trong đó người ta ghi đầy những lời chửi bới xúc phạm. Thế nên phải nhận rằng thái độ hư vô đối với quá khứ đã có tác hại trong một khoảng thời gian không ngắn. Ngày nay, tình hình đã có thay đổi, nhưng nếu không hành động kịp thời ngay từ bây giờ thì tôi e rằng đến một lúc nào đó, cũng gần thôi, mọi việc sẽ là quá muộn.

 

● Xin cảm ơn ông đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của mình.

(Phạm Xuân Thạch thực hiện)

…………………….

© 2009 Lại Nguyên Ân

Bản in:

MÊNH MÔNG CHẬT CHỘI …

Tiểu luận-phê bình văn học của LẠI NGUYÊN ÂN

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC

53 Nguyễn Du, Hà Nội

Tel: (84-4) 3945 4661 ٠ Fax: (84-4) 3945 4660

Email: lienhe@nxbtrithuc.com.vn

Website: nxbtrithuc.com.vn

Chịu trách nhiệm xuất bản: Chu Hảo

Biên tập: Nghiêm Thị Thanh; Nguyễn Anh Quân

Bìa: Phạm Xuân Thắng

Trình bày: Lều Thu Thủy

In 1.000 bản, khổ 14×20,5 cm tại Xưởng in Tạp chí Tin học và đời sống, số 1 Phùng Chí Kiên, Cầu Giấy, Hà Nội. Quyết định xuất bản số: 06 QĐ-NXB TrT của Giám đốc NXB Tri Thức ngày 23/02/2009. In xong và nộp lưu chiểu Quý I năm 2009.

Nguồn: Bản đăng trên http://phebinhvanhoc.com.vn/ đã được sự đồng ý của tác giả

Leave a Reply