Thế nào là tác giả?


Michel Foucault

Michel Foucault (1926-1984), nhà triết học Pháp, một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất ở Pháp và châu Âu từ những năm 1960. Tác phẩm của ông đã mở ra một hướng mới đi đến việc đặt lại vấn đề các hiện tượng xã hội (các thể chế và tư tưởng). Như nhan đề một trong những tác phẩm chính của ông, Khảo cổ học tri thức, Archéologie du savoir, Foucault tự coi mình như một nhà khảo cổ tìm hiểu và xây dựng lại những gì làm nên văn hóa. Trong Khảo cổ học tri thức xuất bản năm 1969, Foucault trình bày hệ thống khái niệm đã được áp dụng trong các tác phẩm trước đó như Lịch sử bệnh điên khùng vào thời cổ điển, Histoire de la folie à l’âge classique (1961) và Khai sinh của bệnh viện, Naissance de la clinique (1963). Khảo cổ ám chỉ khoa học khai quật và tài liệu lưu trữ. Nhưng đối với Foucault, “lịch sử” có nghĩa khác : cần phải coi diễn ngôn (discours) như những sự kiện và cần phải nghiên cứu những điều kiện hình thành các diễn ngôn đó.

Trong Lịch sử bệnh điên khùng, ông không giải thích thế nào là bệnh điên khùng mà tìm hiểu bối cảnh lịch sử của quá trình trở thành bệnh lý của hiện tượng điên khùng. Trong lĩnh vực tri thức cũng vậy, Foucault nghiên cứu các phương thức tổ chức của các tri thức trong các thời đại lịch sử khác nhau. Ngay cách xếp đặt sách cũng cho thấy hình thức khác nhau của tri thức : ví dụ như thuật giả kim (alchimie) vào thế kỷ XVII được coi là khoa học (science) ; Newton tự nhận mình là nhà triết học và được người đương thời coi là một nhà triết học. Lịch sử tư tưởng vì vậy không thể được tách rời khỏi các lĩnh vực khác. Trong Các Từ và các Vật, Les Mots et les Choses (1966), tác phẩm đã giúp cho công chúng làm quen với Foucault, ông thử tìm hiểu các điều kiện hình thành của khoa học về con người. Theo ông, trong lịch sử tri thức, diễn ngôn về con người là một hiện tượng xuất hiện cách đây không lâu, chính xác hơn là “con người” như một khái niệm được sinh ra vào thế kỷ XIX. “Con người là một phát minh mà ta có thể, với phương pháp khảo cổ, dễ dàng chứng minh rằng đó là phát minh mới. Và có thể là sắp kết thúc“. Foucault cho rằng mỗi giai đoạn lịch sử có một cách bàn về tri thức khác nhau. Đó là épistémè, điều kiện quyết định để một thời đại có thể tư duy hay không. Từ thời Phục Hưng đến thế kỷ XIX có ba épistémè đã thay nhau tồn tại : vào thời Phục Hưng, các từ và cácvật có quan hệ thống nhất ; thế giới quanh ta được coi như một cuốn sách mở do Thượng đế sáng tạo ra và cần phải được giải nghĩa. Vào thời cổ điển, ngôn ngữ không còn có quan hệ trực tiếp với các vật nữa, mà là công cụ của ý tưởng và biểu đạt ý tưởng. Thế kỷ thứ XIX là thời điểm của một sự thay đổi triệt để : các khoa học mới xuất hiện (ngữ văn nghiên cứu sự thay đổi của các ngôn ngữ, sinh học nghiên cứu sự tiến hóa, kinh tế chính trị nghiên cứu con người phát ngôn, sinh sống và làm việc). Đó là lúc sinh ra con người với tư cách là đối tượng của khoa học. Nhưng con người nằm ở một vị trí không rõ ràng bởi vừa là đối tượng vừa là chủ thể, chính vì vậy mà khoa học về con người không có cơ sở vững chắc và chỉ là một thời điểm trong lịch sử tri thức.

 *

         “Chủ đề buổi nói chuyện ngày hôm nay là “Thế nào là tác giả ?”, trước hết tôi cần giải thích các lý do của sự lựa chọn này.

