Tại sao Jakobson và Bakhtine không bao giờ gặp nhau?


Tzvetan Todorov

Bất cứ ai suy tư về lịch sử trí thức trong thế kỷ XX cũng đều đặt ra vấn đề so sánh Roman Jakobson và Mikhail Bakhtine. Gần như đồng thời với nhau (Bakhtine sinh năm 1895, trước Jakobson một năm và qua đời năm 1975, trước “người em” của mình 7 năm), những năm tháng cuộc đời đã làm cho số phận của họ gắn bó với lịch sử của thế kỷ XX. Đều sinh ra ở nước Nga, trong thế chiến thứ nhất, họ theo đuổi việc học tập trong khuôn khổ khoa học “triết học – lịch sử”, Bakhtine ở St-Pétersbourg còn Jakobson ở Moscou. Cả hai đều để lại những công trình quan trọng, viết về ngôn ngữ và văn học; công trình của họ cho đến tận hôm nay vẫn tiếp tục được xuất bản bằng hàng chục thứ tiếng, được cả thế giới bình luận và tranh cãi. Trong lĩnh vực các khoa học nhân văn, không cần phải bàn cãi, hai ông là những tác giả có ảnh hưởng lớn nhất lên cả thế kỷ.

Sự gần gũi một cách khách quan này, đối với tôi còn tăng lên do vai trò quyết định của hai ông đến quá trình học tập và nghiên cứu của cá nhân tôi. Tôi gặp Jakobson lần đầu tiên vào năm 1960, ở Sofia, khi ông đến trình bày trong một thính phòng chật ních thính giả của Trường Đại học tổng hợp những phân tích của ông về một bài thơ của Khristo Botev, niềm vinh quang của dân tộc chúng tôi (nước Bulgarie). Mấy năm sau, khi đã tốt nghiệp, tôi có mặt ở Paris, chuẩn bị một bản dịch ra tiếng Pháp tuyển tập công trình của những nhà nghiên cứu Hình thức luận Nga; và hoàn toàn tự nhiên, qua một người bạn chung của chúng tôi, Nicolas Ruwet, tôi đã tìm cách liên lạc với Jakobson. Có lẽ, tôi đã gặp ông vào năm 1964. Sau đó, tôi phụ trách việc xuất bản bằng tiếng Pháp ba công trình của ông : Những vấn đề thi pháp học; Một cuộc đời trong ngôn ngữ và Nước Nga, sự điên rồ, thơ ca. Về phần Mikhail Bakhtine tôi chưa từng được gặp ông, tuy vậy, tôi biết đến những công trình của ông cũng vào thời điểm này, khi tôi chuẩn bị tuyển tập các nhà Hình thức luận. Từng bước một, cùng với việc xuất bản các công trình của ông, tư tưởng của ông ngày càng trở nên quan trọng đối với tôi; năm 1981, tôi đã viết một cuốn sách về ông (Mikhail Bakhtine, những nguyên tắc đối thoại) và tôi cũng đã giới thiệu với bạn đọc Pháp công trình cuối cùng mang tên ông, Mỹ học của sáng tạo ngôn từ. Vậy là, bằng những cách khác nhau, hai ông đã trở thành hai người thầy đầu tiên của tôi.

Đó là những nét bề ngoài biện minh cho một sự so sánh. Liệu còn những sự tương cận nào giữa hai người ? Người ta sẽ thấy họ có những người bạn chung; dẫu vậy, họ lại chưa từng gặp nhau, cả trước năm 1920, thời điểm Jakobson rời nước Nga, cả sau năm 1956, khi ông quay trở về tổ quốc. Gần đây, chúng ta biết rằng việc hai ông không gặp nhau hoàn toàn không phải chỉ do ngẫu nhiên. Vào năm 1992, người ta đã xuất bản một cuộc phỏng vấn dài Vadim Kozhinov, ngưòi có công lớn trong việc đưa Bakhtine xuất hiện trở lại với công chúng Nga, người đã giải mã những bản nháp gần như không thể đọc được do Bakhtine viết nghuệch ngoạc bằng bút chì. Trong cuộc phỏng vấn này, Kozhinov có thuật lại một tình tiết mà đối với tôi, hết sức có ý nghĩa, và chính vì lý do đó, tôi sẽ dẫn lại đây nguyên vẹn.

Câu chuyện, Kozhinov không dẫn thời gian chính xác, diễn ra vào khoảng năm 1965. Khi đó, Bakhtine sống ở Saransk, khoảng 600 km về phía đông nam thủ đô Moscou, nhưng ông vẫn thường xuyên về thủ đô, và ở đây, ông thường lưu lại nhà Zaleski, một người bạn. Kozhinov, một người bạn ngưỡng mộ ông vẫn thường đến thăm ông ở đây. Tôi dẫn ra đây câu chuyện của ông này.

“Bỗng nhiên chuông điện thoại reo. Vậy mà Mikhail Mikhailovitch từ chối dứt khoát không bao giờ nhấc máy điện thoại. Đó là một nét lập dị của ông : ông đã bỏ thói quen liên lạc điện thoại từ lâu, từ hồi ở St-Pétersbourg. Tôi đã phải nhấc máy, đó là M.V. Youdina, một nghệ sĩ dương cầm rất đẹp, bạn của Mikhail Mikhilovitch từ nhiều thập niên. “Ông biết đấy, bà nói, ở bên cạnh tôi đây là Roman Ossipovitch Jakobson, ông ấy vừa về nước, có mang theo các công trình của mình và mơ ước được gặp Mikhail Mikhailovitch… Tôi biết rằng Mikhail Mikhailovitch không bao giờ cầm đến điện thoại, vậy liệu ông có thể hỏi giùm là ông ấy có thể vui lòng tiếp Roman Ossipovitch không ?” Bakhatine không mấy ưa chuộng các nhà Hình thức luận, ông nói về họ một cách khá mỉa mai. Lập tức, ông khoát tay với vẻ thất vọng : “Tuyệt đối không ! Nói rằng tôi đang ốm!” (Thông thường, ông ghê tởm việc phải nói những điều dối trá như vậy). Tôi trả lời Maria Véniaminovna : “Thật bất hạnh, Mikhail Mikhailovitch cảm thấy rất mệt, ông ấy xin được bà thứ lỗi nhưng quả tình ông ấy không thể tiếp Roman Ossipovitch”. Mấy ngày sau, Mikhail Mikhailovitch chuẩn bị về Saransk, chúng tôi cùng đi với ông và tôi lại đến nhà Zaleski. Một lần nữa, chuông điện thoại lại reo, lại là M.V. Youdina đề nghị với hy vọng là Mikhail Mikhailovitch se tiếp Jakobson (“Có thể ông ấy đã khỏi, Roman Ossipovitch vô cùng mơ ước được gặp ông ấy…”). Tôi nói : “Thật ác hại quá, Maria Véniaminovna, nhưng chúng tôi chuẩn bị ra ga rồi….” Tôi nghe thấy họ trao đổi với Jakobson và sau đó, Youdina trả lời tôi : “Vậy thì cũng không sao, Romam Ossipovitch có thể thăm ông ấy ở Saransk”. Tôi gác máy và tự cho phép mình nhắc Mikhail Mikhailovitch : “Có lẽ là ông đã hoài công rồi, bởi vì Roman Ossipovitch là một người hết sức nhiệt tình, ông ấy sẽ đến thăm ông ở Saransk. ở đây, ông có thể chỉ tiếp và tán chuyện với ông ấy vài giờ và thế là xong. ở Saransk, ông ấy sẽ tra tấn ông…”[…] Đáp lại lời tôi, Bakhtine bỗng nở một nụ cười tàn nhẫn (điều này thì lại càng hiếm ! Nó trái ngược với tính cách của ông) và tuyên bố một cách vui vẻ : “Vậy thì ở đấy cũng không ! Người ta không bao giờ cho người lạ đến Saransk !” Thực tế là Saransk vừa có các trại lao động cải tạo, vừa có các mục tiêu quân sự đủ loại…”

Câu chuyện đáng ngạc nhiên này đã kết thúc như vậy. Jakobson và Bakhtine không chỉ không gặp nhau mà đó còn là kết quả của một hành vi dứt khoát từ phía Bakhtine. Điều gì ẩn dấu sau sự từ chối của lý thuyết gia lớn nhất về đối thoại ? Liệu người ta có thể thỏa mãn với những lời giải thích mà Kozhinov gợi ý (Bakhtine không thích các nhà Hình thức luận)? Điều gì đã làm xích lại gần nhau và cũng làm đối lập nhau hai đại diện quan trọng nhất của văn hóa Nga ? Để trả lời câu hỏi đó, cần phải ngược rất xa về quá khứ và dõi theo cả một lịch sử dài về mỗi người.

Jakobson theo con đường của khoa học, Bakhtine theo con đường của đạo đức.

Do một sự ngẫu nhiên kỳ lạ, Jakobson và Bakhtine công bố những văn bản đầu tiên của họ vào cùng một thời điểm : đối với người thứ nhất, đó là bài báo Chủ nghĩa vị lai đăng ngày 2 tháng 8 năm 1919 trên tờ báo Iskusstvo (Nghệ thuật) ở Moscou; đối với người thứ hai, đó là bài báo Nghệ thuật và tinh thần trách nhiệm đăng ngày 13 tháng 11 năm 1919 trên tờ báo ở Nevel Den’iskusstva (Ngày nghệ thuật). Nói cho ngay, trước đó, trong thời gian chiến tranh, Jakobson có công bố hai bài thơ và một báo cáo; nhưng chỉ ở bài báo đăng vào năm 1919 này, lần đầu tiên, ông trình bày cái nhìn của mình một cách có hệ thống, dẫu rằng đó chỉ là một bài báo. Người thanh niên 23 tuổi đã lựa chọn một giọng điệu kiên quyết mà không hề bị ám ảnh bởi mối lo về tính gắn kết của các chủ đề. Anh ta hiện diện như là một vị trạng sư nhiệt tình ủng hộ những người bạn theo chủ nghĩa vị lai, những họa sĩ cũng như những nhà thơ bằng cách gắn họ vào những trào lưu nghệ thuật đã được thiết định từ trước, đặc biệt, với chủ nghĩa lập thể. Đường đã được vạch ra, anh ta trình bày nhiều mệnh đề hết sức có ý nghĩa đối với thời đại khi đó cũng như với hành trình của anh ta sau này.

Điều đầu tiên gây ấn tượng mạnh là vai trò ý thức hệ mà những trào lưu nghệ thuật tiền phong chủ nghĩa lúc bấy giờ đảm nhiệm, chủ nghĩa lập thể và sự trừu tượng hóa trong hội họa, chủ nghĩa vị lai trong thơ; Jakobson gắn bó một cách không do dự với những trào lưu này, văn bản của ông được trình bày như một minh chứng duy lý và được lập nên từ những phát ngôn được các nhà họa sĩ và các nhà thơ phát biểu một cách gay gắt. Trong trường hợp cụ thể này, chương trình nghê thuật thể hiện ở việc chối từ việc trình bày thế giới mà thay vào đó là trình bày chính bản thân hành vi thơ ca hay hội họa. Những họa sĩ hiện đại, Jakobson nói, sử dụng một màu không phải là vì màu này là riêng có ở một đối tượng được biểu hiện mà là bởi sức mạnh của “sự quyết định lẫn nhau giữa màu sắc và hình thức”. Thay vì lấy cảm hứng từ việc mô phỏng lại các sự vật, “mối quan tâm của họa sĩ tập trung ở đường nét và bề mặt”’; “ý đồ của tự nhiên” bị thay thế bởi “ý đồ biểu hiện hội họa”, đối tượng của sự tiếp nhận, bởi chính sự tiếp nhận, “một sự tiếp nhận có giá trị tự thân” (samocennoe).

