Thật thà như Nguyễn Trí Huân


Trung Trung Đỉnh

Tôi không thể nhớ tôi chơi với Huân từ hồi nào. Nói là chơi thì có khi cũng không đúng lắm. Vì tôi với Huân khá khác nhau về nhiều thứ: tính tình, sở nguyện lẫn chí hướng. Tôi ham du hí, thích nhậu nhẹt bừa bãi. Huân chỉn chu chăm chỉ, chừng mực, hiền lành. Chơi với Huân thì quả thật là khá nhạt nhẽo, đôi khi tức anh ách vì tính khí ngập ngừng, không ráo riết, trong khi đó tôi thì cứ hơi tí đã sồn sồn lên.

Công nhận thực ra thì là tôi không thích chơi với Huân. Và chúng tôi cũng ít khi chơi bời với nhau thật, mặc dù rất thân. Huân là một trong những người bạn thân nhất của tôi. Nhưng chơi thì không. Có lẽ vì thế lúc nào chúng tôi cũng có cái để ghét nhau, để cáu nhau, để quan tâm tới nhau. Tôi biết, nhiều lần Huân lo việc của tôi hơn cả lo cho mình. Mà nào có lo chi được cho nhau mô. Nhưng mà cứ lo. Lo thật chứ không phải lo chiếu lệ. Đời tôi vốn lông bông, không có quy hoạch trước được cái gì, từ công ăn việc làm đến vợ con, nhà cửa, tất tật đều do cái ông tướng số mà thành. Huân thì khác. Huân dường như đã có sẵn cái mặc định cho cuộc đời từ khi còn rất trẻ. Từ việc biết yêu đương, đến khi dựng vợ gả chồng, không phải đâu vào đấy, nhưng mà có lớp có lang, có bài có bản. Huân là một trong số vài người chưa học xong khóa I Nguyễn Du đã có Tạp chí Văn nghệ Quân đội ghi danh nhận về công tác. Tôi thì học xong vất vưởng chả ma nào ngó đến, may mà có anh “Ban ký sự lịch sử quân sự” mới thành lập người ta ghép cho tôi về. Ngày tôi về trại viết khu V cũng là suất vét. Trại đã được ổn định cả về nhân sự lẫn danh tánh, các nhà văn toàn người đã và đang rất nổi tiếng, trong đó có Huân. Còn tôi lẹt đẹt từ trong rừng ra, mới viết được đôi ba truyện ngắn in tạp chí Văn nghệ Quân khu, là lính địa phương, người nhà quê, Huân thì đã có tập truyện ngắn và cả tiểu thuyết lẫy lừng. “Năm 1975, họ đã sống như thế” là một cuốn tiểu thuyết ghi dấu ấn lịch sử trong tiến trình văn học cách mạng Việt Nam. Bởi ngay sau ngày ăn mừng chiến thắng đã có ba cuốn tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ, ba bức tượng đài diễm lệ ngợi ca những đoàn quân từ trên chiến khu đổ về giải phóng Thành phố, đó là “Trong cơn gió lốc” của Khuất Quang Thụy; “Nắng đồng bằng” của Chu Lai và “Năm 1975, họ đã sống như thế” của Nguyễn Trí Huân. Tôi mơ cũng không có được cái vị trí hoành tráng như thế.