Nếu tôi chọn vấn đề có vẻ hơi lạ lùng này, đó là vì trước hết tôi muốn phê bình một số luận điểm mà tôi đã từng phát biểu trước đây, và phân tích một số sai lầm mà tôi đã từng phạm phải. Trong Các Từ và các Vật**, tôi đã thử phân tích 3 mảng từ ngữ, giống như 3 lớp diễn ngôn không dùng các đơn vị đo đếm thông thường như quyển sách, tác phẩm hoặc tác giả. Tôi trình bày về “lịch sử tự nhiên”, “phân tích của cải”, và “kinh tế chính trị” mà không hề nói về tác phẩm hoặc tác giả. Nhưng tôi đã dùng một cách ngây thơ, có nghĩa là không biện giải rõ ràng, một số tên tác giả như Buffon, Cuvier, Ricardo, v.v. Chính vì vậy mà có hai luận điểm phê bình đã được phát biểu. Một số người bảo tôi rằng : ông sai lầm khi miêu tả Buffon và toàn bộ tác phẩm của Buffon, và những gì ông nói về Marx là rất thiếu sót. Phê bình này hoàn toàn có cơ sở, nhưng tôi không cho rằng chúng phù hợp đối với điều mà tôi muốn nói, bởi vấn đề tôi đặt ra không phải là miêu tả Buffon hoặc Marx, hoặc trình bày lại những gì họ đã nói hoặc muốn nói, mà tôi chỉ muốn tìm hiểu những quy tắc đã giúp cho họ xây dựng một số khái niệm hoặc hệ thống lý thuyết trong văn bản của họ. Mặc khác, một số người phê bình tôi như sau : ông tạo nên những trường phái quái dị, ông so sánh những tên tuổi rõ ràng đối lập nhau như Buffon và Linné, ông để Cuvier ở cạnh Darwin, và  điều đó là hoàn toàn trái ngược với các quan hệ thân thuộc và sự giống nhau tự nhiên. Trong trường hợp này, tôi cũng không cho rằng phê bình này là xác đáng vì tôi chưa bao giờ muốn viết gia phả của các nhà tư tưởng đó ; tôi không muốn chụp ảnh chân dung trí thức của nhà bác học hoặc tự nhiên học thế kỷ XVII và XVIII ; tôi cũng không muốn lập nên bất kỳ một gia đình trí thức thần thánh hay không nào ; mục đích của tôi chỉ là muốn tìm hiểu một điều rất khiêm tốn, đó là các điều kiện hoạt động của các hành động diễn ngôn đặc thù.

Vậy thì, tại sao lại dùng tên tác giả trong Các Từ và các Vật  ? Đúng ra là phải hoặc không dùng bất kỳ một tên nào, hoặc xác định rõ cách dùng các tên đó. Nhận xét này theo tôi là hoàn toàn có cơ sở, và trong một bài viết sắp được công bố, tôi đã thử tìm hiểu các quan hệ và các hậu quả của nó, định nghĩa những hệ thống diễn ngôn lớn như cái được gọi là Lịch sử tự nhiên hoặc Kinh tế chính trị, và tìm hiểu những phương pháp, những công cụ cho phép xác định vị trí của các hệ thống đó, phân chia chúng, phân tích và miêu tả chúng. Đó là phần đầu của một công trình tôi đã bắt đầu từ mấy năm nay và bây giờ đã hoàn thành.

Nhưng có một câu hỏi khác được đặt ra về tác giả, và chính đó là điều tôi muốn trình bày ngày hôm nay. Khái niệm về tác giả là một thời điểm quan trọng trong quá trình cá nhân hóa trong lịch sử tư tưởng, tri thức, văn học, cũng như trong lịch sử triết học, khoa học. Cho đến ngày nay, tôi tin rằng khi nghiên cứu lịch sử một khái niệm, một thể loại văn học, hoặc một hình thức triết học, người ta vẫn cho rằng những đơn vị đó là tương đối không chắc chắn, thứ cấp và chỉ là một lớp được thêm vào đối với một đơn vị nguyên thủy, chắc chắn và cơ sở, có nghĩa là đơn vị tác giả và tác phẩm.

Hôm nay tôi sẽ không phân tích nhân vật tác giả dưới góc độ lịch sử và xã hội học. Tác giả đã được cá nhân hóa như thế nào trong một nền văn hóa như văn hóa phương Tây ? Tác giả đã đạt tới địa vị nào trong xã hội ? việc tìm hiểu tính xác thực của văn bản và tác giả đã bắt đầu từ bao giờ ? tác giả đã được đưa vào trong hệ thống giá trị nào ? người ta đã bắt đầu kể chuyện cuộc đời và sự nghiệp của tác giả (thay cho anh hùng) từ khi nào ? phạm trù cơ bản “con người – tác phẩm” trong phê bình đã được xây dựng như thế nào ? Tất cả các vấn đề đó đều đáng được nghiên cứu. Nhưng ở đây tôi chỉ muốn đề cập đến một vấn đề duy nhất là quan hệ giữa văn bản và tác giả, phương thức mà văn bản hướng về nhân vật có vẻ như vừa ở bên ngoài và vừa có trước văn bản này.

