Recent Articles

Dấu hiệu “xung đột trường phái” trong cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi (Việt Bắc, 1949)

Thơ mới 1932-45 là một phong trào rộng lớn và không thuần nhất. Với thời gian, người ta thấy rõ tuyến từ Thế Lữ đến Xuân Diệu không phải tuyến đạt đến thành tựu cao nhất (ví dụ so với “trường thơ loạn” mà tiêu biểu là Hàn Mặc Tử), nhưng lại là tuyến mà thành tựu được phổ cập nhất, và đương thời đây cũng là tuyến thanh thế nhất. Với tuyến này, thơ mới thoát khỏi cái khuôn của những thể thơ cách luật đã có trong truyền thống thơ tiếng Việt, nhưng các thể thơ do nó tạo ra vẫn là một thứ “cách luật” nới rộng (tiêu biểu là thể câu thơ 8 chữ); các yêu cầu về vần, về liên hệ cú pháp-ngữ nghĩa vẫn được xem trọng. Những yêu cầu về nội dung và hình thức mà Xuân Diệu nêu lên trong cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi ở Việt Bắc năm 1949, vẫn chủ yếu là sự diễn đạt những chuẩn mực của thơ mới 1932-45 ở tuyến của ông. Sự đồng tình của số đông người dự thảo luận với các ý kiến của Xuân Diệu, Thế Lữ chỉ cho thấy mức độ phổ cập, cũng là mức độ bị quy phạm hoá, trở thành hình thức được thừa nhận chung, – của các tìm tòi và thành tựu của thơ mới 1932-45 thuộc tuyến từ Thế Lữ đến Xuân Diệu.

Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại

Thông tin về sự xử lý lý thuyết trên đây, có thể là một gợi ý cho việc nhận thức mới và nghiên cứu mới đối với giai đoạn phát triển văn học Việt Nam dưới dấu hiệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, không đặt nó như ngoại lệ, không tách nó khỏi tiến trình văn học dân tộc và văn học nhân loại.

Trở lên là những phác họa mang tính gợi ý của tôi về sự hiện diện của chủ nghĩa hiện đại ở văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhất là sự xuất hiện các khuynh hướng, các hiện tượng tiền phong chủ nghĩa trong văn học những năm 1940-1950. Đây mới chỉ hoàn toàn là những phác họa thăm dò, chưa phải những nhận định chắc chắn, càng chưa phải là những kết luận.

Vài tư liệu về việc Vũ Trọng Phụng bị gọi ra Toà năm 1932

Người nhắc đến sự việc này hồi năm 1957 ở Hà Nội là Thiều Quang. Trong Tập san phê bình, một ấn phẩm tư nhân, tác giả của nó đồng thời là người xuất bản ấn phẩm này, dành riêng một số đặc biệt cho đề tài: Vũ Trọng Phụng, đời sống và con người. Toàn bộ 24 trang ruột của số này chỉ đăng bài viết của chính Thiều Quang: Chút ít tài liệu về  Vũ Trọng Phụng. Đó là một văn bản ít nhiều độc đáo, là vì trong đó tác giả không chỉ luận bàn về tác phẩm của nhà văn họ Vũ, không chỉ trao đổi lại với những ý kiến đánh giá nhà văn này của một số tác giả khi đó vừa công bố chuyên luận hoặc bài nghiên cứu, như Văn Tâm ( Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực, Hà Nội: Nxb. Kim Đức, 1957), Văn Tân (Vũ Trọng Phụng qua “Giông tố”, “Vỡ đê” và “Số đỏ”// Văn Sử Địa, s. 29, tháng 6/1957); hơn thế, tác giả còn đưa ra những sự việc và chi tiết tư liệu xưa cũ ít người biết hoặc là tư liệu hồi ức cá nhân của chính mình, do chỗ mình (tác giả) từng quen biết, từng là bạn bè với Vũ Trọng Phụng. Thật ra thì khá nhiều ( tuy không phải tất cả) chi tiết tư liệu trong bài ấy có thể được xác nhận hay bác bỏ bằng cách kiểm định, đối chiếu. Nhưng một thời gian dài, suốt những năm 1960-90, những người nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng đều không ai thực hiện việc thẩm định  mà chỉ thận trọng gác lại một bên nguồn tư liệu độc đáo nhưng khó sử dụng này.