*

Huân là một trong số ít các nhà văn được chuẩn bị chu đáo cả về sức khỏe, kiến thức nghề nghiệp lẫn kiến thức người lính để đi chiến trường. Đi chiến trường để viết văn. Đó là những năm cuộc chiến tranh chống Mỹ lên đến cao trào. Chiến trường đã kinh qua nhiều chiến dịch to lớn. Còn hậu phương lớn thì cũng đã có những vị trí nhất định nhằm chi viện tối ưu cho chiến trường. Các vùng chiến trường lớn như khu V, Bình Trị Thiên hay trong Nam bộ đều đã có những đợt cán bộ các ngành nghề như Kinh tế, Giáo dục, Văn hóa văn nghệ, đặc biệt là các văn nghệ sĩ được bổ sung kịp thời cho từng mặt trận. Họ náo nức lên đường và nhập cuộc rất nhanh. Họ là những văn nghệ sĩ chiến sĩ. Khi cần có thể cầm súng trực tiếp chiến đấu. Khi cần có thể làm chuyên viên, chuyên gia, làm cán bộ cơ sở, làm cán bộ phong trào v.v… Huân trước khi đi B đã có truyện ngắn in ở Văn nghệ Quân đội, đã được học khóa 3 lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn. Hội Nhà Văn Việt Nam đã chuẩn bị cho chiến trường nhiều nhà văn chiến sĩ đầy nhiệt huyết trước đó như Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Phan Tứ, Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quý v.v… Họ được các nhà văn lớp trước như Nguyên Hồng, Kim Lân, Bùi Hiển, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu tận tình truyền đạt những kinh nghiệm và bí quyết nghề nghiệp. Không khí xã hội lúc bấy giờ ngùn ngụt khí thế. Các khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”; “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Thanh niên thì “ba sẵn sàng”. Phụ nữ thì “ba đảm dang”. Ra đường gặp anh hùng dũng sĩ. Đi đến đâu, làm gì, ai ai cũng đều tập trung cho chiến trường, cho chiến thắng. Thơ văn chống Mỹ lúc bấy giờ hầu hết là thơ văn cổ động, thơ văn ngợi ca những điển hình, những tấm gương chiến đấu và sản xuất giỏi, chỉ le lói vài giọng trữ tình khe khẽ xao xuyến như văn Đỗ Chu, như thơ Bằng Việt. Thế là quá đủ. Còn lại thơ văn phải phục vụ chiến đấu thiết thực như cơm muối, như quân trang quân dụng. Hai tờ Tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Văn Nghệ là một món ăn bổ dưỡng cho người lính. Một nhu cầu không thể thiếu được cho hành trang người chiến sĩ. Nguyễn Trí Huân khoác ba lô đi chiến trường vào thời điểm ấy, 1970, một chàng trai trẻ giàu mơ mộng, nhiều khao khát, gặp thời thế như thế được gọi là quá may mắn, quá tuyệt vời.

Và đúng là may mắn, đúng là tuyệt vời thật.