Điểm nổi bật thứ hai trong văn bản của chúng ta, dẫu không chắc chắn rằng nó nhất trí với điểm thứ nhất, thể hiện ở sự khẳng định tính tương cận giữa nghệ thuật và khoa học. Những so sánh, những tương đồng, một bên, trong hội họa và thơ ca và một bên tâm lý học và vật lý học. Sự thống nhất giữa hai lĩnh vực đến từ việc cả hai đều là những hình thức nhận thức – và, còn hơn thế, những hình thức nhận thức về những cấu trúc và bản chất không nhìn thấy, hơn là sự nhận thức những hình thức bề ngoài mà sự thực hành thường nhật (và nghệ thuật quy ước) tự lấy làm thỏa mãn. Những nghệ sĩ lập thể gần với những nhà bác học hơn là những nghệ sĩ hiện thực; họ chỉ cho chúng ta những sự vật ở cả ba chiều, điều tương ứng thực sự với bản sắc của chúng. Cũng vậy, những nhà văn đặt cạnh nhau nhiều điểm nhìn, thay vì gắn với phối cảnh của một nhân vật duy nhất. Sự phụ thuộc lẫn nhau của màu sắc và hình thức cũng là một thành tựu chung của khoa học và nghệ thuật hiện đại. Những nhà nghệ sĩ vị lai chủ nghĩa, cũng giống như những nhà vật lý học hiện đại, nắm bắt sự vật trong trạng thái đang vận động.

Cuối cùng, chủ đề thứ ba của văn bản ngắn này : Jakobson khẳng định tính thống nhất, không chỉ của nghệ thuật và của khoa học, mà của mọi hình thức biểu hiện của tính hiện đại, cả trong triết học cũng như trong chính trị. Tính thống nhất này diễn ra trong ý tưởng về tính tương đối và trong tinh thần không tưởng nói chung. Cần phải dẫn lại đây những lời nồng nhiệt của người thanh niên trẻ :

Sự loại trừ tính tĩnh, sự đào thải cái tuyệt đối : đó chính là xu thế chủ đạo của thời hiện đại, vấn đề của thời sự nóng bỏng. Triết học phủ định và những chiếc xe tăng, những kinh nghiệm khoa học và những đại biểu xôviết, nguyên lý về tính tương đối và tiếng kêu “Hạ xuống !” của những nghà tiền phong chủ nghĩa phá đổ mọi vách ngăn của nền văn hóa cũ kỹ. Tính thống nhất của các mặt trận thật đáng ngạc nhiên.

Chủ nghĩa tập thể đương đại thuận tai với ý tưởng này : nó thay thế những giá trị trừu tượng bằng những giá trị là kết quả của sự lựa chọn của một nhóm người, thay thế truyền thống bằng quyết định hiện tại.

Văn bản của Bakhtine, còn ngắn hơn cả văn bản của Jakobson, cũng đưa tính thống nhất đăng quang, đặc biệt là tính thống nhất giữa nghệ thuật và đời sống; nhưng theo một viễn cảnh hoàn toàn khác. Trước hết, Bakhtine không dựng lên một sự ghi nhận về những gì đang là mà là một lý tưởng về những gì phải là; tiếp đến, ông hướng đến thái độ của chủ thể, người hành động trong đời sống và người sáng tạo trong nghệ thuật hơn là nội dung của những vật chuyển động (cảm hứng về sự thống trị của cái tương đối, theo Jakobson). Bakhtine thừa nhận : theo thói quen, cuộc đời của nghệ sĩ và tác phẩm của anh ta không có gì chung, hay có chăng thì chỉ là một sự thống nhất thuần túy cơ học, một sự đặt kề nhau. Tình trạng đó không làm ông thỏa mãn, bởi nó làm tổn hại cả nghệ thuật lẫn thi ca. Vậy thì hai lĩnh vực đó có thể tìm thấy sự thống nhất của chúng ở đâu ? Trong ý niệm về tính trách nhiệm (responsabilité) – cái mà cũng có thể nói là tính can phạm (culpabilité). Tôi cần phải tự chịu trách nhiệm về tất cả những gì tôi sáng tạo ra với tư cách một nghệ sĩ cũng như tất cả những hành động khác mà tôi đã làm trong cuộc đời. Còn hơn thế, tôi phải làm cho cuộc đời có được vẻ đẹp như là nghệ thuật của tôi đòi hỏi và làm cho nghệ thuật của tôi cũng nghiêm túc như chính bản thân cuộc đời. Tôi trả lời những câu hỏi trong nghệ thuật bằng chính cuộc đời và trả lời cho những câu hỏi của đời sống bằng nghệ thuật. “Nghệ thuật và cuộc đời không phải là một và cùng một vật mà chúng phải hòa nhập trong tôi, trong tính thống nhất về trách nhiệm của tôi”.

Những sự khác biệt về chi tiết giữa hai văn bản này là rất nhiều; nhưng sự đối lập quan trọng nhất, soi sáng bởi tác phẩm của cả hai người trong nửa thế kỷ tiếp theo có lẽ chính là điều này : Jakobson mô tả thế giới của sự sáng tạo và tư tưởng như một vật thể phi nhân (objet impersonnel) còn Bakhtine lại lựa chọn một viễn cảnh mà trong đó, chiều kích cá nhân là không thể nào giản lược được. Đối với Jakobson, tính thống nhất diễn ra trong sự nhận thức về thế giới vật lý và tinh thần thời đại thấm đẫm tất cả những tuyên ngôn của ông; đối với Bakhtine, nó có thể diễn ra (hay không diễn ra) bởi một hành vi có ý chí của chủ thể, kẻ quyết định chịu trách nhiệm, đồng thời và đơn độc, nghệ thuật của anh ta và cuộc sống thường nhật của anh ta. Nếu người ta muốn sử dụng khái niệm của Bakhtine, khái niệm mà ông đã sử dụng lại của Hermann Cohen, người ta có thể nói về cái khác nhau giữa dannoe và zadannoe, giữa Gegebene và Aufgegebene (chúng ta có thể dịch, cố giữ nguyên sự gần gũi giữa hai khái niệm : cái được trao cho (le donné) và cái được ra lệnh (l’ordonné)). Jakobson đã dấn thân, dẫu có thể ông không biết, vào con đường của khoa học, trong khi đó, Bakhtine hướng đến con đường của đạo đức, ở đó, ý chí, tự do, trách nhiệm trở thành những phạm trù cơ bản.

Về ngôn ngữ như một vật thể hoặc như một sự kiện

Giờ đây, chúng ta hãy phân tích những đường hướng chính trong lý thuyết của Jakobson, những gì mà sau này ông sẽ phát triển từ bài báo thời trẻ. Quay lại với hành trình của chính mình, trong một loạt trao đổi với nhiều người khác nhau vào những năm cuối đời, Jakobson luôn luôn chỉ rõ hai nguồn ảnh hưởng quyết định đối với ông, hai nguồn ảnh hưởng mà sự đồng tồn tại của chúng có thể nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên : đó là của nghệ thuật tiền phong và của hiện tượng luận.

Nghệ thật tiền phong mê hoặc ông từ năm 1912 với hai gương mặt kiểu mẫu mà Jakobson coi là hóa thân của toàn bộ trào lưu nghệ thuật này : nhà thơ Khlebnikob và họa sĩ Malevitch. Ông gặp cả hai người trong năm 1913 và dành cho họ một sự tôn kính thực sự. Về Khlebnikov, cho đến tận cuối đời, ông vẫn nói rằng ông tin đó là nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ XX, về phần Malevitch, ngay sau lần gặp gỡ đầu tiên, ông đã trở thành một “tín đồ cuồng nhiệt”. Điều mà Jakobson rút ra từ hai nhà sáng tạo này có lẽ chỉ là một, đó là khả năng biết cách từ chối chiều kích quy chiếu – của các từ, ở người này, của hình ảnh, ở người kia – mà không vì thế làm mất đi chiều kích ngữ nghĩa và không bị sa vào một thứ âm nhạc thuần túy ở người này (nghĩa là một trò chơi thuần túy của các hợp âm và các giai điệu – ND) hoặc một thứ trang trí giản đơn ở người kia. Không, cái làm ông quan tâm, đó là một khát vọng muốn đạt đến một ý nghĩa gắn liền một cách cố hữu với “nguyên tử” (“atomes”) của ngôn ngữ hoặc của hình ảnh hơn là với “phân tử” của những thứ đó, nghĩa là đạt đến những âm thanh có tính ngôn ngữ (sons linguistiques), đến mầu sắc và đến những hình thức có tính hội họa (les formes picturales) hơn là đến những từ (mots) và những hình ảnh (figures). Trên phương diện đó, những bức tranh trừu tượng của Malevitch và những bài thơ siêu ý thức (supraconscience – tiếng Pháp, zaumnye – tiếng Nga – dẫn theo nguyên bản bài viết của T. Todorov) của Khlebnikov gặp nhau : thế giới dầu với tư cách là cái quy chiếu hay với tư cách là bối cảnh của sự sáng tạo và sự tiếp nhận bị đẩy ra xa, bài thơ và bức tranh được tri giác (percevoir) trong chính nó, như những sự vật có giá trị tự thân, và không phải như những thành tố của một mối liên hệ với những gì ngoài nó; dẫu vậy, nó vẫn giữ trong nó ký ức và những lời hứa về nghĩa (le souvenir et la promesse du sens).

Jakobson luôn luôn nhấn mạnh rằng ảnh hưởng nói trên của các nhà nghệ sĩ tiền phong là mạnh hơn của các vị giáo sư của ông trong thời gian học đại học. Dẫu vậy, ông chưa bao giờ bỏ qua tác động của Husserl, người mà ông cho là “một triết gia có lẽ là người có ảnh hưởng quan trọng nhất đến những công trình lý thuyết của tôi”, đặc biệt là qua tập hai công trình Những nghiên cứu luận lý học (Recherches logiques). Suốt đời, Jakobson luôn mang theo mình cuốn sách này, một cuốn sách mà ông có được vào năm 1915, giữa thời gian chiến tranh với nước Đức (bản của ông có lẽ được chuyển qua những người Hàlan). Hơn nữa, ông cũng thường xuyên đi lại với nhà hiện tượng luận lớn nhất của nước Nga, Gustav Spet, môn đệ trực tiếp của Husserl. Ông đã rút ra được điều gì từ hiện tượng luận của Husserl ? Trước hết, đó là khả năng (có tính phủ định) về việc giải phóng khỏi phối cảnh tâm lý học : hiện tượng luận cho phép nắm bắt chính bản thân sự vật hơn là nắm bắt quá trình sinh thành của sự vật hoặc sự tiếp nhận sự vật.

Spet đã yêu cầu tôi, Jakobson nhớ lại, không được phép để bị lôi kéo vào một thứ chủ nghĩa tâm lý ngây thơ và dung tục và đừng có ra sức giải thích bằng tâm lý học các sự kiện ngôn ngữ (…). Ông muốn tiến hành một hiện tượng luận về ngôn ngữ hơn là một tâm lý học về ngôn ngữ.

Theo những hồi ức của Jakobson, Spet còn nói :

Những nhà tâm lý học hiểu biết về ngôn ngữ ít hơn chính bản thân những nhà ngôn ngữ học. Anh hãy nghiên cứu ngôn ngữ như một vật (veshch’). Đừng có tham vấn các nhà tâm lý học, anh hãy nghiên cứu ngôn ngữ như một vật thể giữa các vật thể, giữa những cấu trúc xã hội khác […]. Trước hết là ngôn ngữ trong chính nó.

Chính Jakobson cũng tìm thấy trong tác phẩm của Husserl “khả năng phân tích cấu trúc ngôn ngữ trên cơ sở chính bản thân những dữ kiện ngôn ngữ”

ở đây, thêm vào hai yêu cầu thiết thực : mối quan tâm đến những cấu trúc lôgích có tính tổng thể, đến những quan hệ giữa những bộ phận và cái tổng thể và, ở phía bên kia, một thứ ngữ pháp phổ quát; và mặt khác, cái mà Jakobson gọi là một tiếp cận mục đích luận (approche téléologique), nghĩa là hướng tiếp cận đặt vấn đề về chức năng của mỗi thành tố hay hình thức ngôn ngữ. Một cách nào đó, chính những mục đích của mỗi thành phần của ngôn ngữ, in dấu trên chính nó, sẽ tạo nên một mô hình có mục đích (modèle téléologique). Bởi vậy, chính là chức năng chứ không phải là ngữ nghĩa thu hút sự quan tâm của Jakobson.

