Thành công của Nguyễn Mạnh Tuấn


Lại Nguyên Ân

Bạn đọc đều biết Nguyễn Mạnh Tuấn là một trong những hiện tượng được chú ý nổi bật trong sinh hoạt văn học ít năm gần đây. Tôi không thuộc trong số người thích văn của Tuấn. Nếu là người biên tập các cuốn sách của anh, hẳn tôi sẽ khiến anh phải tốn thêm thời giờ và công sức trên các trang bản thảo đưa in. Nhưng tôi biết trong vòng mười năm qua, Tuấn đã đưa in ba tiểu thuyết, ba tập truyện ngắn, cộng lại dễ đến cả ngàn trang chữ. “Cứ thấy số lượng cũng đã phải phục!” – Các Mác có lần đã nói như vậy về một nhà văn. Tôi phục số lượng và sự thành công của Nguyễn Mạnh Tuấn cũng như phục số lượng và sự thành công “tái hồi” của Lưu Quang Vũ bằng mấy chục vở kịch, mấy chục truyện ngắn, hàng trăm bài thơ. Tuấn thường được xếp vào số những cây bút viết về công nghiệp, − tính ước lệ hời hợt của cách “phân loại” này khá rõ; nhưng với những tay bút như Tuấn, như Vũ, ta lại có thể nói đến một công nghiệp làm văn. Thử nghĩ mà xem: chỉ với hai cây bút kể trên, hàng ngày đã có biết bao nhiêu lao động xoay quanh các bản thảo tác phẩm của họ: người biên tập báo chí và xuất bản, người in ấn và phát hành, người dàn dựng sân khấu và phim ảnh, người diễn xướng và những người lo các việc đạo cụ, hóa trang, phông màn, khói lửa…, chưa nói đến người đọc sách hay người đi xem. Tất cả đều xoay quanh những cỗ “máy cái” như Tuấn, như Vũ! 

“Văn chương của tôi, những người sành sỏi quá hay kỵ, nếu khó tính, có thể sẽ khó đọc, xin tạm bỏ qua điều đó, để coi giùm liệu nó có lợi ích gì cho cuộc sống hay không?” − chính Nguyễn Mạnh Tuấn đã viết về văn mình như vậy trong Cù lao Tràm. 

Đúng là đọc Nguyễn Mạnh Tuấn, người sành văn sẽ thấy không ít chỗ đáng chê, thậm chí về những điều đơn giản. Nhưng vượt lên trên những gì còn là xô bồ xộc xệch trong câu chữ, ta lại thấy những điều khác, cuốn hút ta mạnh hơn: ấy là những tình huống, những vấn đề, những bàn luận biện giải.

Xin bạn đọc thử cùng tôi lật ngẫu nhiên một trang. Đây, Cù lao Tràm[1] bản in lần đầu, trang 551: 

“Bị dần dần mất đi cái tôi của một thời dọc ngang oanh liệt, cái tôi của một thời khí phách hào hùng, đã khiến anh trút mọi hằn học tức tối lên đầu tôi, người mà anh cho là nguồn gốc…” 

Câu này rõ ràng có thể đưa cho “người dọn vườn” sửa lỗi ngữ pháp. Nhưng chỉ cách và ba câu sau, ta đọc tiếp:

” Tính cách như Hai Biền khá phổ biến ở quanh tôi. Họ thích đứng đầu đám đông hơn đứng đầu xã hội. Họ ưa một trật tự sùng bái hơn trật tự pháp luật. Đối với họ, cái làm họ nổi lên giữa hoàn cảnh cần thiết hơn hoàn cảnh nhờ họ mà đi lên…” 

Có thể chưa phải là những câu hoàn mỹ, nhưng đập vào mắt ta không phải là chuyện câu chữ mà là sự nhận xét sắc sảo một trạng thái tính cách của người cán bộ kháng chiến hôm qua trước thực trạng cuộc sống thời bình hôm nay. Những trang phân tích xã hội học như vậy không hiếm trong Cù lao Tràm. 