*

Nếu cứ chiếu theo quy chuẩn thì tôi bị loại ngay đầu nước khi chọn vào học khoá I Nguyễn Du, vì hồi ấy tôi mới duy nhất có được một cái truyện ngắn “Đêm nguyệt thực” in ở Văn nghệ quân đội. Thái Bá Lợi thì đã có “Thung lũng thử thách”, Nguyễn Trí Huân đã có tập truyện ngắn “Mặt Cát”. Tôi nhớ hồi đó người ta quy định tiêu chuẩn vào học ít nhất cũng phải có bằng tốt nghiệp phổ thông. Tôi chưa học hết phổ thông (mới hết lớp 9) đã phải đi bộ đội thì làm sao có bằng. Thế mà rồi đâu cũng vào đấy. Tôi phải đi học lớp bổ túc cấp tốc ưu tiên cho một số sĩ quan sắp được cử đi học các trường. Cái khoá I “chuyên tu đại học viết văn Nguyễn Du” là một khoá học rất đặc biệt. Tôi biết không phải mình tôi thiếu bằng tốt nghiệp chính quy đâu! Tuy nhiên, bù lại, môn năng khiếu thì chúng tôi hoành tráng. Tôi, Thái Bá Lợi và Nguyễn Trí Huân đều thế. Cùng  xuất quân từ trại viết Khu V. Lợi đã có vợ có con. Tôi và Huân là hai thằng đực rựa, yêu yêu, đương đương lăng nhăng thì có chứ chưa có ý định “lập gia đình”. Như trên tôi đã nói, Huân thì chững chạc, còn tôi thì lêu têu chả ra gì. Hai thằng cùng chuyến tầu từ Đà Nẵng ra Bắc, tôi thấy Huân ngồi gần một bà mẹ, Huân rất khéo chiều bà, lo đi lấy nước, mua cơm giúp bà rất tận tình. Còn tôi, chả hiểu duyên phận thế nào, tôi lại làm quen được một cô nữ sinh đại học sư phạm ngoại ngữ, khoa tiếng Nga. Chúng tôi quen thân nhau rất nhanh. Cả đêm cả ngày trên tầu tíu tít với nhau. Nàng vào Đà Nẵng thăm người nhà. Tàu về đến ga Vinh thì chúng tôi chia tay vì nàng phải về quê Diễn Châu. Tôi ngẩn ngơ ôm hôn chia tay nàng dưới sân ga, tưởng như thế là chấm dứt. Huân chả biết gì. Huân mải mê nghe chuyện bà mẹ ngồi bên. Hồi ấy tôi nghĩ, Huân đúng là nhà văn thứ thiệt, đi đâu, làm gì cũng phải chăm chú tìm hiểu tài liệu để viết. Huân bảo tôi, bà mẹ này có một số phận kỳ lạ. Bà đi thăm ông chồng quê trong miền Nam ra. Hai ông bà lấy nhau khi ông tập kết ra Bắc, tưởng ông là trai tân, hoá ra ông đã có vợ con ở trong ấy rồi. Bà vợ trong ấy, lúc ông đi “R” thì đã lấy một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, có một người con gái nữa. Rồi chả hiểu sao hai người ấy lại bỏ nhau. Sau giải phóng, ông về, ông và bà vợ cũ tái hợp hôn. Hai người con của bà một với ông, một với người sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hoà cách nhau cả chục tuổi. Ông nhận tuốt. Bà mẹ ngồi kể cho Huân nghe cái sự rắc rối nếu mà không rộng lượng, ắt thành to chuyện. Nhưng bà cắn môi chịu thiệt. Bà lặn lội từ ngoài Bắc vào giúp ông “giải quyết vấn đề” trong ấm ngoài êm, mà cụ thể là tạo cho ông yên phận với quê cha đất tổ, với vợ cũ con cũ… Rắc rối lắm. Nhưng cũng đã êm xuôi cả rồi. Một chuyến tầu Huân thu lượm được bao nhiêu là chuyện. Còn cái thằng tôi, hư thì chưa dám nói là hư, nhưng đầu óc tuyền nghĩ đến mối tình vừa chia tay nóng hổi. May sau đó chừng một tuần, nàng của tôi vẫn giữ địa chỉ số 4 Lý Nam Đế mà tôi khai lậu, phi xích lô đến tìm. Nàng nói nàng gặp nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, được nhà thơ vẽ lối kiếm được xóm Vân Hồ 3. Thú thực, tôi đã toan quên tên nàng thì nàng xuất hiện, tươi rói, xinh đẹp và hồn nhiên. Huân bảo tôi, tao cứ ngờ ngợ cô này tao có gặp ở đâu đó rồi. Tôi át đi, vớ vẩn, cô này sinh viên dại học ngoại ngữ hẳn hoi, gặp ở đâu là thế nào! Huân có tính hay nhường nhịn, không thích tranh phần hơn thua, bất kể chuyện to chuyện nhỏ. Tôi nghiễm nhiên có người yêu.