Chủ nghĩa tiền phong và hiện tượng luận, hai nguồn ảnh hưởng đó đã ghi dấu lên một đặc trưng trong tư duy của Jakobson: mối quan tâm đến ngôn ngữ như là một vật thể, một khách thể dù rằng đó là một khách thể có tính mục đích và chính nó cũng tham gia như một thành tố bổ nhiệm cho mục đích (cho chức năng) (son intérêt porte sur le langage comme chose, comme objet, même si c’est un objet intentionnel et fait lui-même de parties d’intentions (de fontions)). Vậy nên người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy ngôn ngữ trở thành một đối tượng của nhận thức khoa học tương thông với những khoa học khác – kể cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên -, chứ không phải (chỉ – ND) là ngôn ngữ học (linguistique) mà không phải gặp bất kỳ một khó khăn về nguyên tắc nào. Trong những năm cuối đời, Jakobson nghiên cứu sự tương đồng giữa mã di truyền và mã ngôn ngữ và trong suốt sự nghiệp của mình, ông thường thích những ví dụ dẫn ra từ khoa học tự nhiên mà không chịu tìm hiểu xem dựa vào đâu để có thể khẳng định tính đặc thù của khoa học nhân văn: “Sự đối lập giữa ngôn ngữ học, bộ môn thiếu chính xác và những khoa học được coi là chính xác, điển hình là vật lý, là một sự bất công”, ông đã viết như vậy vào năm 1970. Đối với ông điều cốt yếu chính là những tiến bộ của hiểu biết: nhận biết thế giới, đó vừa là nghĩa vụ, vừa là danh hiệu cao quý của nhân loại; sự khác biệt giữa những đối tượng nghiên cứu chỉ là thứ yếu.

Mô hình ngôn ngữ do Jakobson thiết lập mang dấu ấn sâu sắc của việc xích lại gần các khoa học chính xác. Trong một lần đến thăm Viện kỹ thuật Massachusetts (MIT), ông đã tiếp xúc với những nhà lý thuyết tin học như Norbert Wiener hay D. M. Mckay và tình nguyện sử dụng từ vựng của họ. Mô hình trứ danh của ông về chức năng ngôn ngữ, trình bày năm 1960 trong buổi thuyết trình “Ngôn ngữ học và thi pháp học” là sự sử dụng lại và phức tạp hoá mô hình Buhler, đồng thời định vị trong bối cảnh một lý thuyết chung về mã và thông tin; Đối tượng nhận thức ở đây chính là phát ngôn (énoncé linguistique) (“thông điệp”) (le “message”) dù mang trên chính nó dấu vết hay những khả năng quan hệ với các thành tố khác của văn cảnh: người phát (émetteur), người nhận (récepteur), mã (code) hoặc hệ tham chiếu (référent).

Jakobson thường nhắc đi nhắc lại là niềm đam mê của ông đối với thi ca – bắt đầu là thơ tượng trưng và sau đó là vị lai (cần lưu ý niềm đam mê của Jakobson đối với thi ca đặc biệt gắn bó với những hình thức thơ này – ND) – có nguồn gốc từ niềm đam mê đối với ngôn ngữ và người ta biết rằng cứ mỗi khi muốn phân tích một văn bản văn học, ông lại thường không phải ưu tiên tuyệt đối nhưng rõ ràng là có sự thiên vị, xoay về những văn bản thi ca. Đối với ông, thi ca nằm ở đỉnh cao nhất trong thứ bậc văn chương. “Thi ca – ông nói trong một cuộc tiếp xúc – là thể loại nghệ thuật ngôn từ duy nhất mang tính phổ quát. Tại sao ? Bởi vì văn xuôi nghệ thuật chính là thơ được làm nhạt bớt, là thi ca tiến lại gần ngôn ngữ thường nhật”. Hiểu việc văn xuôi – chẳng hạn như tiểu thuyết – là thi ca được làm nhạt bớt như thế nào ? Là một sự thoả hiệp giữa thi ca và ngôn ngữ thường nhật ? Trước hết, là ở chỗ rằng thi ca tuân theo những sự gò bó hình thức chặt chẽ nhất (nhịp điệu, tổ chức ngữ âm, ngữ nghĩa), rằng thi ca mang trong nó một hình thức không gian tạo nên từ sự nhắc lại, đối xứng, phân cấp hay đối lập (nghĩa là nó là một vật thể có tính tự trị, một thứ “hình thức mang tính nội dung” chứ không phải thuần túy chỉ là một vật thể là hình chiếu, bản sao của một hiện thực ngoài nó – ND); Thi ca là một vật thể được chạm khắc mà mỗi từ là một sự siêu xác định và không thể giản lược được. Trái lại (hành vi) hội thoại thường nhật (la conversation quotiedienne) lại là sự phản chiếu của tính võ đoán. Tiểu tuyết nằm ở lưng chừng giữa hai cực đó.

Hơn nữa ngôn ngữ thường nhật trên hết là một hoạt động tương tác giữa những người đối thoại, trong đó phát ngôn chỉ là một phương tiện (và cũng chính lý do này nên nó có thể hoán đổi lẫn nhau (giữa các chủ thể – ND)), trong khi đó thì những văn bản thi ca lại được lột bỏ khỏi vai trò tương hỗ trên, nó hướng đến tất cả, nghĩa là không một ai cả, và không chờ đợi một câu trả lời, phản ứng mà nó gợi ra không phải là một sự đối đáp bằng ngôn từ mà là một sự chiêm ngưỡng và trầm tư. Vậy nên thơ phải được coi là một sản phẩm được chế tạo ở cấp độ hoàn thiện cao nhất. Tiểu thuyết cũng là một tác phẩm nghệ thuật, nghĩa là nó thoát ra khỏi giao tiếp thông thường, nhưng lại trình bày chính sự giao tiếp đó trong mình: giữa những nhân vật và giữa nhân vật và tác giả. Nếu tính đa hưởng đó không tồn tại thì chính xác ra, hư cấu sẽ không còn nữa mà chỉ là thi ca.

Nói cách khác, thi ca chính là độc thoại, việc sử dụng thường nhật ngôn ngữ là đối thoại, còn tiểu thuyết đó chính là một độc thoại dựa trên khung cảnh của những đối thoại . Trên thực tế thì những thể loại thường chồng chéo và thâm nhập lẫn nhau: chỉ trong một vài trường hợp ngoại lệ người ta mới thấy những trạng thái thuần khiết. Vậy mà chính những trường hợp ngoại lệ đó đã lôi cuốn Jakobson. Một trong số đó là những bài cuồng thi của Holderlin. Cơn cuồng phóng của nhà thơ trên bình diện ngôn ngữ, thể hiện ở chỗ những dấu hiệu dù là nhỏ nhất của đối thoại đều phải bị tẩy khỏi văn bản của ông ta: thuần tuý thi ca, thuần tuý độc thoại. Những người đến thăm Holderlin trong thời gian ông bị giam cầm đều nhất trí: nhà thơ không còn khả năng giao tiếp, trong khi đó thì năng lực thi ca của ông vẫn toàn vẹn. “Mọi sự hiện diện của con người đều làm cho ông ngờ vực và cảm thấy tức thở , Bettinn Von Arnim viết. Chỉ còn có cảm hứng là còn cất tiếng nói trong ông, suốt hàng giờ liền, ông viết những câu thơ, những bài thơ như phản ánh chiều sâu và niềm hoan lạc từng diễn ra trong tinh thần của ông”. Tất cả những thành tố liên quan đến văn cảnh phát ngôn – những câu hỏi, những câu trả lời, sự hiện diện cá nhân – đều bị xoá khỏi ngôn bản hoặc bị làm biến chất một cách sâu sắc.

Trong một cuộc thuyết trình về Holderlin và bản chất thi ca, Heidegger khẳng định hành vi đối thoại dẫu chưa trở thành một thể thức ngôn ngữ đơn giản cũng chính là cái làm nên nền tảng của ngôn ngữ. Một quan niệm như vậy là hoàn toàn trái ngược với quan niệm của Holderlin về ngôn ngữ, Jakobson bác bẻ lại.

“Nếu ngôn ngữ, việc áp đặt một hệ thống từ và những nguyên tắc kết cấu mang tính bắt buộc là điều cốt yếu đối với Holderlin, thì thứ ngôn ngữ đó hoàn toàn không mang tính đối thoại mà chỉ là một thứ thơ ca thuần túy (…) Những gì được truyền tải loại khỏi thông báo thuần tuý thi ca mọi sự quy chiếu với hành vi nói”.

Cái cực thu hút Jakobson trong suốt cuộc đời chính là thi ca ở trạng thái thuần tuý, tức sự độc thoại.

Cắt đứt khỏi văn cảnh thông báo cũng sẽ dẫn đến chia cắt nó với cái “ở đây” và cái “ngay bây giờ” (“ici”, “maintenant”), nói cách khác khỏi thì hiện tại. Dưới sự ảnh hưởng của những nghệ sĩ vị lai, trong tinh thần của Jakobson thời trẻ, có một đòi hỏi mạnh mẽ hướng về tương lai hơn là thực tại. Ông thường thích nhắc lại mô thức của Khlebnikov, theo đó, quê hương của sáng tạo chính là tương lai, hoặc của Maiakovski, người ta cho rằng chủ nghĩa hiện thực của thi ca chính là ở việc tiên tạo tương lai, cho đến tận cuối đời, Jakobson nghĩ rằng “bằng sức mạnh sáng tạo, ký hiệu mở lối về phía tương lai vô tận” và nhìn thấy ở đó bản chất bí mật của thi ca. Trong giai đoạn Cách mạng (chỉ cuộc cách mạng tháng Mười), người ta vẫn ghi lại là những khẩu hiệu vị lai thường vang lên với một tinh thần cách mạng và duy ý chí (volontariste) với mong muốn xây dựng nên một thế giới hoàn hảo mới. Tinh thần đó cho phép làm cho người ta chấp nhận một thực tại tầm thường, nhân danh tương lai sáng sủa. Nhưng muộn hơn, vào thời điểm Maiakovski chết, ở một trong những văn bản hết sức riêng tư, Jakobson đã thú nhận: “Chúng ta đã sống quá nhiều bằng tương lai, suy nghĩ quá nhiều đến nó, tin tưởng vào nó, chúng ta đã mất đi cảm giác về một thực tại đủ đầy trong chính nó, chúng ta đã mất đi cảm quan về hiện tại”.

Khi hồi tưởng lại những mối quan hệ với giới văn nghệ sĩ thời cách mạng, Mikhai Bakhtine có nhắc đến – người ta có thể ngạc nhiên về điều này – tên tuổi của Khlebnikov và Malevitch. Tuy nhiên,thay vì hình thành nên những ý tưởng của mình từ hình mẫu những nghệ sĩ này hoặc tìm thấy ở đó có sự minh chứng mang tính khái niệm theo kiểu Jakobson, thì Bakhtine bày tỏ sự ngưỡng mộ ít nhiều đáng ngạc nhiên và dừng lại ở vẻ bên ngoài của hai đại biểu của phái tiền phong. Đối với ông, Khlebnicov là một nhà thơ mang tính chất carnival điển hình, kẻ xa lạ với mọi thứ bày đặt, hơn thế nữa, không chối từ thế giới thực tại xung quanh mà ngược lại thiết lập nên những tương quan mới lạ với thể giới đó. “Ông biết cách trừu tượng hoá những gì là đặc thù và biết nắm bắt một thứ tổng thể vô tận và không giới hạn của trái đất”. Chính vì thế nên những từ mà Khlebnicov sử dụng không giống với những từ mà những người khác sử dụng: “Nếu người ta tiếp tục ứng dụng chúng vào thực tại đặc thù và thường nhật, người ta sẽ bị kết án là ngộ nhận, nhưng nếu ngược lại, nếu người ta đạt đến khả năng thâm nhập vào dòng tư duy mang tính vũ trụ và phổ quát của ông, lúc đó tất cả sẽ trở nên có thể hiểu được và hấp dẫn ở mức cao nhất”.