Nhiệt hứng sáng tác Cù lao Tràm cũng như nhiều tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Tuấn trước hết là tạo nên một tác phẩm có ích hơn là một áng văn đẹp. Có ích ở đây là làm sao cho nó có thể can dự trực tiếp vào đời sống. 

 “Cuộc sống xung quanh lúc nào cũng như lửa cháy. Cả cái tốt lẫn cái xấu của nó đều hừng hực than hồng… Và đã truyền sang tôi những hối thúc đấu tranh, những phân loại nóng bỏng”  (tr.689). 

Có nhiều cách, nhiều hướng để ngòi bút nhà văn can dự vào cuộc sống. Hướng của Nguyễn Mạnh Tuấn là can dự vào những vấn đề tổ chức sản xuất và quản lý xã hội. Ba cuốn tiểu thuyết viết khá liền mạch của anh − Những khoảng cách còn lại (1980), Đứng trước biển (1982) và Cù lao Tràm (1985) đều khá tiêu biểu cho thể tài tiểu thuyết sản xuất. 

Câu chuyện của Cù lao Tràm được kể từ vai chính Năm Trà không chỉ là bản thành tích của người nữ bí thư đảng bộ xã này trong việc xây dựng lại nông thôn sau chiến tranh, không chỉ là bức tranh về diện mạo nông thôn những năm 80, mà còn là diễn đàn phát ngôn về nhiều vấn đề phát triển kinh tế, tổ chức đời sống làng xã, về đào tạo và sử dụng cán bộ, về phẩm chất và năng lực, nhân cách và lối sống của người cán bộ trong điều kiện Đảng cầm quyền. 

Có nên cưỡng bức nông dân vào hợp tác xã hay không? Thực hiện khoán sản phẩm ra sao? Phát triển nghề phụ thế nào trong nông thôn? Giải quyết quan hệ công nghiệp và nông nghiệp như thế nào? Có nên sử dụng người là “ngụy” cũ có năng lực quản lý sản xuất? v.v… và v.v… Dường như nhà văn đã cùng nhân vật lao vào hầu hết các vấn đề vừa cụ thể vừa nguyên tắc do thực tế xã hội đề ra. Thậm chí những vấn đề mang tính cụ thể địa phương như thái độ đối với các chuyện cải lương, nhậu nhẹt, đá banh… cũng được đề cập đến, qua các vụ việc cụ thể cũng như trong chủ trương, quan niệm của người lãnh đạo. 

Trong Cù lao Tràm không chỉ dày đặc các chuyện, các vụ việc mà còn dày đặc những suy nghĩ, ý kiến, biện luận. Đọc vào những phát biểu và suy nghĩ khá dài lời của các nhân vật mà tác giả ưu ái và chia sẻ quan niệm (Năm Trà, Mười Tân, Ba Năng, Ba Tài…), không ít người sẽ cho đó là những đoạn chính luận ngoại đề không thật cần thiết cho câu chuyện. Nhưng đấy lại là thuộc dụng ý của người viết. Có những tác phẩm nhà văn cố vùi thật sâu các suy nghĩ vào trong sự việc. Lại có những tác phẩm mà tác giả muốn công nhiên phát biểu ý kiến về các vấn đề mình quan tâm. Cù lao Tràm thuộc trường hợp thứ hai. Có điều là, khác với hai cuốn trước, ở đây tác giả đã biết dùng đến cái thể thức nghệ thuật để hợp thức hóa mạch ngôn luận trực tiếp. Ta nhớ rằng toàn bộ câu chuyện được giả định ước lệ như là ghi âm lời Năm Trà kể , − các suy nghĩ và ý kiến trong đó đều là của nhân vật này hoặc qua lời thuật của nhân vật này. Dẫu tác giả có chia sẻ đến mức “trăm phần trăm” với các suy nghĩ ấy thì về thể thức, đấy vẫn là lời nhân vật, là “ý kiến” của các nhân vật. Có thể đây là một lợi khí cho tác giả khi phải động đến những điều không dễ nói ra ở một xã hội còn nặng óc gia trưởng. Ví dụ đoạn này, mà như ta biết, là ý kiến của Mười Tân, một cán bộ từng trải đã về hưu: 

“Tâm lý người lãnh đạo thường thích những cấp dưới thông hiểu và triệt để tuân hành đường lối của mình. Người càng quyết đoán, tự tin, càng ưa như thế… Có hai loại tuân hành. Sự tuân hành có sáng tạo, thông minh, có tỉnh táo, nhận biết phải trái, vì đâu phải cứ cấp trên là cái gì cũng đúng, cũng sáng suốt, và sự tuân hành theo nghĩa “trung thành tuyệt đối”… loại thứ hai… thường chỉ có ở phần lớn hai loại người: loại mù quàng và loại cơ hội” (tr.81). 