Hồi ấy cánh lính chúng tôi dù sao tiêu chuẩn cũng rôm rả hơn cánh dân sự. Mỗi tháng ngoài tiêu chuẩn, chúng tôi được ăn theo Văn nghệ quân đội do anh Doãn Trung trưởng ban trị sự tài quan hệ, xin được thịt, cá, chia thêm. “Cánh rừng phía tây” chúng tôi rủ Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Hoàng Thu, Cao Duy Thảo về tụ tập đánh chén. Huân không bia rượu, không la cà đàn đúm, nhưng lại chiều bạn, ăn gì, làm gì cũng nhận phần thiệt, phần kém về mình. Chúng tôi khi ấy không bao giờ lại nghĩ sau này Huân sẽ làm đến chức Tổng biên tập cả tạp chí Văn nghệ Quân đội lẫn báo Văn Nghệ. Huân làm cán bộ hồi đầu thực chất chỉ vì tính nết nhu thuận, hiền hoà, hơi tí đã đỏ mặt, được cả cơ quan yêu quý. Ở Văn nghệ Quân đội trước đó có một tấm gương nổi tiếng hiền lành tốt bụng là Phó tổng biên tập Từ Bích Hoàng. Ông Hoàng được anh em gọi là ông Từ vì tốt bụng, tận tâm chu đáo với mọi người. Ông Hoàng cực kỳ yêu mến Huân, coi Huân như con cháu trong nhà. Huân cũng được anh em cơ quan tín nhiệm bầu vào cấp uỷ, rồi trưởng ban, rồi Phó Tổng biên tập, Tổng biên tập. Câu chuyện làm “quan” văn nghệ của Huân không trầm trầy trầm trật, không phải phấn đấu ganh đua. Huân lên, anh em cùng trang lứa ủng hộ tuỵêt đối. Các anh lớp trước cũng tin cẩn vui vẻ. Huân thực sự là “hạt giống đỏ” không phải của riêng Văn nghệ Quân đội mà là của cả Hội Nhà văn. Cấp trên có các vị to, rất to ủng hộ. Cấp dưới, từ cô lao công đến chú gác cổng đều một Huân hai Huân. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà, chưa bao giờ tôi thấy Huân phải chạy lên chạy xuống. Mà Huân cũng không phải dạng được lên tí thì vênh vang, khi làm to thì trở nên khó chịu như vài người. Huân vẫn thế. Vẫn bình dị, hiền hoà, vẫn không thấy mình làm “to”, vẫn sẵn lòng giúp ai cần giúp, từ việc nhỏ tí ti đến việc hệ trọng. Huân thực sự là mẫu cán bộ lý tưởng một thời. Cái thời làm cán bộ mà không phải lo bươn chải kiếm ăn cho anh em như bây giờ, ta hay quen gọi là thời bao cấp. Huân không tham lam, tính nết khẽ khàng, tốt từ trong ý nghĩ tốt ra, ai mà nói xấu Huân lập tức biến thành kẻ xấu trước mắt cánh tôi liền. Thực ra cũng có đôi lần tôi tức Huân, vì tôi thấy Huân tốt với cả kẻ xấu. Tốt với kẻ xấu ấy cũng là xấu vậy. Kẻ xấu lợi dụng lòng tốt của Huân, Huân cứ bơ đi như không biết gì. Của đáng tội, có khi tôi lại nghĩ, chuyện ấy mình thấy thế thì mình cáu, mua dây buộc mình, chứ còn y, y tỉnh như không, có khi y là tay cao thủ!