Tôi mượn lời Beckett để dẫn luận vào vấn đề này : “Người nào nói thì có gì là quan trọng, có ai đó đã nói là ai nói cũng không quan trọng.” Tôi nghĩ rằng cần phải nhận thấy, trong sự lãnh đạm này, một trong những nguyên tắc đạo đức cơ bản của văn học (écriture) đương đại. Tôi dùng chữ “đạo đức, éthique”, bởi vì sự lãnh đạm này không phải là một đặc điểm của phong cách viết hoặc nói ; mà nó dường như là một quy tắc nội tại, luôn được tiếp tục, nhưng không bao giờ được áp dụng một cách rõ ràng, đó là một nguyên tắc không thể hiện ra ở văn học như thành quả, mà luôn bao trùm văn học như hành động. Quy tắc này quá quen thuộc với chúng ta nên không cần phải phân tích dài dòng ; ở đây tôi sẽ chỉ rõ nó qua hai đề tài sau đây. Trước hết ta có thể nói rằng văn học ngày nay đã tự giải phóng khỏi yêu cầu về nội dung thể hiện : nó chỉ có chính bản thân nó là mẫu mực, tuy nhiên nó không bị rơi vào hình thức nội tại ; nó đồng nhất hóa với tính ngoại tại của bản thân nó. Điều đó có nghĩa là văn học là một trò chơi ký hiệu được sắp đặt không chỉ bằng nội dung biểu đạt, mà chủ yếu bằng bản tính của cái biểu đạt ; nhưng tính hợp thức này luôn được thử nghiệm ở giới hạn của nó ; văn học luôn vượt ra ngoài giới hạn và lật ngược sự hợp thức mà nó đã chấp nhận và nó lợi dụng ; văn học hoạt động như một trò chơi luôn đi quá các quy tắc đã được đặt ra và tiếp tục chơi ở ngoài phạm vi đã xác định. Trong văn học, không còn có sự thể hiện hoặc ca ngợi hành vi viết ; nó không gắn một đề tài vào ngôn ngữ ; vấn đề là tạo ra một không gian mà trong đó người viết luôn luôn biến mất.

Chủ đề thứ hai còn quen thuộc hơn nữa : đó là sự giống nhau giữa sự viết (écriture) và cái chết. Quan hệ này lật ngược một chủ đề xa xưa : truyện kể (récit), ví dụ anh hùng ca của người Hy Lạp, có chức năng lưu truyền sự bất tử của người anh hùng, và nếu người anh hùng chấp nhận chết trẻ, đó là để cuộc đời của anh ta trở nên bất tử bởi được cái chết làm rạng rỡ ; truyện kể là một cách chuộc lại cái chết tự nguyện đó. Đứng từ một phương diện khác, truyện kể Ả rập, trong Nghìn lẻ một đêm chẳng hạn – cũng có động cơ, chủ đề và lý do là thoát khỏi cái chết : kể chuyện đến rạng sáng để trốn cái chết, để đẩy lùi kỳ hạn khi sẽ người kể sẽ bị bịt miệng. Truyện kể của Shéhérazade, đó là mặt trái của sự giết người, đó là sự cố gắng mỗi đêm để giữ cái chết ở ngoài vòng sự sống. Văn hóa phương Tây hiện đại đã biến đổi chủ đề về truyện kể hoặc văn học được sáng tạo để xua đuổi cái chết này ; văn học giờ đây được gắn liền với sự hiến tế, hiến tế sự sống ; sự xóa bỏ tự nguyện không cần phải được thể hiện trong tác phẩm, bởi nó được thực hiện trong chính cuộc sống của nhà văn. Tác phẩm trước đây có nhiệm vụ mang lại sự bất tử giờ đây lại nhận được quyền sát nhân, quyền xóa bỏ tác giả. Hãy lấy ví dụ trong Flaubert, Proust, Kafka. Nhưng ở đây còn có một vấn đề khác : quan hệ giữa văn học và cái chết còn được thể hiện bằng sự xóa bỏ tính cá nhân của người viết ; người viết dùng mọi mánh khóe giữa anh ta và tác phẩm để đánh lạc hướng mọi dấu hiệu về cá tính của anh ta ; dấu hiệu của nhà văn chỉ còn là sự đặc biệt của sự vắng mặt ; người viết phải đóng vai người chết trong trò chơi của văn học. Tất cả những điều đó đã được nói đến nhiều ; và đã từ lâu phê bình và triết học đều đã thừa nhận sự biến mất, hoặc cái chết, của tác giả.