Về phía Malevitch, ông gây ấn tượng đối với Bakhtine trước hết bởi tính liêm khiết tuyệt đối về đạo đức (“Ông không tìm kiếm thành công, sự nghiệp hay tiền bạc … Đó là kẻ khổ hạnh cuồng si những lý tưởng của mình”), và sau nữa, bởi khát vọng vượt thoát khỏi thế giới cụ thể bao quanh. “Người ta nói rằng nghệ thuật của chúng ta tiến hành trong một góc nhỏ bé, một không gian ba chiều… Vũ trụ vĩ đại không thể đưa vào trong đó, không có chỗ cho nó ở đấy”. Malevitch rõ ràng đã thử xâm nhập vào cái vũ trụ ở phía bên kia thế giới thân thuộc của chúng ta, một vũ trụ mà số chiều không gian là vô tận. Đối với hai nhà nghệ sĩ tiền phong, Bakhtine có một thái độ thán phục trước con người sáng tạo đích thực trong sự dấn thân nghệ thuật – nói khác đi là quan điểm đạo đức của họ, và thấu hiểu mà không cần đồng nhất hoá (mà khái niệm của Bakhtine và Vnenakhodimost) những dự kiến trí tuệ của họ: tất cả là ở chỗ vượt khỏi thế giới gần gũi và mang tính người một cách ước lệ để tìm đến một viễn cảnh toàn thể.

Còn hơn cả Jakobson, Bakhtine chìm đắm tuổi thanh xuân trong triết học: ngoại ngữ đầu tiên của ông, học từ bé và sử dụng như tiếng mẹ đẻ thứ hai, không phải là tiếng Pháp như Jakobson mà chính là tiếng Đức; ông đọc nguyên bản cuốn Phê phán lý trí thuần tuý của Kant vào tuổi mười ba… Sau đó, ông làm quen với hiện tượng luận của Husserl nhưng chỉ tìm thấy ở đó những phương tiện phân tích chứ không phải là một thứ triết học có thể trả lời những mối bận tâm riêng của ông. Tư duy của Bakhtine thường có xu hướng mang tính cách đạo đức và vì vậy nên trong số những môn đệ của Husserl, ông đặc biệt quan tâm đến Max Scheler và thuyết nhân vị (Personnalisme). Tuy nhiên thu hút được quan tâm của Bakhtine nhất vẫn là những nhà triết học hướng thẳng đến luân lý, trong đó, quan trọng hơn cả là Herman Cohen, một người theo thuyết Kant mới “một nhà triết học tuyệt đối đáng lưu ý, người đã để lại trong tôi một ảnh hưởng vô tận”, đồng thời, trong tư tưởng của ông này cũng có thể nhận ra dấu vết tư tưởng của Martin Buber. Theo Bakhtine, Buber “là nhà triết học vĩ đại nhất của thế kỷ XX và có lẽ cũng là duy nhất … Tôi nợ ông rất nhiều, nhất là ý tưởng về đối thoại”. Khác với Jakobson quan tâm đến triết học Đức ở khả năng “đặt trong ngoặc” (khái niệm của hiện tượng luận) sự tham dự cụ thể của con người; trái lại, Bakhtine lại quan tâm đến tính không thể lược quy của chính những tham dự đó. Bên cạnh những mô hình mang tính mục đích, rất cao giá đối với Jakobson, Bakhtine tìm cách thiết lập nên một mô hình liên chủ thể (Intersubjectif); làm khác đi nghĩa là có nguy cơ không biết đến sự đặc thù của nhân tính.

Từ thời điểm năm 1986, chúng ta hãy ngược lên những tác phẩm đầu tiên của Bakhtine: phần đâù của một tác phẩm triết học xuất bản vào khoảng 1920 và được nhà xuất bản đặt tên là Triết học của hành động. Văn bản này đã để lại những tiếng vang trong rất nhiều những ghi chép và toàn bộ quãng đời về sau của ông (1960 – 1975), nó cho phép nắm bắt toàn bộ sự nghiệp của ông và thiết lập nên trật tự nội tại của các luận điểm. Bakhtine là một nhà nhị nguyên (dualisme). Tại điểm khởi đầu cũng như điểm kết thúc trong sự nghiệp của ông, luôn thấy hiện diện một sự đối lập mà những khái niệm phổ biến nhất có thể là : nhân tính và phi nhân, chủ quan và khách quan, không gian và thời gian. Thế giới của những vật thể hiện tồn, nó tuân theo những quy luật vật lý vĩnh hằng, phi thời gian, cái tiết lộ một nhận thức “mang tính quy luật” (théorétique). Nhưng thực thể người lại là một cái gì không thể lược quy vào trong thế giới đó, bởi con người dấn vào một kích thước thời gian một chiều: mỗi tồn tại người, trong lúc vẫn tuân theo những quy luật chung của loài, vẫn là một cá nhân tuyệt đối duy nhất, ở một thời điểm này, anh ta gia nhập cuộc đời và thời điểm kia anh ta đi khỏi nó, cuốn theo dòng vận động với một chiều ý nghĩa duy nhất. Giữa hai thế giới đó vẫn có một giải pháp nối tiếp: thực tiễn (la pratique) không phải là sự cụ thể hoá những lý thuyết mà là một thế giới riêng, tuân theo những quy luật riêng.

Tất cả mọi sự lược quy tính nhị nguyên này vào bất kỳ một chủ nghĩa nhất nguyên nào cũng đều là tai hại. Bakhtine chống lại chủ nghĩa nhất nguyên chủ quan vì nó phủ nhận một nhận thức khách quan về thế giới. Nhưng ông còn đấu tranh quyết liệt hơn nữa chống lại một chủ nghĩa nhất nguyên khác, không biết đến tính duy nhất và không thể đảo ngược được của tồn tại người: thứ nhất nguyên mang tính định mệnh hoặc thực chứng của khoa học đương đại. Khoa học là chính đáng nhưng người ta cần tự vệ chống lại sự ngự trị của nó: nhất là bên ngoài sự chi phối của khoa học còn là phạm vi của đạo đức. Hành vi đạo lý chỉ tồn tại thông qua sự đảm nhận của cá nhân mà ngay cả sự suy lý, dù là chân xác nhất cũng không tạo nên nổi. Điều đó cũng muốn nói rằng ngay trong nhận thức về con người, cần phải coi trọng những gì là nhân tính một cách đặc thù chứ không chỉ những gì cho phép đồng nhất nó với phần còn lại của thế giới. Không thể giản lược những con người thành những vật thể cũng như không thể biến khoa học nhân văn thành khoa học tự nhiên. Sự thừa nhận tính đặc thù đó không đồng nghĩa với một sự lựa chọn mang tính ngu dân nào đó hay một sự biện hộ cho cái phản duy lý: ngôn ngữ có thể được nhận thức nhưng không thể trả giá bằng việc huỷ diệt tính đặc thù của nó (identité).

Khái niệm ngôn ngữ mà những nghiên cứu hình thức luận lấy làm nền tảng, trong con mắt của Bakhtine, gợi ra sự lãng quên tính nhị nguyên đó. Ngôn ngữ, cũng như tác phẩm (nghệ thuật) ngôn từ có một đặc tính khách quan, vật chất mà người ta có thể và cần phải nhận biết. Tuy vậy, ngôn ngữ lại không phải chỉ là một sản phẩm mà còn là một hành động, không phải chỉ là một vật thể mà còn là một biến cố. Không thể tự cho phép bỏ qua cái khía cạnh tương hỗ của lời nói, khía cạnh biến cố duy nhất chịu trách nghiệm về chính bản thân sự hiện tồn của những người tham gia đối thoại; hơn nữa, cũng không thể giản lược khía cạnh đó vào một sự thể hiện duy nhất, ở bên trong văn bản, của một vài “chức năng” có thể là trong mối quan hệ tham chiếu (của những “chức năng” đó) với những yếu tố thuộc về văn cảnh. Không gì biểu hiện rõ ràng sự đối lập giữa mô hình của Jakobson về ngôn ngữ và khái niệm của Bakhtine hơn là sự hiện diện ở Jakobson của yếu tố “giao tiếp” và những chức năng tương ứng, cái được gọi tên là “phatique” và được minh hoạ nhờ những ví dụ mượn từ người gọi điện thoại: “Allo, anh có nghe thấy tôi nói không ? Nói đi, anh có nghe thấy tôi nói không ?”. “Giao tiếp”, Bakhtine có thể bắt bẻ lại, không phải là một chức năng giữa những chức năng khác mà là những gì biến ngôn ngữ thành một cái gì khác hơn là một mã tín hiệu (un code).

Tôi không nghĩ rằng cuốn sách in năm 1928 của Pavel Medvedev Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học là do M. Bakhtine viết; nhưng tôi tin rằng những ý tưởng được trình bày trong cuốn sách này được gọi ý trực tiếp từ Bakhtine. Chúng ta sẽ tìm thấy ở đây sự phê phán mô hình ngôn ngữ của Jakobson, như Bakhtine sẽ trình bày vào năm 1960. “Trong sự diễn dịch của họ, những nhà hình thức chủ nghĩa ngấm ngầm giả định trước một quá trình thông tin (communication) hoàn toàn được xác định từ trước và bất biến, và một sự truyền dẫn cũng hoàn toàn bất biến”. Họ coi là định đề, Medvedev gợi ra, hai cá thể đã được xác lập A và B và một thông điệp X được thiết lập như là một đối tượng từ người này đến người kia. Trên thực tế “làm gì có một thông điệp X đã hoàn tất. Nó chỉ được hình thành nên trong chính quá trình giao tiếp giữa A và B ”. Vào năm 1970, đích danh Bakhtine lặp lại sự phê phán này:

“Ngữ nghĩa học quan tâm đặc biệt tới sự truyền dẫn một thông điệp đã hoàn tất nhờ một mã ngôn ngữ đã hoàn tất. Thực ra thì, trong lời nói sống động, nói một cách chặt chẽ thì những thông điệp được cấu tạo nên, lần đầu tiên, trong tiến trình truyền dẫn và ở chỗ sâu xa thì làm gì có mã (ngôn ngữ) (code)”.

Điều mà những nhà hình thức luận không biết đó chính là ngôn ngữ như là một biến cố – cái đang sinh thành (événement – avènement – tiếng Pháp trong nguyên văn; bytie – sobytie –tiếng Nga phiên âm theo bản tiếng Pháp), như là sự xuất hiện của những gì chưa hề tồn tại trước đó, những gì sẽ thiết lập nên một hình thể (configuration) mới giữa những người tham gia đối thoại.

Tuy vậy, thái độ của Bakhtine đối với chủ nghĩa hình thức không hoàn toàn phủ định. Đối với những công trình nghiên cứu hình thức ngôn ngữ (của Eikhenbaum, Tynianov, Jakoubinski) ông luôn coi đó là những điểm khởi đầu. Tuy nhiên, ông phê phán họ là đã bỏ qua một bình diện khác của ngôn ngữ, không kém phần bản chất: sự tương tác giữa những cá thể người. Đối thoại, Bakhtine sẽ nói với Heidegger, nhất là cùng với Baber, chính là điều kiện của ngôn ngữ. Chính vì thế nên khi chuyển từ những tư biện triết học sang những phân tích phong cách và lịch sử văn chương, ông đã nghiên cứu tiểu thuyết nhiều hơn thi ca. Trong thi ca, tính chất đối thoại của ngôn ngữ bị tẩy đi: nhà thơ nói về thế giới (trong đó bao hàm cả anh ta) mà không cần mô tả sự tương tác diễn ra trong ngôn ngữ. Nhà tiểu thuyết, trái lại, trình bày đối thoại: giữa những nhân vật, giữa tác giả và nhân vật. Vả lại, “bị tẩy xoá” không có nghĩa là loại trừ hết mọi dấu vết. Trong một vài phân tích của cuốn Triết học của hành động Bakhtine đã chỉ ra trong một bài thơ của Pouchkine, người ta có thể phân biệt giọng điệu của từng nhân vật nam, nữ, và của tác giả.