*

Huân có một cô vợ là giáo viên vừa  xinh xắn, tốt bụng và hiền hoà, có một bà mẹ tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Bà cũng rất thương quý tôi. Bà, mỗi lần nói chuyện gì là có một câu thành ngữ. Tôi chưa thấy ai thuộc nhiều thành ngữ và vận dụng điêu luyện, hay như bà. Hồi chiến tranh bà sống ở quê với cô con dâu cả, vợ của ông anh đã đi B trước Huân. Anh đã hy sinh ở chiến trường Quảng Đà. Một bà mẹ có hai con đi chiến trường thì hỏi mẹ phải lo đến mức nào. Mẹ tôi cũng thế, tôi biết, khi nghe anh tôi đã hy sinh, mẹ vẫn cứ ra ngẩn vào ngơ, lúc nào cũng nghĩ về anh, cũng hy vọng tin anh chết là tin thất thiệt. Các anh đang trên đường về. Mẹ tôi thỉnh thoảng thấy tôi kém cỏi thì thở dài “Hòn vàng thì mất, hòn đất thì còn”. Các mẹ nói thế không phải vì coi các anh chúng tôi là vàng còn chúng tôi là đất đâu. Vàng đất gì cũng là con mẹ. Nhưng các anh mất là cú sốc lớn nhất đời mẹ, không gì bù đắp được. Thời sau giải phóng miền Nam, Huân đi xa, mẹ Huân ở với cô em gái trong một căn nhà tạm sát chợ Nhổn. Sáng sáng bà nấu một ấm nước chè xanh rõ to, để giữa chợ, ai uống thì tự rót, tự uống, tự bỏ mấy xu vào trong cái vỏ lon. Còn cô em gái thì làm ở xí nghiệp tơ tằm. Thỉnh thoảng cô được xí nghiệp phân phối bán cho cả ký nhộng, Huân chia cho tôi và Hoa đem về đãi vợ con, ngon tuyệt vời. Ngày chiến tranh, đi bộ đội, Huân  vào khu V, trực tiếp tham gia chiến đấu cùng Sư đoàn Ba, một sư đoàn anh hùng, nổi tiếng của Quân Khu V. Hoài Châu là địa bàn thân thuộc của Sư đoàn và cũng là địa bàn thân thuộc của nhà văn Nguyễn Trí Huân. “Mặt Cát”; “Năm 1975, họ đẫ sống như thế”; “Chim én bay” của Huân đều viết về vùng đất này. Có thể nói, Hoài Châu đã làm nên tên tuổi nhà văn Nguyễn Trí Huân. Bà con Hoài Châu cho đến bây giờ nhiều người còn nhớ đến “chú Huân”. Huân về Hoài Châu như đứa con xa nhà lâu ngày về lại. Tôi có lần về Hoài Châu cùng Huân để bốc mộ ông anh, được bà con coi sóc nhiệt tình, ấm áp và sâu  nặng, không thể kể hết ra được.