Tuy vậy tôi không chắc rằng người ta đã rút ra tất cả các hậu quả của sự công nhận đó, và đã tưởng tượng hết tầm quan trọng của sự kiện đó. Chính xác hơn là có một số khái niệm đáng lẽ được sử dụng để thay thế cho quyền lợi của tác giả, lại níu giữ nhân vật này lại và không làm rõ ràng thêm gì. Tôi chỉ lấy ví dụ hai khái niệm mà tôi cho là ngày nay chúng có tầm quan trọng đặc biệt.

Trước hết là khái niệm “tác phẩm”. Người ta nói (và đây cũng là một luận đề quen thuộc) rằng tính đặc thù của phê bình không phải là phân tích các quan hệ của tác phẩm đối với tác giả, mà cũng không phải là muốn dùng văn bản để phục hồi lại một tư tưởng hoặc một kinh nghiệm nào đó ; theo đó thì phê bình ngày nay cần phải phân tích tác phẩm trong cấu trúc của nó, trong hình thức nội tại và trong trò chơi của các quan hệ bên trong của nó. Nhưng muốn thế thì trước hết phải giải quyết vấn đề sau đây : ” Thế nào là tác phẩm ? Tổng thể được gọi tên là tác phẩm là gì ? Nó được cấu thành bởi những yếu tố nào ? Một tác phẩm, đó chẳng phải là những gì đã được viết bởi cùng một tác giả sao ?”. Như vậy là không ít khó khăn đã nảy sinh. Nếu một cá nhân không phải là tác giả, liệu có thể nói rằng các giấy tờ anh ta để lại có thể được gọi là “tác phẩm” không ? Ví dụ, nếu Sade không phải là “tác giả” thì liệu những cuộn giấy mà trên đó ông trải dài các ý tưởng ngông cuồng trong suốt thời gian ở tù, có được coi là “tác phẩm” hay không ?

Nhưng ngay cả khi đó là một tác giả đã được công nhận, thì liệu tất cả những gì ông ta đã viết hoặc nói, tất cả những gì ông ta để lại có phải là “tác phẩm” không ? Đây là một vấn đề lý thuyết và kỹ thuật. Ví dụ, phải dừng lại ở đâu khi muốn công bố tác phẩm của Nietzsche ? Tất nhiên là phải in lại tất cả những gì mà đương thời bản thân Nietzsche đã công bố. Còn các bản thảo của Nietzsche thì sao ? Tất nhiên là cũng phải công bố rồi. Còn các dự án châm ngôn (projet d’aphorisme) ? Đương nhiên. Còn các những dấu gạch xóa, những ghi chép ở dưới trang sổ ? Đương nhiên rồi. Nhưng khi trong một cuốn sổ đầy châm ngôn lại có những chi tiết như một tên sách, ghi chép về một cuộc gặp, hoặc một địa chỉ, một hóa đơn giặt quần áo thì sao ? Đây là tác phẩm, hay không phải là tác phẩm ? Mà tại sao lại không phải là tác phẩm ? Và câu hỏi này là không cùng. Trong hàng triệu các dấu vết một người để lại sau khi chết đi, làm sao có thể xác định đâu là một “tác phẩm” ? Lý thuyết về tác phẩm không tồn tại, và tất cả những ai bắt tay một cách ngây thơ vào việc xuất bản một tác phẩm nào đó đều thiếu lý thuyết và chẳng mấy chốc mà họ sẽ gặp khó khăn. Và ta còn có thể tiếp tục đặt những câu hỏi như sau : liệu Nghìn lẻ một đêm có phải là một tác phẩm không ? Và Stromatescủa Clément d’Alexandrie hoặc Vies của Diogène Laërce ? Các câu hỏi về khái niệm tác phẩm này thật vô cùng đa dạng. Chính vì vậy mà tuyên bố “chúng ta hãy bỏ qua nhà văn, bỏ qua tác giả, và hãy nghiên cứu bản thân tác phẩm” là không đủ. Trên thực tế, thuật ngữ “tác phẩm” và tính thống nhất mà nó hàm ý cũng có vấn đề không kém tính cá nhân của tác giả.