ở đây, việc sử dụng khái niệm, đối thoại và độc thoại, đòi hỏi một sự thận trọng nhất định. Đúng ra thì, ở nghĩa rộng nhất của từ, mọi ngôn ngữ đều là đối thoại, nghĩa là vượt khỏi cá nhân. Mọi sản phẩm ngôn ngữ đều hướng đến một ai đó, kẻ sẽ nhân nó lên, vô danh, vắng mặt hoặc là sản phẩm của sự tách đôi của người thông báo. Bản thân ngôn ngữ đến với chúng ta từ những người sống trước chúng ta; hơn nữa, mỗi phát ngôn đều mang trong nó dấu ấn vết của những phát ngôn trước đó và đòi hỏi một sự hồi đáp (đó chính là cái mà ngày nay người ta gọi là liên văn bản – intertextualité). Tuy vậy, vẫn có khả năng đặt đối lập đối thoại và độc thoại, hiểu trong nghĩa chặt chẽ nhất, như là một bên, là lời nói không chờ đợi và không gợi ra câu trả lời và một bên là lời kêu gọi và tất nhiên là lời gợi lên lời đáp. Một lý thuyết mang tính độc thoại về ngôn ngữ, vì thế coi đối tượng của sự thông báo như là tự nó; lý thuyết đó không biết đến chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và cũng không đặt vấn đề về điều đó. Một lý thuyết mang tính đối thoại về ngôn ngữ, trái lại, lấy đối tượng là sự tương tác giữa những cá nhân và sự chuyển hóa của chúng trong quá trình giao tiếp. Ngôn ngữ không còn là một đối tượng mang tính vật thể để phân tích mà là thành tố của một biến cố duy nhất độc đáo. Chính điều này giải thích sự quan tâm của Jakobson hướng về thi ca còn của Bakhtine lại hướng về tiểu thuyết.

Cắm rễ ngôn ngữ vào thời hiện tại, khi mà những mã trừu tượng và chất liệu âm thanh chuyển hóa thành một biến cố duy nhất và không thể đảo ngược, trong con mắt của Bakhtine, điều đó đồng nghĩa với việc không thể đổi niềm đam mê thời hiện tại lấy một sự sùng bái tương lai. Thực tế là khi ở lại nước Nga, Bakhtine đã chứng kiến đầy đủ cái gọi là lời hứa của tương lai; luôn luôn được thể chế nhắc đi nhắc lại: một cách làm cho người ta chấp nhận sự nô lệ. ảo ảnh huyễn tưởng không thể có thật. Trong thế giới mà Bakhtine sống, tương lai bị hạ xuống làm nô lệ cho sự ngột ngạt thực tại. Ông viết năm 1943:

“Ngày hôm nay vẫn luôn hiện diện (khi người ta tiến hành những vụ khủng bố) như một người đầy tớ của tương lai. Nhưng đó là một thứ tương lai tiếp tục và kéo theo là sự ngột thở của áp bức, thay vì giải phóng và biến đổi”.

Nỗi sợ cũng như niềm hy vọng về tương lai cho phép điều tiết sự bằng lòng với hiện tại, bởi thế chúng là những phương tiện thuận lợi cho sự tuyên truyền vậy bọc lấy Bakhtine và những người cùng thời với ông. Nghệ thuật đích thực, trái lại, giải phóng chúng ta khỏi những tình cảm đó và sống trong thời hiện đại.

Cùng một sự e dè trước lịch sử

Jakobson và Bakhtine suy tư về ngôn ngữ và văn chương nhiều hơn về những sư kiện chính trị, nhưng liệu chúng ta có thể bỏ qua được bối cảnh lịch sử mà trong đó, hai nhà tư tưởng Nga của thế kỷ XX đã sống và cái thời đại mang tên là chế độ cộng sản? Họ đã phản ứng như thế nào trước thực tại lịch sử họ sống? Jakobson sống ở Moscou trong thời gian diễn ra Cách mạng tháng Mười. Sự mãnh liệt của những biến cố công cộng dường như chỉ gây nên một tác động duy nhất: đẩy ông chìm sâu hơn nữa vào lĩnh vực mà ông thuộc nằm lòng. Vào năm 1972, ông đã miêu tả những phản ứng của mình trước thời cuộc:

“Vậy là tôi tự nhủ: chúng tôi đang sống trong một thời đại của những đổi thay vĩ đại, những đảo lộn, náo động; chúng tôi phải gấp rút hoàn tất việc học hỏi, nghiên cứu, trong khi mà điều đó vẫn còn có thể, để tự vũ trang cho mình về tri thức”.

Đó là tất cả những gì Jakobson đã nói trong những năm cuối đời về Cách mạng tháng Mười. Nếu chúng ta ngược về những năm 1918, ta sẽ nhận thấy rằng, vào khoảng năm 1918, ông bắt đầu tham gia vào không khí nhiệt tình bao quanh; quan điểm của ông gắn với quan điểm của những nghệ sĩ tiền phong, những kẻ tin vào tính thống nhất của cách mạng trong mọi lĩnh vực (bằng chứng hiển nhiên là bài viết về chủ nghĩa vị lai).

Năm 1920, Jakobson rời Nga sang Tiệp , ông nhập cuộc với tư cách là phiên dịch cho phái đoàn Chữ thập đỏ Xô viết, đến Prague có nhiệm vụ hồi hương tù nhân chiến tranh người Nga; sau đó ông hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác nhau do sứ quán Nga giao phó cho đến cuối năm 1920. Người Tiệp xem ông như là nhà truyền bá cho tinh thần cộng sản: nhưng trên thực tế, ông bị giằng xé giữa sự trung thành với lý tưởng cách mạng và niềm thất vọng trước thực trạng Xô viết. Tuy vậy, ông chưa bao giờ nói trước công chúng về việc vì sao và như thế nào ông đã rời bỏ Tổ quốc Nga, nay đã thành Liên bang Xô viết để ở lại Tiệp. Ông duy trì một sự thận trọng đến mức khác thường đối với những khủng hoảng chính trị tiếp theo mà ông đã dành một phần đời cho nó vào cuối những năm 1930. Vào những năm cuối đời, trong những cuộc nói chuyện khác nhau, ông đã kể lại việc mình phải rời bỏ cương vị ở Brno, đốt cháy toàn bộ tài liệu lưu trữ chất đầy 16 xô lớn, trốn tránh suốt một tháng ở Prague, đi Copenhague vào tháng 4 năm 1939, sống ở Oslo từ tháng chín năm 1939 đến tháng năm năm 1941, ở lại Thụy Điển từ năm 1940 đến 1941 và cuối cùng lên tàu đi Mỹ vào tháng năm năm 1941. Một cuộc đời như người ta thấy, đầy biến động, nhưng về sau Jakobson rất thỏa mãn khi nói về quãng đời đó: “Sự nối tiếp nhau của những môi trường khoa học, những mối quan tâm và những từ ngữ mang tính địa phương, điều đó cho phép tôi hình thành nên những vấn đề của riêng mình và mở rộng phạm vi của chúng”. Tóm lại, điều đáng tính đến, đó là sự xô đẩy của cơn bão chính trị, tác động tới sự tiến hóa của những quan niệm khoa học của ông.

Theo những gì tôi biết thì Jakobson chưa bao giờ nói thật nguyên nhân của những sự bức hại đó: ông là người Do Thái. Jakobson xuất thân từ một gia đình Do Thái vô Tổ quốc và vô thần. Dường như là đặc trưng Do Thái không làm ông bận tâm nhiều (trở thành người chính thống Giáo năm 1936, nhờ một trong số những người bạn “lai Âu, á bảo lãnh ”); ông luôn tự coi rằng về nguồn gốc ông là một người Nga chứ không phải người Do thái Nga. Tuy nhiên, trong những năm 30, sự lan tràn của chủ nghĩa Quốc xã đã bắt buộc bất cứ ai không thể không biết đến nguồn gốc Do thái của mình, dù muốn hay không. Đấy chính là lý do giải mã một trong những câu văn có ẩn ý trong cuốn Đối thoại của Jakobson: “Thế là bắt đầu những năm tháng phiêu bạt của tôi, không nơi nương tựa, từ nước này sang nước khác”. Dù Jakobson không có ý ám chỉ nguồn gốc Do thái của mình nhưng trong bút ký về những năm tháng xáo động, không thể chỉ giải thích bằng môi trường gia đình: ở đây có một ý đồ có cân nhắc đặt những ngẫu nhiên của cuộc sống vào trong ngoặc (đặt vào trong ngoặc : sự giản lược hóa – theo cách nói của các nhà hiện tượng luận – ND). Jakobson thường định hướng cái nhìn của mình một cách kiên định về phía khoa học và không cho phép bất cứ một sự chồng chéo nào với “sự lấn lướt của những sự kiện” quanh ông.

Thái độ đối với hệ tư tưởng và thể chế Cộng sản ở Nga cũng được soi chiếu bằng một thái độ thận trọng cực độ. Rất nhiều lần, Jakobson có những cuộc thảo luận về thơ của bạn ông Maiakobski, nhà thơ vị lai mà cũng là người ngợi ca chính quyền Xô viết, tuy nhiên ông không quá dấn sâu vào những cuộc tranh luận ý thức hệ: lý tưởng Công sản không được ngợi ca nhưng cũng không bị phỉ báng. Những vụ thanh trừng và những vụ phát vãng đầy dẫy ở quê hương ông trong những năm 1930 đã gợi lên trong ông, vào năm 1972, một sự sững sờ nhưng được né tránh: “ở đấy (trường Đại học Tổng hợp Moscou) có cả một dây những người rất ưu tú, nhiều người trong số họ sau đó đã biến mất, thật là một thời đại sóng gió”. Chúng ta dừng lại đôi chút ở một người xứng đáng được coi là “có thiên tư” đó. Chúng tôi muốn nói đến Gustav Spet, nhà triết học, môn đệ người Nga của Husserl, người mà Jakobson đã từng nói với chúng ta ông đánh giá cao ông ta đến mức nào và ông cũng khẳng định trong một cuộc đối thoại: “Ông ấy (Spet) thật gần tôi!”. Nhưng khi một trong những người bạn tham gia nói chuyện hỏi có phải là Spet đã bị mất tích sau đó trong những cuộc thanh trừng hay không, Jakobson trả lời: “Chính thế, nhưng ông ấy không ở trong những trại tập trung. Vẫn còn những tác phẩm của Spet chưa từng được in ra”. Một lần nữa, số phận lịch sử bị tách ra ngay khi nó được thừa nhận, chỉ duy nhất những công trình là gợi nên một lợi ích lâu bền. Phản ứng kiểu này còn đáng ngạc nhiên hơn nữa khi mà Spet được biết đến như là một số phận đặc biệt thê thảm: bị bắt lần đầu vào tháng ba năm 1935, bị kết án năm năm lưu đày ở trại tập trung; tháng mười năm 1937, bị bắt một lần nữa tại nơi lưu đày; bị các cơ quan nội vụ xử bắn vào 16 tháng mười một năm 1937.

Những người bạn theo phái hình thức luận ở lại Liên bang Xô viết cũng sẽ bị bức hại, dù rằng số phận của họ không thê thảm như Spet. Họ bị bắt buộc phải ngừng viết về văn học, chuyển hướng sang công tác xuất bản những tác phẩm cổ điển (Eikhenbaium, Tomachevski) hay những tiểu thuyết lịch sử (Shklovski, Tynianov). Sự chấm dứt của trào lưu hình thức luận xảy ra thuần túy do sự trấn áp hành chính. Tuy vậy, khi người ta gợi chuyện về giai đoạn này, Jakobson lại coi những nhà hình thức luận như là những người phải chịu trách nhiệm với số phận riêng của mình, bởi họ đã tiến hành một cuộc chiến, cân sức cân tài, với những nhà văn mác xít.

“Tôi không thích ý nghĩ về một cuôc tranh luận giữa cái mà người ta gọi là chủ nghĩa hình thức và cái được gọi là chủ nghĩa Mác. Tôi không thấy những phản đề giữa hai khuynh hướng này và tôi tin rằng biến chuyện đó thành một cuộc bút chiến thì thật là vô ích nếu không muốn nói là tai hại”.