Ngày tôi lấy vợ, có con, lại có thêm bà Điếc về trông con giúp việc nhà. Thú thật, bà Điếc về ở với tôi cũng là do cái duyên cái số tiền định thế nào, chứ không phải bà thuần túy là người giúp việc. Bà sớm làm chủ mọi bề. Huân, Phạm Hoa và tôi cùng ở dãy nhà cấp bốn xập xệ, cơ quan chả ra cơ quan, gia đình chả ra gia đình. Nhà nọ sang nhà kia thông thống. Nhưng mà vui đáo để. Đêm đêm tôi, Hoa, Huân thường quần đùi bộ đội, mình trần ra vòi nước công cộng xách nước về cho vợ con dùng. Huân bao giờ cũng canh nước cho tôi và Hoa xách về bể nhà mình trước. Có những đêm ba thằng đàn ông huỳnh huỵch, chò chõ chờ nước chảy vào những cái thùng, lúc tắc tị, khi ào ạt, niềm vui nỗi buồn cũng ri rỉ, ào ào theo nhịp vòi nước khuya khoắt. Ba thằng hút thuốc như ba cái “ống bễ” thuốc lá quấn, có hôm Huân đem cả điếu cày ra ngồi chờ nước. Hoa hay kể chuyện vặt thời lái xe Trường Sơn lăng nhăng lít nhít với mấy em thanh niên xung phong. Tôi thì kể những đêm đi vô ấp “bám cơ sở” lôi thôi cùng mấy cô du kích người dân tộc. Còn  Huân, Huân kể chuyện mấy em nhỏ đội du kích “chim én” Hoài Châu. Chúng tôi giết thời gian chờ nước bằng chuyện chả đâu vào đâu. Hồi ấy chúng tôi đều trẻ khỏe, rít thuốc lào xoe xóe cả đêm. Không hiểu sao khổ thế mà cánh tôi vẫn sống hồn nhiên được nhỉ? Cả khu  nhà chung nhau cái vòi nước, tưởng thế là đã khổ. Nhưng khổ hơn là cả khu nhà có chung nhau một cái nhà vệ sinh, có hôm buổi sáng đi cầu, người nọ chờ người kia, phải xếp hàng. Cả khu nhà chả ai có ti vi, mỗi nhà Huân tha đâu về được cái Samsung đen trắng, tối tối cả khu kéo nhau sang nhà Huân xem ti vi chung. Xem xong mọi người về, Huân ta dọn dẹp. Bà Điếc nhà tôi có hôm trở chứng trốn đi đâu biệt tăm mấy ngày. Tôi và Huân kèo kẽo đạp xe đi tìm khắp Hà Nội. Hóa ra, bà đi chơi nhà mấy người bà ở trước đó. Cuộc sống của cánh tôi có phần hoang dã, nhưng đầy ắp tình người. Thế mà rồi lũ nhóc của chúng tôi cũng lớn lên, cuộc sống biến thiên, mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh. Vợ chồng Huân, Hoa yên ấm. Vợ chồng tôi loạc choạc chia tay. Tôi chiều chiều đi đón con ở nhà trẻ về, tạt vào nhà Huân ăn cơm. Có khi chả báo trước, cứ gặp bữa là chén, thậm chí cả tháng trời, chiều chiều đón con từ nhà trẻ về, rồi sang nhà “bố” Huân đánh vài ván cờ, cờ xong là  chén. Sao hồi ấy tôi chén cơm nhà Huân nhiều thế mà chả thấy áy náy gì nhỉ? Bà trông thấy tôi thì bảo “bố” Đỉnh về ăn cơm. Mẹ Trâm cũng gọi “bố” Đỉnh về ăn cơm. Bọn con nhà Huân cũng một “bố” Đỉnh, hai “bố” Đỉnh. Nẹt thành quen. Mãi tới khi Huân lên Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi vẫn lẹt đẹt làm lính. Khi Huân vừa lên được mấy ngày, tôi đã khấp khởi, tinh tướng bảo Huân: “Bố Huân phải bố trí phòng khác cho tôi. Tôi ở cái phòng chín mét vuông này quá lâu rồi”. Huân bảo tôi: “Thì mày cũng phải từ từ”. Tôi nổi khùng: “Không từ từ gì nữa! Ông phải đổi phòng cho tôi. Cơ quan còn thừa phòng mà để cán bộ ở thế này à?”. Huân đỏ nhừ mặt, đứng lên nói: “Thì mày cũng phải để cho tao từ từ đã chứ”. Tôi không vừa: “Không từ từ. Làm cán bộ phải lo cho anh em. Thấy vô lý phải sửa ngay chứ! Ông có lo cho tôi không thì bảo” Huân điên lên: “Không! Mày cứ thế thì không bao giờ”. Tôi nổi đóa: “Thế thì ra khỏi phòng này ngay! Ra!”. Huân  chỉ vào mặt tôi, run run: “Từ nay tao cấm mày đến nhà tao ăn cơm!” Nói rồi đùng đùng biến mất ra ngoài hành lang.

Chiều hôm ấy tôi nghĩ lại, thấy mình sai bét nhè, nhưng không nói gì, cứ lặng lẽ đến nhà Huân ăn cơm. Vẫn như thường lệ, không ai mời trước, bà thì vẫn bình thản, vợ Huân và trẻ con cũng bình thản, chỉ có tôi và Huân chả thằng nào nói với nhau lời nào. Ăn xong tôi chuồn, Huân ra mở cửa, mặt vẫn tím bầm, nhưng tôi biết, y không còn giận tôi nữa.

Mà giận cũng được!