Theo tôi thì còn một khái niệm nữa cũng đặt vấn đề cho những người tuyên cáo sự biến mất của tác giả ; nó còn giữ tư tưởng ở lại bên bờ vực thẳm của sự biến mất này ; nó còn giữ gìn sự tồn tại của tác giả. Đó là khái niệm về écriture, sự viết. Nói một cách thật chặt chẽ thì đáng lẽ nhờ có nó ta không những không cần đến tác giả, mà sự vắng mặt mới mẻ của tác giả này còn được đưa đến một địa vị mới. Thật vậy, trong địa vị của khái niệm văn tự, sự viết (écriture) ngày nay, vấn đề không phải là hành động viết, hoặc dấu vết (hiểu như triệu chứng hay dấu hiệu) của điều mà người nào đó muốn nói ; ngược lại, người ta đã cố gắng tư duy một cách sâu sắc điều kiện tồn tại nói chung của mọi văn bản, điều kiện không gian, cũng như điều kiện thời gian.

Nhưng tôi tự hỏi rằng liệu khái niệm đôi khi được dùng với nghĩa thông thường này có chuyển các tính chất cá nhân của tác giả, trong một sự vô danh tiên nghiệm. Thật vậy, đôi khi người ta chỉ bằng lòng với việc xóa bỏ những dấu hiệu quá rõ rệt của sự tồn tại của tác giả bằng cách sử dụng, đồng thời hoặc đối lập nhau, hai phương pháp nhằm định nghĩa nó : dạng thức phê bình và dạng thức tôn giáo. Thật vậy, nói rằng văn tự, chữ viết (écriture) có một địa vị nguyên thủy, điều đó chẳng phải là chuyển sang ngôn ngữ tiên nghiệm lời khẳng định thần học về tính chất thần thánh của văn tự, cũng như sự khẳng định phê bình về tính chất sáng tạo của văn tự hay sao ? Công nhận rằng văn tự, nhờ có lịch sử, mà lịch sử thì tồn tại do có văn tự, lại bị quên lãng và trấn áp, đó chẳng phải là đang tư duy, bằng ngôn ngữ tiên nghiệm, nguyên tắc tôn giáo về một ý nghĩa bí mật (và sự cần thiết phải giải mã nó) và nguyên tắc phê bình các ý nghĩa ẩn ngầm, các quyết định thầm lặng, các nội dung tối nghĩa (với sự cần thiết phải bình giải nó) ? Cuối cùng, tư duy văn tự như sự vắng mặt, đó chẳng phải là chỉ đơn giản lặp lại, bằng ngôn ngữ tiên nghiệm, nguyên tắc tôn giáo về truyền thống vừa không bất di bất dịch, và không bao giờ được hoàn thiện, và nguyên tắc mỹ học về sự tồn tại mãi mãi của tác phẩm, của sự chiến thắng cái chết, và sự thái quá bí ẩn của nó đối với tác giả ?

Vì vậy, tôi cho rằng sử dụng khái niệm văn tự (écriture) có thể vẫn bảo lưu các đặc quyền của tác giả bằng truyền thống tiên nghiệm : trong sự trung hòa tranh sáng tranh tối, nó tổ chức trò chơi của các biểu tượng đã hình thành một hình ảnh về tác giả. Như vậy là sự biến mất của tác giả, một hiện tượng bắt đầu từ Mallarmé và còn tiếp tục diễn ra, bị xích lại dưới gông cùm của tính tiên nghiệm. Chẳng phải là vẫn có sự chia rẽ khá rõ rệt giữa những người tưởng rằng còn có thể tư duy các gián đoạn ngày nay trong truyền thống lịch sử-tiên nghiệm của thế kỷ XIX, và những người đang cố gắng vượt ra khỏi nó, hay sao ?

Nhưng tất nhiên là không phải cứ nhắc đi nhắc lại rằng tác giả đã biến mất là đủ. Nói đi nói lại rằng Thượng đế và con người đã chết đồng thời cũng không đủ. Cần phải xem xét khoảng trống do sự biến mất của tác giả để lại, theo dõi sự phân bố của những lỗ hổng và vệt rạn nứt, theo dõi những vị trí và những chức năng mà sự biến mất này đã làm nảy sinh.

Trước hết tôi muốn nói ngắn gọn về các vấn đề do tên tác giả đặt ra. Thế nào là tên tác giả ? Nó hoạt động ra làm sao ? Tôi không đưa ra một giải pháp có sẵn, mà chỉ muốn chỉ ra một số khó khăn liên quan đến tên tác giả mà thôi.