Lại một lần nữa, Jakobson né tránh bối cảnh cụ thể diễn ra những cuộc đối đầu và làm ra vẻ đó chỉ là một cuộc đấu tranh tư tưởng thuần túy, một cuộc chạm trán giữa những quan điểm trừu tượng..

Một tình cảm lưu luyến mạnh mẽ đã nối liền chàng trai trẻ Jakobson với hai cô gái nhà Kogan, một gia đình Do thái bạn bè và rất giống gia đình Jakobson; hai chị em này sau đó sẽ rất nổi tiếng dưới những cái tên Elsa Triolet và Lily Brik. Lily là bạn gái của ông bạn Maiakovski. Elsa là bạn gái của ông và sau đó cô đã đưa ông lại gần chồng mình là Aragon, người sau này sẽ là bạn thân của ông suốt đời. Cũng cần phải nhớ rằng Elsa Triolet và Louis Argon là hiện thân đầy tài năng của đường hướng tư tưởng Stalinisme kiên định trong môi trường trí thức Pháp thời hậu chiến. Chưa bao giờ thấy Jakobson biểu lộ thái độ gì về những quan điểm chính trị này, càng không thấy ông tỏ thái độ tán thưởng; ông tự bằng lòng với việc thỉnh thoảng nhắc đến tình bạn của mình với cặp vợ chồng trứ danh nọ. Tôi không muốn nhắc lại những sự kiện này để trách móc gì Jakobson, không phải vì một hành vi như thế đã trở nên lỗi thời mà bởi vì chúng tôi không biết đến những chi tiết về những hoàn cảnh thường là hết sức phức tạp . Thường là từ những thái độ hiện sinh cụ thể mà dễ xảy ra những kiểu ứng xử , một “hình ảnh trong tấm thảm”, hàm chứa một thông điệp riêng. Đối với Jakobson, có một nhà quý tộc mà người ta không được phép làm nhiễu loạn bởi những ngẫu nhiên của tiểu sử . Sự hiểu biết và những ý tưởng thuộc về một thế giới khác, không liên hệ gì với những động cơ cá nhân hoặc chính trị. Hành động, một lần nữa, là một sự vật (ý nói là một cái gì cô lập, tĩnh tại- ND) hơn là một biến cố.

Năm 1917, Bakhtine đang ở trường Đại học – nhưng của Saint- Pétersbourg chứ không phải của Moscou như Jakobson. Phản ứng của ông trước những biến cố Cách mạng không khác gì người đồng nghiệp: ông suy tư về những nghiên cứu nhiều hơn là về cơn bão chính trị đang nổi lên dữ dội quanh ông. Trong những cuộc nói chuyện với ông chừng năm mười năm sau, khi người ta hỏi: “Thời ấy, ông không đi meeting à?” Ông trả lời: “Không, tôi không lui tới những chốn như thế. Không. Không. Tôi ở nhà, đọc sách, khi người ta sôi nổi, tôi ở trong thư viện”. Chính trị không làm ông bận lòng, ông không muốn suy nghĩ về những chuyện như thế. Nhưng hơn nữa, không có niềm đam mê như kiểu Jakobson đối với tương lai, ông chẳng trông đợi điều gì tốt lành đối với cuộc Cách mạng đang diễn ra. Ông không tán thành cuộc Cách mạng tháng Hai, Bakhitne nhớ lại : ông cho rằng nền quân chủ đã chết nhưng ông không tin tưởng gì vào đám trí thức tập hợp xung quanh Kerenski và nghĩ rằng chiến thắng sẽ đến một cách tất yếu với những phần tử cực đoan nhất, đại diện là những người bolcheviks.

Khi Cách mạng thành công, khác với Jakobson, Bakhtine không tham gia chế độ mới mà trốn tránh nạn đói hoành hành ở St – Pétersbourg ở Nedvel, sau đó ở Vitebsk, nơi ông kiếm sống một cách khó nhọc bằng cách giảng bài và đi nói chuyện : một trong những hoạt động công cộng hiếm hoi của ông còn để lại dấu vết, là vào khoảng năm 1918, ta thấy ông lo lắng trước sự lãng quên tôn giáo và quá khứ. Nhưng đặc biệt ông tránh không bị hòa tan vào những xung đột thường nhật; khoảng thời gian được ưa thích nhất , đó là những cuộc dạo chơi xung quanh Nevel, giữa những cánh rừng và những chiếc hồ, cùng với những người bạn Youdina và Poumpianski. Ông tranh luận với họ về nghệ thuật và thần học, nói cho họ biết về triết học của Kant, Cohen, Rickert, Cassierer và của chính ông. Họ quyết định gọi tên cho chiếc hồ yêu dấu của mình là “chiếc hồ của thực tại đạo đức”. Sau đó, ông quay về cố đô, nay được gọi là Leningrad, sống một cuộc sống bên lề, không việc làm, không nhà ở, tá túc ở nhà bạn bè, độ nhật nhờ những khoản trợ cấp không chính thức và những bài giảng tư; trong khi đó thì bà vợ bán những con búp bê do mình tự làm.

Vậy là ở thời đại sục sôi nhiệt tình tập thể hóa và những lay động xã hội, Bakhtine đã cố duy trì một đời sống tách biệt, “trùm chăn” (désangagée), như người ta đã thử gọi tên. Tuy vậy, người ta cũng có thể vận vào ông những lời ông nói về một trong những người bạn cùng thời, nhà văn Constantine Vaguinov:

“Đó là một con người cô độc, một con người trung lập sâu sắc nhưng cuộc đời thì lại không hoàn toàn trung lập. Nói cho ngay, không có một mảy may trung lập dù là ở sâu kín trong tâm hồn”

Kẻ không cùng với chúng ta thì chống lại chúng ta: nhà cầm quyền Xô viết đã rút ra khẩu hiệu chiến đấu nọ từ Kinh Phúc âm. Bakhtine thường lui tới tranh luận, ngoài mọi môi trường chính thức với một nhóm nhân vật tôn giáo về thần học và chính điều này đã làm tiền đề cho việc ông bị bắt vào 24 tháng 12 năm 1928, theo ghi chép của một người Thiên chúa giáo.

Trong quãng thời gian đầu tiên bị cấm cố với một sự pha trộn đầy cá tính giữa sự nhún nhường và niềm kiêu hãnh thầm kín, Bakhtine đã viết như sau về những xác tín chính trị của mình: “Không Đảng. Mác xít- xét lại, trung thành với chính quyền Xô viết. Tín đồ”. Ông không chối cãi những gì người ta buộc tội ông.

“Hoạt động đó của tôi cũng như của bạn bè tôi, ông tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn sau đó, là sự thể hiện của một số những tìm tòi tinh thần và của niềm lo lắng mang tính trí tuệ, sinh ra từ sự cần thiết phải tạo nên một cái nhìn mới về thế giới (vision du monde) cho chính chúng tôi và cái đó sẽ trở nên thích dụng đối với hiện thực xã hội”

Tháng bảy năm 1929, ông bị kết án năm năm trong trại tập trung. Lần này, thấy trước rằng với tình trạng sức khỏe của Bakhtine (ông bị bệnh viêm tủy xương từ nhỏ) thì năm năm ở Solovski sẽ tương đương với án tử hình, bạn bè ông, Youdina và Kagan can thiệp để có được sự giảm án (vào tháng hai năm 1930): Bakhtine sẽ phải thụ án bằng cách đi đầy chứ không phải trong trại tập trung. Không lâu sau, ông cùng vợ đi Kazakhstan.

Không như Spet cũng như một vài người bị kết án khác, Bakhtine không còn phải lo lắng nhiều. Số phận tương đối dễ chịu (nếu không kể đến căn bệnh đã buộc ông phải chịu một hình phạt mà những kẻ khác được miễn trừ). Điều đó có thể được giải thích bằng hai lý do. Một mặt, Bakhtine không hề là một kẻ cứng đầu, ông làm tất cả những gì người ta yêu cầu và những gì có thể làm trong cuộc sống cũng như trong các ghi chép. Trong tù, bắt đầu từ Kant, ông đọc Hégel, người báo trước chủ nghĩa Mác theo lăng kính quan phương và thiết lập những liên hệ chừng mực với thế lực phán xử ông. Sau khi đã thụ án ở Kazakhstan, nơi ông làm việc như một kế toán, Bakhtine nhận được một chân giáo viên ở Viện Sư phạm Saransk. ở đây, ông không ngần ngại tham gia vào những buổi thuyết trình về những chủ đề ít gây tranh cãi như “Lénine và Staline- Về tính Đảng trong văn học nghệ thuật ”, chẳng ích gì với luận văn về Rabelais của ông viết vào cuối những năm 1930, rồi một đợt mới vào năm 1950.

Sau này, chính ông cũng đã viết trong một bức thư: “Tôi đưa vào trong bản nháp những điều tầm thường không thể chịu nổi theo tinh thần thời đại…Hỡi ôi thậm chí có cả những dấu vết hẳn hoi của tệ sùng bái cá nhân…”. Cuốn sách của ông về tiểu thuyết giáo dục, trong phần đã thất lạc, kết thúc bằng sự tán dương chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Mặt khác, ông từ chối một cách có hệ thống những sự thừa nhận mang tính đại chúng, ông trốn tránh: chiến lược này trung tính hóa những tham vọng cá nhân, tỏ ra hữu dụng để tồn tại ở Liên bang Xô viết, Saransk thủ đô tăm tối của nước Cộng hòa tự trị Mondovie, tỏ ra chưa đủ để trở thành một chốn ẩn dật. Năm 1937, Bakhtine bỏ nhiệm sở đến sống trong ngôi nhà của một người bạn nhờ sự giúp đỡ của những người gần gũi ở thôn quê Savélovo. Trong thời gian chiến tranh, ông dạy tiếng Đức trong trường trung học địa phương. Sau thời gian chiến tranh, ông sẽ trở về Saransk tiếp tục công việc giảng dạy của mình mà ông không tìm cách tiến thủ nhưng cũng không muốn bị gạt ra. Ông không trở thành thành viên của một hiệp hội hay một viện Hàn lâm nào. Như sau này, ông giải thích cho một trong số những môn đệ rằng đó chính là một sự lựa chọn.

“Anh biết đấy, nhà triết học không thể là một cá thể, bởi vì nếu anh trở thành một ai đó, anh bắt đầu làm cho triết học phải phù hợp với phận vị của mình”.

Nhưng đó còn là một sự cẩn trọng minh triết, Bakhtine không thấy thù oán gì những người đồng bào với vẻ bề ngoài hết sức Statinisme. Trái lại, ông còn cắt đứt quan hệ với người anh trai, người đã tị nạn ở Anh và sau đó cải giáo thành người Bolchévisme.

Trong các ghi chép của mình, ngay cả những bài viết riêng tư nhất không giành để xuất bản, Bakhtine chưa bao giờ tấn công trực tiếp chế độ. Song le, có thể là sự tán dương nền văn hóa dân gian (cũng như tính carnaval) đối lập với văn hóa quan phương độc đoán, được nhìn nhận như một sự phản ứng chống lại chủ nghĩa giáo điều xung quanh (dogmatisme), dù sao thì đó cũng là cách mà cuốn sách của ông về Rabelais sẽ được diễn dịch ở Liên Xô sau khi xuất bản. Cái giờ đây gây ấn tượng nơi người đọc Bakhtine, một con người mà toàn bộ chặng đời trưởng thành diễn ra dưới chế độ Xô viết, không phải là tinh thần bài Xô viết, ít nhiều đạo đức giả , mà thuần túy chỉ là thiếu vắng của tính vấn đề này dù “thân” hay “chống”. Bakhtine viết như là cuộc Cách mạng tháng Mười không hề diễn ra. Người công dân Bakhtine là tuyệt đối “trung thành; còn “nhà tư tưởng thì là một con người tự do. Đó chính là “hình ảnh trong bức thảm” từ sự nghiệm sinh của Bakhtine; một hóa thân tột độ về những con đường rộng mở cho cá nhân trong chế độ cộng sản.