*

Hồi mới về trại viết khu V, tôi thấy các anh ai cũng đã nổi tiếng bề bề: không kể các anh Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Lưu Trùng Dương, Bùi Minh Quốc, bọn đàn em sau sau một tí như Thanh Thảo, Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, Trần Vũ Mai, Cao Duy Thảo, Vũ Thị Hồng, Ngô Thế Oanh cũng đều nổi đình nổi đám. Tôi là thằng em út, học hành lôm côm, thấy mình lính tráng thiệt  thòi nên cắm cúi xem các ông anh đọc gì, làm gì thì học, thì đọc. Tôi ngày ngày miệt mài đọc sách. Cái tủ sách hoành tráng của anh Ngô Thế Oanh tôi đọc lần lượt. Anh Oanh tỉ mẩn, kĩ lưỡng trong khâu đọc. Có thể nói tôi may mắn gặp được anh Ngô Thế Oanh và anh Thanh Thảo thường xuyên chỉ bảo đọc quyển gì quyển gì. Trước đó, hồi còn ở Gia Lai, trình độ của tôi cũng chỉ biết chăm chú đọc đến các cụ Nobel, khả năng chọn sách hay để đọc của tôi cũng chỉ đến thế. Sau này mới biết văn học không phải chỉ có mỗi văn học cách mạng. Càng không phải chỉ có ai đoạt giải Nobel mới là hay. Còn nhiều thứ hay nữa. Huân cũng là tay mọt sách. Y đọc không ồn ào như tôi, kín đáo và chăm chỉ hơn nhiều. Tôi ngoài đọc sách còn ham yêu đương, ham nhậu nhẹt, ham đi đây đi đó, ham bầu bạn mới cũ. Huân thì chăm chỉ công tác, ở đâu cũng được anh em cơ quan tin yêu, cấp trên cấp dưới đều một lòng tín nhiệm. Sống như Huân mà không tiến bộ thì mới là lạ. Sống như tôi mà cũng tiến bộ thì cũng mới thấy là lạ. Sông có khúc, người có lúc, đời con người ta kể cũng nhiều khúc, nhiều lúc kỳ khôi thật. Nhưng mà nó cũng không kỳ khôi lắm đâu. Nó có lớp có lang, có quy luật tiến hóa của nó đấy! Không thể ai mà đánh đùng một cái thành ông nọ bà kia liền. Ai cũng phải có quá trình, zic zắc thế nào là cái zíc zắc của mỗi người. Tự nó đi, tự nó đến. Hai thằng cùng một chuyến tầu ra thủ đô, đến nơi, một thằng làm sếp còn thằng kia là lính, đấy là sếp Huân và lính Đỉnh rành rành, không phải có số có má thì là cái gì? Có bon chen ghen tị cũng chả đến lượt, hình như biết thế nên về già cánh tôi lại chơi với nhau, chơi với nhau rồi lại xung khắc, lại đôi khi cáu giận đùng đùng. Chán thế. Cuộc đời làm biên tập viên của tôi nếu tính ra cũng trên dưới hai mươi năm. Huân làm lãnh đạo cũng trên dưới ngần ấy thời gian. Hồi Huân làm Tổng biên tập có một vụ việc nghiêm trọng xảy ra. Đó là chúng tôi đã để lọt cái truyện ngắn“Chuyện không có trong sự thật”. Thực ra không phải “để lọt” mà là do tôi đem về. Tôi đọc thấy hay, chả có vấn đề gì nên khấp khởi nộp đưa in. Nhóm bạn chơi của tôi hồi ấy có Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên và Nguyễn Thành Phong. Cánh tôi rất háo hức khi tranh luận với nhau về những chi tiết xung quanh chuyện con chó và bà chủ. Tôi thì thấy hay, quả thật là nó hay, tuy có hơi gợn, ở thời đại nào cũng chả có những câu chuyện gờn gợn đáng buồn, đáng sợ, nhưng truyện của Lập kín kẽ mà vẫn khốc liệt. Thì cũng chỉ trộm nghĩ thế thôi, nào ngờ, khi truyện in ra vào đúng dịp 27/7, ngay lập tức có sự phản ứng quyết liệt của vài người. Cũng chả sao, tôi nghĩ, truyện như thế mà không có người phản ứng thì thật đáng chán, Nhưng cũng ngay lập tức sau những người phản ứng là có kẻ cơ hội nghĩ ngay được  rằng đây là một truyện rất xấu, ám chỉ lãnh tụ, cái tên Ki Kop không phải ngẫu nhiên, mà đây là ý đồ xấu… Thế là trong Ban biên tập đảo điên, tưởng đâu Huân mất chức đến nơi, tưởng đâu có bọn “phá hoại nhiều mặt” trà trộn trong cơ quan gây rối nền văn học nước nhà. Bây giờ giở lại cuốn sổ tay ghi chép, tôi nhớ lại từng gương mặt các anh trong cuộc họp kiểm điểm nhau, có một vị tướng của TCCT dự. Vị tướng này có dáng vẻ rất hiền, rất trí thức nhưng rất rắn. Thế là lập tức những phát biểu gay gắt và đầy “lập trường” được những người bạn đồng nghiệp phân tích cả buổi, nào đồng chí Huân thế này, đồng chí Huân thế kia, nào đồng chí Đỉnh đã đem lửa về đốt cơ quan. Nào cái truyện này tôi đem về nhà giấu ngay không cho vợ con đọc, sợ bị nhiễm độc. Ai cũng có vẻ thương tiếc cho Huân, đáng tiếc cho Huân, nhưng thật tình không thể hiểu được sao Huân lại cho in như thế! Tóm lại, cái lỗi lầm này không thể nương nhẹ được. Mà thực ra tội lỗi là do đồng chí Đỉnh đem về, nhưng đúng như vị tướng nọ nhẹ nhàng kết luận, vì đồng chí Đỉnh không thuộc diện chúng tôi quản lý, chỉ là biên tập viên nên cũng chả còn chỗ nào mà kỷ luật. Đồng chí Huân phải “hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Huân ta nhất nhất đây là sự kém cỏi của tôi. Bao nhiêu sai sót đều do tôi, xin các đồng chí kỷ luật mình tôi là đủ rồi. Về phía tôi, tôi thấy thế cũng chướng, đề nghị cấp trên nếu kỷ luật đồng chí Huân thì  cũng nên xét cho tôi ké với, không thể để mình đồng chí Huân gánh. Nhưng vị tướng nọ được sự hưởng ứng cao độ của các nhà văn nhà thơ đã kết luận rất nhẹ nhàng rằng, nguyên tắc là nguyên tắc, các đồng chí ạ. Cuộc họp Ban biên tập rã rời ra về, trong bụng có anh khấp khởi, chuyến này Huân thế là đi đoong, mất chức là cái chắc.