Tên tác giả là một tên riêng ; nó cũng đặt ra những vấn đề như các tên riêng khác (ở đây tôi muốn nhắc đến các phân tích của Searle). Tất nhiên là tên riêng không phải là đơn giản. Ngoài chức năng chỉ định, tên riêng, cũng như tên tác giả, còn có những chức năng khác. Nó là một cái gì đó hơn một sự chỉ định, một động tác chỉ vào ai đó. Ví dụ khi nói “Aristote”, ta dùng một từ có tác dụng như một sự miêu tả hoặc một loạt miêu tả, kiểu : “tác giả của Analytiques“, hoặc “người sáng lập ra bản thể học”, v.v. Nhưng tên riêng không đơn giản chỉ là một biểu hiện nghĩa ; ví dụ khi ta phát hiện ra rằng Rimbaud không viết La Chasse spirituelle, ta không thể cho rằng tên riêng (hoặc tên tác giả) đó đã thay đổi ý nghĩa. Thật vậy, tên riêng và tên tác giả nằm ở giữa cực miêu tả và cực chỉ định ; rõ ràng chúng có quan hệ với cái mà chúng gọi tên, nhưng không hẳn bằng phương thức chỉ định, cũng không hẳn bằng phương thức miêu tả ; đó là một quan hệ đặc biệt. Tuy nhiên, và ở đây ta bắt đầu gặp những khó khăn riêng của tên tác giả, quan hệ giữa tên riêng với cá nhân được gọi tên và quan hệ giữa tên tác giả với cái mà nó gọi tên không có cùng một dạng thức và hoạt động. Sau đây là một số ví dụ về sự khác nhau giữa tên riêng và tên tác giả.

Nếu tôi phát hiện ra rằng mắt của Pierre Dupont không phải là màu xanh, hoặc ông ta không sinh ra ở Paris, hoặc không phải là bác sĩ, v.v. thì trong mọi trường hợp, cái tên Pierre Dupont vẫn tiếp tục chỉ một người nhất định ; quan hệ chỉ định không vì thế mà bị thay đổi. Ngược lại, các vấn đề do tên tác giả đặt ra lại phức tạp hơn nhiều. Nếu tôi phát hiện ra rằng Shakespeare không sinh ra ở ngôi nhà mà tôi đến thăm hôm nay, thì đó là một phát hiện không làm thay đổi sự hoạt động của tên tác giả. Nhưng nếu có người chứng minh rằng Shakespeare không phải là người viết các bản Sonnets vẫn được gán cho ông, thì đó là một sự thay đổi khác về bản chất : sự thay đổi này sẽ làm thay đổi hoạt động của tên tác giả Shakespeare. Và nếu có người chứng minh được rằng Shakespeare đã viếtOrganon của Bacon, bởi đơn giản là người đã viết tác phẩm của Shakespeare và của Bacon chỉ là một, thì đó lại là loại thay đổi thứ ba sẽ làm thay đổi hoàn toàn sự hoạt động của tên tác giả. Vì vậy mà tên tác giả không phải là một tên riêng bình thường.

Nhiều sự kiện khác cũng tỏ rõ tính đặc biệt của tên tác giả. Nói Pierre Dupont hoặc Homère, hoặc Hermès Trismégiste chưa bao giờ tồn tại, không có cùng một hậu quả ; trong trường hợp thứ nhất, ta chỉ muốn nói rằng không có ai mang tên Pierre Dupont ; trong trường hợp thứ hai, điều đó có nghĩa là có nhiều người đã bị nhầm lẫn, hoặc tác giả thực sự không có gì giống với những gì vẫn được gán cho Homère hoặc Hermès. Nói rằng Pierre Dupont không phải là tên thật của một người nào đó, và  nói rằng Stendhal tên thật là Henri Beyle, là hai chuyện khác nhau. Ta cũng có thể phân tích ý nghĩa và hoạt động của một câu kiểu “Bourbaki, đó là …” và “Victor Ermita, Climacus, Anticlimacus, Frater Taciturnus, Constantin Constantius, đó là Kierkegaard”.

Các sự khác nhau đó có thể bắt nguồn từ lý do sau : một tên tác giả không chỉ là một yếu tố trong một diễn ngôn (chủ ngữ hay bổ ngữ, có thể được thay bởi một đại từ, v.v.) ; mà nó đóng một vai trò nhất định trong diễn ngôn : nó có chức năng phân loại, nó cho phép tập hợp một số văn bản, chỉ ra phạm vi, cho vào hoặc bỏ ra, so sánh chúng với những văn bản khác. Ngoài ra, nó có chức năng liên hệ các văn bản với nhau. Ta không thể nói rằng Hermès Trismégiste hoặc Hippocrate đã từng tồn tại, như Balzac chẳng hạn ; nhưng nhiều văn bản đã được tập hợp dưới cùng một tên, điều đó có nghĩa là giữa chúng có quan hệ thuần nhất hoặc nguồn gốc, hoặc chúng có quan hệ xác thực đối với các văn bản khác, hoặc quan hệ giải thích lẫn nhau, hoặc sử dụng đồng thời. Cuối cùng là tên tác giả có chức năng nêu đặc tính của một hình thức diễn ngôn : một diễn ngôn phải có tên tác giả để người ta có thể nói rằng “điều này đã được nói bởi người này”, hoặc  “người này là tác giả”, điều đó có nghĩa là diễn ngôn này không phải là lời nói gió bay, lời nói thường ngày, không có gì đặc biệt, được tiêu thụ ngay lập tức, mà ngược lại đó là một lời nói cần phải được tiếp nhận trong một phương thức nào đó, và cần phải có một vị trí nhất định trong một nền văn hóa nhất định.