Hai nhân cách xung đột với tác phẩm

Dù sức ép của hoàn cảnh lịch sử có mạnh đến đâu thì người ta vẫn chọn cho mình một thân phận cá nhân. Nhưng liệu có phải rằng, như là văn bản đầu tiên được xuất bản của Bakhtine khuyến khích, cũng như là rất nhiều người hâm mộ Jakobson muốn nghĩ như vậy, cuộc đời của cá nhân và tác phẩm nghệ thuật toát lên cùng một thông điệp? Tác phẩm liệu có phải là sự phản ánh cuộc đời và cuộc đời thì hiển nhiên là sự hiện thực hóa một chương trình nào đó chứa đựng trong tác phẩm? Hoặc là, nổi trội hơn, liệu có phải là cái này giữ một vai trò bổ sung đối với cái kia: một sự tương phản hay là một sự bổ sung cần thiết? Vấn đề đã bao hàm câu trả lời trong trường hợp của Bakhtine và Jakobson, ở việc cả người này lẫn người kia, đều là những nhà lý thuyết về ngôn từ nghĩa là một hành động mà mỗi người tiến hành theo một cách riêng; lý thuyết của người này thì đạt đến đỉnh cao trong nghiên cứu độc thoại còn người kia thì đối thoại.

Trong một truyện ngắn lấy tên là Đời tư (1892) Henry James đặt đối diện diện hai nhân cách nhà văn. Một người, Clare Vaudrey, một nhà văn xuất sắc mà mỗi tác phẩm lại mở ra một thế giới mới lạ: tuy vậy, ngoài xã hội đó lại là một con người bằng phẳng và hời hợt- nếu nhìn từ những gì mà người ta đòi hỏi một người đã viết những tác phẩm như thế phải có. Một người khác, Lord Mellifond, một người đối thoại sâu sắc và đam mê nhưng tài hùng biện lại không dẫn đến một tác phẩm nào, hơn nữa anh ta không có khả năng quan sát một mình như là khi anh ta ở giữa đám bạn bè. Clare Vaudrey là một con người kép; Lord Mellifond lại chưa thành một nhân cách. Trong họ không có chuyện cuộc đời minh họa cho tác phẩm và lại càng không có chuyện tác phẩm phản ánh cuộc đời. Vậy còn hai nhân vật của chúng ta thì sao?

Vào thời điểm bắt đầu cuộc sống công cộng, cả Bakhtine và Jakobson đều sống một cách hết mình trong kinh nghiệm về các “nhóm” (cercle). Nhóm đầu tiên mà Bakhtine tham gia tập hợp ở Sant- Pétersbourg vào khoảng năm 1911- 1912. Người anh trai của ông đã khuyến khích ông tham gia nhóm này, lấy tên là Omphatos, nghĩa là “cái rốn”, tập hợp một đám thanh niên đề xuất việc phát ngôn cho cái phi lý, với một giọng điệu nghiêm túc nhất, biện bạch bằng những lý lẽ khoa học. Sau đó, người ta thấy một nhóm tự hình thành xung quanh Bakhtine ở Nevel, sau đó ở Vitebsk; và một không khí như thế cũng có thể tìm thấy ở Leningrad, nơi Bakhtine tham gia vào nhiều “Salon” khác nhau và sống một cuộc sống trí tuệ mãnh liệt, với những người tán thưởng ông: Medvedev, Volochilov, Poumpianski, Vagninov…Tuy vậy, trong phần đời tiếp theo, Bakhtine tỏ ra trước hết là một kẻ cô đơn khổng lồ.

Đối thoại, ở ý nghĩa chính xác nhất của nó, giả định những người tham gia đối thoại có một vị thế tương đương như nhau và có thể hoán đổi: tôi nói và anh nghe sau đó, đến lượt mình, tôi nghe khi anh nói. Vậy mà những điều kiện có vẻ như không hội đủ để Bakhtine có thể tiến hành một thứ đối thoại kiểu đó nhất là sau khi ông chia tay với người anh trai và Kagan (vào năm 1920): thường là Bakhtine thì nói còn những người khác thì lắng nghe. Sự cao siêu về triết học của ông quá áp đảo để có thể tiến hành một cuộc đối thoại thực sự: ông dẫn dắt người khác hơn là được họ dẫn dắt; ông tạo cảm hứng cho họ bằng những cuốn sách, những bài báo hoặc đơn giản, những suy tư, nhưng chính ông thì lại rất ít khi được gợi ý điều gì từ họ. Ngay cả khi ông nhằm vào một nhóm người nghe, Bakhtine nói như là trong một rạp xiếc: ông không quan tâm xem những học trò của mình là ai. Còn rõ ràng hơn nữa khi ông dậy hàng nghìn học trò ở Saransk, hoặc là khi ông nói với những người công nhân trong những buổi nói chuyện tầm phào : ông không bao giờ tham gia vào một cuộc đối thoại thực sự.

Những cuốn sách gợi ý bởi Bakhtine và được bạn ông – Volochinov và Medvedev – xuất bản thường không bao giờ bộc lộ ý tưởng về đối thoại mà thường là một kiểu tư duy biện chứng (bị Bakhtine đánh giá thấp) với những chính đề, phản đề và hợp đề chia thành từng công đoạn. Tất cả những cuốn sách đó thường được trình bày với một mô thức tu từ chung: đặt đối lập (hơn là làm đối thoại) những trường phái tư tưởng rất khác nhau và sau đó chỉ ra sự thiếu sót của cái này cũng như cái kia. Chủ nghĩa Freud (1927) đặt đối lập thuyết duy vật “theo Paplov” với chủ nghĩa duy tâm “của những người theo học thuyết Freud”; Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học (1928) đặt xã hội học và chủ nghĩa hình thức quay lưng lại với nhau; Chủ nghĩa Marx và triết học về ngôn ngữ (1929) phán xét về mâu thuẫn giữa những nhà chủ quan luận (Vossler) và khách quan luận (Saussure). Nhưng, cứ mỗi lần như vậy, phát ngôn của tác giả lại được định vị ở một bình diện, cao hơn hẳn khỏi cuộc tranh luận (vả lại, thường là một cuộc đấu tranh): cả hai kẻ đối địch đều lầm lẫn, tác giả, chính ông ta, mới là người nắm chân lý và không một kẻ nào khác có thể đứng trên cùng một bình diện với ông ta. Ngay cả những tác phẩm của Bakhtine, đứng tên ông, cũng không biểu hiện một không khí đặc thù đối ngoại, theo nghĩa chặt chẽ của từ; sau khi đã diễn giải công việc những người đi trước như là chừng đó mức độ để dẫn đến quan điểm riêng của mình, Bakhtine trình bày một cách quả quyết cách diễn dịch của ông về tác phẩm của Dostoievski và Rabelais.

Tính ổn định của các ý kiến được Bakhtine theo đuổi trong khoảng từ 1925 đến 1975 là một dấu hiệu khác chứng tỏ việc ý kiến của những người khác không ảnh hưởng mấy đến tư duy của ông. Trong công trình của mình, Bakhtine không quan tâm mấy đến hậu quả do những ý tưởng gây ra, cũng như đến việc công bố chúng : điều cốt lõi thuộc về chính ông và trang giấy trước mặt. Chính vì lý do này mà những bản nháp của ông thường là ở dạng chưa hoàn thành: cần gì phải phát triển những ý tưởng khi mà chúng có thể sẽ mãi mãi không được thông báo đến một người khác? Tạo lập nên chúng, thế là đủ. Khi biết rằng luận văn về Rabelais sẽ không được xuất bản, Bakhtine bằng lòng với một cái nhún vai: tự mình, ông sẽ không đấu tranh chống lại đám biên tập ở Moscou, những trụ cột của nền chính thống và Kozhinov đã giành được quyền xuất bản những tác phẩm này gần như chống lại ý nguyện của tác giả; cũng chính ông là người có trách nhiệm giải mã và xuất bản nhiều bản nháp của Bakhtine, người đã bỏ mặc chúng một cách thụ động ngay sau khi viết ra chúng.

Giống như trong việc viết lách, trong cuộc đời thường nhật, Bakhtine cũng không muốn tìm kiếm những cuộc đối thoại. Ông và vợ, Elena, là một cặp vợ chồng hết sức hòa hợp (họ kết hôn năm 1921, bà mất năm 1971, họ chia tay nhau trong những ngày ông ở trong tù; khi một người nằm viện, người kia luôn túc trực bên giường bệnh); nhưng cũng vì thế mà Bakhtine không cần đến những người khác. Ông không trả lời điện thoại, không thích viết thư, và trong những quan hệ cá nhân, theo những người chứng kiến, thì ông rất khách sáo và lãnh đạm. Sau 1961, ông chấp nhận gặp những người hâm mộ thuộc thế hệ mới do Kozhinov dẫn đến. Tuy vậy, khi những người này lần đầu tiên xuất hiện, ông tỏ ra bị xáo trộng sâu sắc; ông đã quen sống thầm lặng và vô danh, vậy thì thực ra cần gì phải đổi theo cái mới để chấp nhận diễn một vai nổi tiếng? Ông không uống rượu (nhưng trái lại, dùng nhiều trà đặc và nghiện thuốc lá nặng), không thích không khí thân mật giả tạo và những cuộc chuyện phiếm không kiềm chế ở những chốn nhậu nhẹt; ông không muốn vào Hội nhà văn vì không muốn phải thường xuyên bị những nhà văn khác đổ bộ đến nhà để nhậu nhẹt. Con người, trong “Rabelais…”, ca trong hội “carnaval” và trong cuộc sống xác thịt lại là một con người tàn phế và khổ hạnh; con người, trong “Dostoievski…” tán dương đối thoại lại ghê tởm mọi tiếp xúc với con người.

Sự lựa chọn một lối sống như vậy không bắt nguồn từ một quan điểm giáo điều, hẳn là nó có nguyên nhân, từ hai nhân tố bên ngoài: căn bệnh thể xác (bệnh viêm tủy xương) và căn bệnh xã hội (chủ nghĩa Staline). Căn bệnh thứ nhất không cướp đi của ông cuộc sống nhưng biến ông thành kẻ phụ thuộc và bại liệt; căn bệnh thứ hai đã tàn phá một mạng lưới xã hội của ông mà vĩnh viễn không thể xây dựng lại được. Cho đến khi bị bắt, Bakhtine vẫn có những người bạn thân; ba mươi năm tiếp theo, quãng thời gian ông phải sống một cuộc đời, theo như ngạn ngữ Nga “câm lặng hơn nước và thấp hơn cả cỏ”, thật chẳng thuận tiện để thân thiết tin cậy một ai và trao đổi những ý tưởng sáng tạo. Tiếp theo thì đã quá muộn: Bakhtine chỉ chấp nhận một cách miễn cưỡng việc dời bỏ cuộc đời ẩn dật.

Jakobson cũng bắt đầu cuộc sống công cộng trong những nhóm trí thức đặc biệt trong trường phái mà ông là người khởi xướng vào năm 1915: trường phái ngôn ngữ Moscou. Hình thức giao tiếp và làm việc tập thể có vẻ hợp với ông đến mức ông đã phải lập lại một trường phái nghiên cứu tương tự ở Prague khi ông đến đây năm 1920. Ngay cả khi trường phái này không còn nữa, ông vẫn tiếp tục tìm kiếm sự hợp tác trong công việc; rất nhiều bài viết được ký tên Jakobson và một tác giả khác, chẳng hạn Tynianov, Bogatyrev, Halle, Lévi- Strauss và cả những người không nổi tiếng bằng. Sự cộng tác của ông với Zoubetzkoy bắt nguồn từ nguồn từ khoa nghiên cứu ngữ âm học hiện đại.

Đâu là những điều kiện thuận tiện để làm việc tập thể? Chúng ta hãy quay về với những hồi ức của Jakobson. Thần tượng đầu tiên của ông, như chúng ta đã biết, là Khlebnikov. Khi Jakobson làm quen với Khlebnikov, quan hệ giữa họ vẫn còn rất khách sáo. Cả hai quyết định qua đêm của ngày lễ Saint- Sylvestre trong quán rượu văn chương nổi tiếng “Chó hoang” ở Pétersbourg.

