Thâm Tâm viết “chí lớn” hay “chí nhớn chưa về bàn tay không”


Phương Lan

Để giải quyết vấn đề trên, trước hết chúng ta cần thống nhất ở một điểm đơn giản như thế này: nhớn và lớn nghĩa như nhau. Đã có ý kiến cho rằng “từ nhớn mang nhiều màu sắc dân gian”, nhưng có lẽ đúng hơn: nhớn là phương ngữ . Nhìn bề ngoài thì viết nhớn hay lớn là không mấy quan trọng. Hầu hết bạn đọc đã bỏ qua sự lựa chọn từ ngữ khá thú vị này. Tại sao tác giả viết nhớn mà không phải lớn, dù xét về nghĩa, chúng đều được hiểu như nhau, việc lựa chọn từ nhớn đạt hiệu quả thẩm mỹ gì? Đấy là những vấn đề bỏ ngỏ trong nhiều bài viết.

Như ta biết: Trong li khách có hai con người: con người thế sự, con người yếu đuối đầy tình cảm của giờ li biệt và con người của lí trí trượng phu.

Con người đời tư không phải ai cũng nhìn ra, cũng cảm hiểu được, bởi nó được cố tình giấu kín bằng vẻ ngoài lạnh lùng dứt khoát. Gần như chỉ có nhân vật xưng ta – người tiễn đưa li khách mới “đọc” thấy dòng nội tâm của “người ấy”, “ta” là người tri âm tri kỉ, người trong cuộc. Và có lẽ chủ thể Ta cũng đã chứng kiến hay trải nghiệm nhiều cuộc chia tay trong cuộc đời rồi. So với các cuộc chia tay khác, cuộc chia tay lần này của anh rất đặc biệt: không đưa qua sông, bóng chiều không thắm, không vàng vọt, cuộc chia ta ngỡ như không thể xảy ra, chỉ khi người đi thực anh ta mới bàng hoàng thảng thốt, chơi vơi ngậm ngùi “Người đi? ừ nhỉ, người đi thực”… cái cảm giác hy vọng chợt vỡ oà, một nỗi tê tái dâng lên trong lòng, khiến cái nhìn của người ở lại đầy tâm trạng, anh ta không chỉ thấy người đi thực, mà còn thấy lòng mình đang dậy sóng, trong cái nhìn vời vợi kia đã nhuốm màu hoàng hôn tự lúc nào… Để thể hiện con người thời đại mang hơi hướng trượng phu, thi nhân sử dụng nhiều từ Hán Việt trang trọng cổ kính. Nhưng để kiến tạo con người đời tư, tác giả đã đưa vào trang thơ một lớp từ thuần Việt mang tính khẩu ngữ nôm na, mà Nhớn là một ví dụ

Trong Tống biệt hành, qui luật kết cấu lời thơ là song hành đối lập. Đặt trong logic ấy, việc lựa chọn từ chí nhớn hoàn hợp lí và thống nhất. Từ Hán Việt “li khách” (con người trượng phu) đứng đầu câu thơ thứ bảy tạo ra âm hưởng hùng tráng, sắc thái trang trọng thiêng liêng cho cuộc chia tay, hai tiếng đó vang lên thật đau đớn, nhưng rất đỗi tự hào. Từ “chí nhớn” xuất hiện đầu câu thơ tiếp sau, như một bổ sung thêm cái ý chí kiên cường, dứt khoát sắt đá, lẫn sự hy sinh cao ca vượt lên tình riêng ra đi với trách nhiệm lớn lao của công dân. Bằng từ chí nhớn, nhà thơ đã kéo hình ảnh người ra đi (con người thế sự) gần gũi hơn với thời điểm trữ tình, vì thế cũng thực hơn, đẹp hơn, có sức tác động đối với thế hệ thanh niên lớn lúc bấy giờ mạnh hơn.

Chí nhớn và chí lớn không phải là sáng tạo riêng về cách kết hợp từ ngữ, nhưng có khác nhau ở sắc thái thể hiện. Từ chí lớn rất quen thuộc, nhiều người dùng. Từ chí nhớn hay, dân dã tạo ấn tượng sâu sắc và phù hợp hơn với hình tượng người ra đi. Sự lựa chọn của tác giả về từ ngữ, rõ ràng khá công phu, mà rất tự nhiên, uyển chuyển. Qua từ ngữ này tác giả đã truyền đạt thành công một sự lựa chọn riêng của li khách, một con người bình thường giản dị, nhưng chí hướng, khí phách cao đẹp, chấp nhận nhiều chông gai thử thách, nhất quyết không về với bàn tay không. Ta có cảm giác chí nhớn (không viết “chí lớn”) của li khách không hề mâu thuẫn với con đường nhỏ, “con đường đầy bí mật chỉ một mình li khách theo đuổi hình như chưa ai được biết, chưa thể nói ra lúc này” (Nguyễn Thái Hoà). Nếu từ “li khách” toát lên cái nhìn lãng mạn của thi nhân về con người, thì từ “chí nhớn” tự nó đã thể hiện cái nhìn đời thường, cái nhìn hiện thực có tính phát hiện. Nét riêng của Thâm Tâm ở bài thơ này so với các thi sĩ lãng mạn cùng thời, không chỉ ở giọng điệu mà còn trong cách là miêu tả con người từ cái nhìn hiện thực, đậm chất nhân văn.

Copyright © 2012-2013 – VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG

Leave a Reply