Những nhận xét này cho phép ta đi đến ý tưởng rằng tên tác giả không giống như tên riêng, có nghĩa là nó không đi từ trong diễn ngôn ra ngoài đến cá nhân có thật và ở bên ngoài, cá nhân đã sản sinh ra diễn ngôn ; mà nó dường như luôn ở đường giới hạn của văn bản, nó thực hiện sự phân chia các văn bản đó, nó đi theo các đường xương sống của văn bản, nó thể hiện phương thức tồn tại hoặc ít ra là nó nêu đặc tính của văn bản. Tên tác giả thể hiện sự kiện một nhóm diễn ngôn được tập hợp cùng nhau, và nó chỉ ra địa vị của diễn ngôn đó trong một xã hội và trong một nền văn hóa nhất định. Tên tác giả không nằm trong hộ tịch, mà cũng không nằm trong hư cấu của tác phẩm ; nó nằm ở chính sự gián đoạn cấu thành một số diễn ngôn và phương thức tồn tại đặc biệt của chúng. Do đó, ta có thể nói rằng, trong một nền văn hóa như văn hóa phương Tây, một số diễn ngôn có chức năng “tác giả” và một số diễn ngôn khác không có chức năng đó. Một bức thư riêng có thể có người ký tên, một hợp đồng có người bảo đảm, một văn bản vô danh được đọc trên tường ngoài phố có người viết, nhưng chúng không có “tác giả”. Như vậy chức năng tác giả là đặc tính của phương thức tồn tại, sự lưu thông và hoạt động của một số diễn ngôn trong một xã hội nào đó.

Đã đến lúc cần phải phân tích chức năng “tác giả”. Trong nền văn hóa phương Tây, một diễn ngôn có chức năng tác giả có đặc tính như thế nào ? nó khác các diễn ngôn như thế nào ? Theo tôi thì ta có thể, nếu chỉ quan tâm đến tác giả một cuốn sách hoặc một văn bản, nhận ra bốn tính chất khác nhau của chức năng đó.

Trước tiên, các văn bản là vật thuộc quyền sở hữu ; hình thức sở hữu chúng là một hình thức đặc biệt và được pháp luật quy định từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, hình thức sở hữu này xuất hiện sau cái mà ta có thể tạm gọi là sở hữu trong luật hình sự. Văn bản, sách, bài phát biểu, tất cả những cái đó chỉ bắt đầu thực sự có tác giả (một tác giả bằng xương bằng thịt chứ không phải là nhân vật huyền thoại, hoặc những nhân vật được thần thánh hóa) khi tác giả có thể bị trừng phạt, có nghĩa là khi các diễn ngôn có khả năng vi phạm luật lệ. Trong nền văn hóa phương Tây (cũng như trong nhiều nền văn hóa khác) diễn ngôn trước kia không phải là một sản phẩm, một vật, một vật sở hữu ; nó trước hết là một hành động, một hành động nằm trong một trường điện lực với hai cực đối nhau là tôn giáo / phàm tục, hợp pháp / không hợp pháp, phải đạo / báng bổ thần thánh. Trong lịch sử, diễn ngôn là một hành vi mạo hiểm trước khi trở thành tài sản trong một hệ thống các vật sở hữu. Và khi chế độ sở hữu văn bản, khi các luật lệ nghiêm ngặt về quyền tác giả, về quan hệ giữa tác giả và nhà xuất bản, về quyền sao chụp, v.v. được thiết lập – có nghĩa là vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX ở châu Âu – thì chính vào thời điểm đó khả năng vi phạm luật pháp của hành động viết càng trở nên một đòi hỏi cấp bách đặc trưng cho văn học. Dường như vào thời điểm mà tác giả được đặt vào trong hệ thống các vật sở hữu đặc trưng cho xã hội phương Tây, anh ta bù trừ cho địa vị mới bằng cách tìm về trường điện lực xa xưa với hai cực của diễn ngôn, tái lập lại mối hiểm nguy của hành động viết được xã hội hiện đại bảo đảm cho quyền lợi của tài sản sở hữu.