“Chính tại đây tôi mới được biết con người thật của Khlebnikov: trong lúc uống hết ly này đến ly khác, ông trở nên cởi mở hơn”

Phương pháp này không chỉ được áp dụng với những nhà thơ được hâm mộ: Jakobson không đánh giá cao Marinetti, kẻ đầu têu của chủ nghĩa vị lai ở Italie lắm, “tuy vậy chúng tôi vẫn đi nhậu cùng nhau”. Jakobson cũng góp phần thành lập nhóm Opoyaz, hạt nhân ở Pétersbourg của chủ nghĩa hình thức.

“ở nhà Brik, một bữa ăn với bánh và rượu vodka và chúng tôi tranh luận xem phải làm thế nào để gặp nhau và thúc đẩy các nghiên cứu”

Trường phái ngôn ngữ Prague, nếu tin theo những hồi ức của Jakobson, chỉ thực sự phát triển khi những cuộc tranh luận chuyển từ giảng đường đại học sang những quán rượu.

“Vậy là chúng tôi quyết định, tôi đặc biệt nhấn mạnh điểm này, chuyển sang một quán cà phê, trong một căn phòng ở phía sau. ở đây, chúng tôi an vị, người này thì làm một ly rượu hay một tách cà phê, người khác thì làm một ly bia hay một cốc rượu vang…Điều này hết sức quan trọng!”.

Đến New York, Jakobson giảng dạy ở trường Cao học tự do và ông đã gặp Lévi- Strauss ở đây.

“Sau những buổi thuyết trình, tôi đến dự của Claudes và anh ấy đến dự của tôi, chúng tôi tìm đến một quán bistrot và tiếp tục tranh luận với nhau ở đó. Chúng tôi có nhiều thời gian hơn bây giờ và cũng nhiệt tình hơn…Thậm chí bây giờ tôi có thể gọi tên tất cả những quán bistrot ở New York nơi chúng tôi tranh luận về những vấn đề đó”

Bất cứ ai quen biết Jakobson cũng đều có thể tiếp tục bản liệt kê này. Dĩ nhiên, ông hoàn toàn không phải là một người nghiện rượu; chỉ đơn giản là rượu làm tăng sự nhiệt thành rất cần thiết đối với ông.

Đây có phải là đối thoại hay không? Chính Jakobson đã nói, khi kết thúc một cuộc nói chuyện: “Tôi thích đối thoại hơn độc thoại , ngay cả trong khoa học”. Sau đó ông thêm: “tôi luôn ủng hộ sự hợp tác, tôi luôn coi công việc tập thể là hình thức làm việc tốt nhất”. Từ phía khác , cuốn sách mà ông đã xuất bản dưới tiêu đề “Đối thoại” với sự cộng tác của bà vợ Krystina Pomorska, tập hợp những cuộc đối thoại kiểu Platon, những cuộc đối thoại mà những người môn đệ hâm mộ thầy mình lúc này hay lúc khác buông ra những câu: “Như người, Socrate, đã nói vậy!”. Hình thức đối thoại đặc trưng của Jakobson, theo tôi, chính là sự truyền khẩu (contagion). Ông có một năng khiếu đặc biệt trong việc làm cho người khác cùng chia xẻ sự hứng khởi với mình; khi mà ông đã trình bày thì đối tượng quan tâm của ông- dù đó là cấu trúc vần của thơ Tiệp thế kỷ XIV- sẽ hiện diện đối với bạn như là một cái gì đáng say mê nhất thế giới. Ngay cả một sự phê phán lẫn nhau, ông vẫn cứ coi luôn là một sự cộng tác. Chính thái độ đó dường như là một sự nịnh hót tất cả chúng ta, những người trẻ hơn không nổi tiếng bằng; ông đối xử với chúng ta như những người bằng vai phải lứa, cùng có chung một niềm đam mê hiểu biết như ông và như thế là chúng tôi vươn lên ngang hàng với ông. Đó chính là những cảm giác mà tôi đã cảm nhận thấy vào năm 1964, khi còn là một sinh viên Bulgarie chân ướt chân ráo đến Paris và lần đầu tiên được ở cạnh ông. Thế nhưng, ngay cả Isaiah Berlin, người đã được gặp Jakobson nhiều lần cũng nói về ông:

“Cùng làm việc với ông, chúng ta cảm thấy như trong một vòng hào quang, sáng suốt hơn, nhạy cảm hơn và thú vị hơn những gì chúng ta đã từng là hoặc không thể là trong cuộc đời thực”

Từ ngữ mà bất cứ ai cũng đều sẽ phải sử dụng, khi thử mô tả lại những quan hệ cá nhân với Jakobson trong lĩnh vực tinh thần, đó chính là sự độ lượng của ông.

Jakobson không chỉ bằng lòng với việc khích động người khác cùng đồng cảm với những niềm đam mê của ông mà chính ông, cho đến tận cuối đời, còn biết cách khám phá ra những niềm đam mê mới. Ông vẫn thường gợi lại việc ông đã bị chinh phục như thế nào bởi những nhân vật không có gì chung với ông: Nicolas Zoubetzkov và Claude Lévi Strauss; nhưng sự thán phục cũng như sự độ lượng của ông không chỉ giới hạn ở những người mà ông coi là những thiên tài hay những người có quan hệ bạn bè với ông. Trường hợp Bakhtine là một trường hợp rất có ý nghĩa. Jakobson và Bakhtine rõ ràng là chưa từng găp nhau, nhưng trong cuốn sách của Medvedev, được Bakhtine gợi ý, chứa đựng rất nhiều sự phê phán đối với Jakobson. Đây cũng chính là cuốn sách góp phần phục hồi tinh thần cho Bakhtine ở Nga. Vậy mà ngay từ năm 1956, trong lần đầu tiên trở về Mouscou, trong khi trò chuyện với những nhà bác học Nga trẻ tụ tập quanh ông về những công trình xuất sắc của quá khứ nhưng bị quên lãng ở Nga, ông đã nhắc đến công trình về Dostoievski của Bakhtine. Cuộc nói chuyện này diễn ra ở chính nhà của Kozhinov, người sau này sẽ có công lớn trong việc phục hồi tên tuổi của Bakhtine. Sau đó, nhưng vẫn là trước khi Bakhtine được phục hồi, Jakobson không quên một lần nữa, ca ngợi cuốn sách trên, dẫu rằng hình ảnh mà ông viết gần giống với tác giả hơn là giống cuốn sách: “Theo Bakhtine, ông viết năm 1976, trong cấu trúc ngôn ngữ, tất cả những khái niệm quan trọng hình thành nên một hệ thống bền vững, không lay chuyển được , được tạo nên từ những cặp đôi không chia lìa được và bề vững”.

Ngày nay, khi chúng ta nói về Jakobson, chúng ta không thể không dựa vào nội dung của những tác phẩm, những luận văn mà ông bảo vệ ở nơi này hay nơi khác. Thế nhưng, tôi vẫn tự hỏi làm như thế không biết chúng ta có bỏ quên mất một phần quan trọng nhất trong những thông điệp của Jakobson hay không. Khi người ta đề nghị ông đánh giá công trình của những người bạn thời trẻ, những nhà hình thức luận, ông không chỉ hài lòng với việc xác định chủ đề này hay chủ đề khác là đặc thù, mà còn cho rằng : không có một giáo lý cũng như một phương pháp nào, mà là một sự tự do tinh thần tuyệt đối, một khả năng đón nhận cái mới; ý tưởng trung tâm chính là “chống giáo điều”. Cũng thế, theo tôi những gì tiêu biểu cho đóng góp của Jakobson không hẳn là sự khẳng định này hay sự khẳng định khác mà là một sự phủ định tuyệt đối tính thông thái rởm (pédantisme) (vì vậy những đại diện chính thức của khoa học Hàn lâm khó có thể thừa nhận kiểu người hứng khởi một cách phóng túng như vậy); và sự coi thường ranh giới ước lệ giữa những bộ môn khoa học (ông thờ ơ không cần biết anh đang hoạt động trong khuôn khổ của ngôn ngữ học hay thi pháp học, nhân loại học hay tâm lý học): như là Victor Weisskopf, một trong những đồng nghiệp của ông ở Viện công nghệ Massachussettes đã nói: “Tâm hồn ông tỏa đến chúng ta, những người sống bên ông, một tình bạn và tình yêu mãnh liệt nhất”.

Từ đó nảy sinh ra nghĩa vụ của chúng ta, nghĩa vụ nhận thức một con người chứ không phải chỉ tác phẩm. Tất cả diễn ra như là nếu có một tình thần liên chủ thể (intersubjétivité) trong cuộc đời thì ông cũng cảm thấy cần phải đưa vào trong tác phẩm ; nhưng người đọc ngày nay và ngày mai có thể không biết đến cái phần không được mã hóa trong thông điệp của Jakobson. Cần phải chuyển đến người đọc cái phần cơ bản trong di sản của Jakobson, cái phần chỉ tồn tại bên lề tác phẩm nhưng thuộc về trung tâm cuộc đời ông.

Người mù và người bại liệt

Cuộc đời của Jakobson- đối thoại, tương tác, tất cả hướng đến người khác – bổ trợ một cách tốt đẹp cho quan niệm của ông về độc thoại và việc vật thể hóa ngôn ngữ và văn chương. Lý thuyết về đối thoại của Bakhtine đã bù đắp, soi sáng cho cuộc sống hắt hiu đơn độc của ông và bất thần, từ một khoảng khắc, tràn ngập tương thông với kẻ khác. Chúng ta hãy quay lại với mẩu hồi ức mà chúng ta sử dụng như là điểm xuất phát của bài viết này về cuộc gặp gỡ bất thành giữa Bakhtine và Jakobson. Nếu thực sự Bakhtine đã hành xử theo kiểu mà Kozhinov đã gán cho ông – (không gặp Jakobson vì) coi thường (những người chủ xướng) hình thức luận – thì ông đã vi phạm thô bạo những nguyên tắc hành động của chính mình : cá nhân sống trong thời gian, mỗi hành động của anh ta là duy nhất và không thể đảo ngược được; không thể lược quy anh ta vào một hệ tư tưởng nào đó đã ngự trị trong một thời điểm quá khứ. Đó là một sự khẳng định tính hoàn tất của một con người về mặt đời sống (điều trái với nguyên tắc về thời hiện tại chưa hoàn thành mà Bakhtine đề cao khi ông viết về tiểu thuyết – ND), là sự giản lược con người về một cái gì đó có thể lặp lại. Song le, cũng cần phải nhấn mạnh là không phải Bakhtine mà chính là Kozhinov- một kẻ không thích nhắc đến tất cả những gì có nguồn gốc từ Jakobson, người mà những tuyên bố bài Do Thái của ông ta gần đây cho phép chúng ta hiểu rằng sự thù địch đó có một nguồn gốc khác- là người đề cao kiểu hành xử này. Về phần Bakhtine, ông không chỉ lảng tránh những cuộc gặp với Jakobson mà là với mọi người nước ngoài không quen biết: bị chấn thương và lệch lạc vì một cuộc đời sống dưới chế độ chuyên chế, ông ghê sợ tất cả những cuộc gặp gỡ, mọi cuộc đột nhập của kẻ khác vào cuộc đời ẩn dật của mình. Đó là lý do vì sao mà cuối cùng, ông không thể thỏa mãn yêu cầu của chính mình : một sự thống nhất về trách nhiệm giữa cuộc đời và tác phẩm.

Mikhail Bakhtine là một người tàn tật rất khó khăn trong việc di chuyển. Roman Jakobson thì có những vấn đề về thị lực. Vậy mà, hai nhà tư tưởng vĩ đại đó vẫn có thể tiếp tục dẫn dắt chúng ta về phía thiên niên kỷ sắp tới , nhất là nếu như chúng ta chấp nhận việc một người mù và một người liệt có thể thống nhất sức mạnh của họ, kẻ đi vững dựa vào kẻ sáng mắt, nhà thực hành đối thoại bổ sung cho nhà lý thuyết của mình. Nhưng về chuyện ấy vẫn cần phải chấp nhận là định mệnh tự nó cũng có ý nghĩa.

Phạm Xuân Thạch dịch từ tiếng Pháp

Nguồn dẫn: http://thachpx.googlepages.com/

Leave a Reply