Những ý tưởng như trên, có khi chỉ cần được nói ra, được bộc lộ một lần trên văn bản tác phẩm, cũng có khi được khai triển thành cả một tuyến truyện. Có hai mạch tư tưởng được nhấn khá đậm, làm thành nội dung của xung đột chính trong câu chuyện Cù lao Tràm: đó là mạch các tư tưởng về phương pháp phát triển kinh tế, xây dựng đời sống nông thôn, và mạch các tư tưởng về vấn đề phẩm chất và năng lực của người cán bộ lãnh đạo. Có Năm Trà, được xem như tiêu biểu cho kiểu cán bộ quản lý với phẩm chất và năng lực trong thời kỳ mới thì, để đối lại, có Tư Hoan, Tư Khanh, được xây dựng như là tiêu biểu cho kiểu cặp đôi “người lãnh đạo – người thừa hành” (cán bộ cấp trên và cán bộ cấp dưới) ứng với nhận xét nêu trên của Mười Tân. Cùng với những nhân vật thân yêu của mình, tác giả Cù lao Tràm góp phần phanh phui những hậu quả nguy hại, khi các nhân vật thoái hóa của Đảng cầm quyền lại giành được vị trí lãnh đạo, lũng đoạn tình thế, dù chỉ ở một địa phương. 

Kết thúc câu chuyện mà theo tác giả thông báo ngay trong chuyện thì “90% là có thực” này, lực lượng tích cực căn bản chiến thắng lực lượng tiêu cực, ở xã Tân Phú và huyện Tân Thành. Phải nói cả nhân vật chính lẫn tác giả đều đã biết chèo lái tới một kết thúc có hậu, vừa thỏa mãn tâm lý độc giả phổ thông, vừa thỏa mãn điều mà chính tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn hình dung như là đòi hỏi của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. [2] 

Được in lần đầu với số lượng lớn (ba vạn bản), Cù lao Tràm trong năm nay vẫn đang là cuốn sách khó tìm. Dư luận hưởng ứng cuốn sách đang tăng lên. Có luồng ý kiến cổ vũ, tán đồng, lại cũng đang dấy lên luồng ý kiến phản bác. Một số vấn đề xã hội được nêu ra trong cuốn sách được quan tâm cả ở giới cán bộ chính trị. Vốn không “ly kỳ hồi hộp”, không đặc sắc ở văn phong, thành công của Cù lao Tràm có thể được giải thích bằng tác động của việc nó nêu ra các vấn đề thời sự xã hội. 

Với tất cả sự tự tin, tự chủ, tác giả hầu như đã hóa thân vào nhân vật chính, vào vai một cán bộ quản lý xông xáo, lăn mình vào công việc để từ chỗ đứng của người cán bộ trong cuộc mà đề xuất các vấn đề kinh tế xã hội. Thành công thương mại mà cuốn sách giành được là sự đền bù xứng đáng cho phương hướng nhập cuộc của tác giả. 

 1985 

[1] Cù Lao Tràm, tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh Tuấn, Nxb. Văn nghệ TP. in lần thứ nhất, Tp. HCM., 1985; Nxb. Thuận Hóa, in lần thứ hai, Huế, 1985; Nxb. Hải Phòng in lần thứ ba, Hải Phòng, 1986.

[2] Xem bài Tôi viết “Những khoảng cách còn lại” của Nguyễn Mạnh Tuấn; trong cuốn Từ người thợ đến trang viết. Nxb. Lao động, Hà Nội, 1984, tr.168-174.

Leave a Reply