Ở đời có những chuyện nhớ đời là như thế, đến bây giờ vẫn nhớ, nhớ và thấy chuyện thật khôi hài, thật vớ vẩn, sao mà hồi ấy mặt mũi các nhà văn nhà thơ mà cũng nghiêm trọng đến như thế? Đúng là ba cái anh hiền hiền thần thật như Huân, thỉnh thoảng có chuyện rắc rối gì thì lại thường là chuyện động trời! Huân là thế. Bằng kinh nghiệm của mình, Huân làm sếp luôn luôn được anh em tín nhiệm, ưu ái. Tôi đã chứng kiến nhiều lần Huân cứu được anh em bạn bè thoát qua những rắc rối từ chuyện “quan hệ” luyến ái cá nhân đến việc động trời mất sao mất gạch, mất chức, thậm chí có anh sắp mất cả sinh hoạt Đảng, được Huân thật thà ra tay bảo lãnh. Mà Huân bảo lãnh ổn.

Nhưng dù sao chuyện của tôi và Huân kể thế tạm còn nghe được. Kể thêm nữa khéo không lại thành câu chuyện làm quà, vạch áo cho người xem lưng, lưng thì đã còng, chí thì đã kiệt, như tôi, đến rượu bây giờ cũng đã oải rồi, hỏi còn thiết tha cơm cháo gì nữa. Ke ke.

 Nguồn: http://vanvn.net/

Leave a Reply