Mặt khác, chức năng tác giả không tác động đến mọi diễn ngôn một cách phổ biến và đồng đều. Trong nền văn hóa phương Tây, không phải mọi diễn ngôn đều có nhu cầu có tác giả. Trong một số thế kỷ trước, những văn bản mà ngày nay chúng ta gọi là “văn học” (như truyện, truyện cổ tích, trường ca, bi kịch, hài kịch) được chấp nhận, đưa vào hệ thống giao chuyển, và làm tăng giá trị mà không có ai đặt vấn đề về tác giả ; sự vô danh của các văn bản này không thành vấn đề, sự tồn tại lâu năm thật sự hoặc được giả định của chúng là bảo đảm đầy đủ. Ngược lại, vào thời Trung Cổ, những văn bản mà ngày nay chúng ta xếp vào mục “khoa học” (như về vũ trụ, bầu trời, y học và các bệnh tật, về tự nhiên hoặc địa lý) chỉ được chấp nhận và có giá trị là chân lý với điều kiện có tên tác giả. Những công thức như “Hippocrate đã nói”, “Pline kể rằng”, thật ra không phải là luận chứng uy tín ; đó là dấu hiệu của những diễn ngôn cần được chấp nhận với tư cách là đã được kiểm chứng. Vào khoảng thế kỷ XVII hoặc XVIII, diễn ngôn khoa học bắt đầu được nhìn nhận với tư cách là văn bản không cần tên tác giả, sự vô danh này có nghĩa là một chân lý đã được công nhận, hoặc luôn có thể được chứng minh ; bắt đầu từ đó diễn ngôn khoa học được bảo đảm bằng sự thuộc về một toàn thể có hệ thống, chứ không phải là lời dẫn người đã viết ra nó. Chức năng tác giả dần dần bị xóa mờ, tên của người phát minh chỉ còn được dùng để đặt tên cho một định lý, mệnh đề, hiệu ứng, đặc tính, vật thể, một nhóm yếu tố, một triệu chứng bệnh lý. Ngược lại, các diễn ngôn “văn học” ngày nay chỉ có thể được chấp nhận với điều kiện có chức năng tác giả : mỗi văn bản thơ ca hoặc tiểu thuyết đều phải có xuất xứ, tên người viết, thời điểm và hoàn cảnh sáng tác. Ý nghĩa của văn bản, vị trí và giá trị của nó phụ thuộc vào cách trả lời cho các câu hỏi đó. Và thậm chí nếu một văn bản không có tác giả, bởi một sự rủi ro hoặc do ý muốn của tác giả, thì điều cần làm đầu tiên là phải phát hiện ra tác giả. Trong thời đại ngày nay, sự vô danh không được chấp nhận nữa, và chúng ta chỉ có thể coi nó như một câu đố mà thôi. Chức năng tác giả hoạt động hết công suất trong lĩnh vực văn học. (Tất nhiên là phải đánh giá thận trọng : phê bình văn học đã bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm theo các tiêu chí khác nhau như loại hình, các yếu tố thường xuyên xuất hiện, các biến tấu xung quanh một yếu tố bất biến không phải là cá nhân tác giả nữa. Cũng vậy, nếu trong toán học người ta chỉ còn nói đến tác giả để gọi tên một định lý hoặc một loạt mệnh đề, thì trong sinh học và trong y học, tên tác giả và thời điểm phát minh có một vai trò hơi khác : đó không chỉ là một cách chỉ nguồn thông tin, mà còn có chức năng chỉ ra độ “tin cậy” đối với các kỹ thuật, các vật thí nghiệm được sử dụng vào một thời điểm và trong một phòng thí nghiệm nhất định.)

Tính chất thứ ba của chức năng – tác giả không phải là một điều hiển nhiên như sự chỉ định tác giả cho một diễn ngôn, mà là kết quả của một quá trình phức tạp nhằm xây dựng một chủ thể lý tính mà ta gọi là tác giả. Người ta thường cố gắng tạo ra cho chủ thể đó một cái gì đó hiện thực : trong cá nhân, đó là một độ “sâu lắng”, một quyền lực “sáng tạo”, một “dự án”, nói tóm lại là nơi bắt nguồn của sự viết. Nhưng trên thực tế, cái được gọi là tác giả trong một cá nhân (hoặc cái làm cho một cá nhân trở thành tác giả) chỉ là sự áp dụng cho cá nhân, với những thuật ngữ ít nhiều có màu sắc tâm lý, những gì mà người ta thực hiện trên văn bản như việc sắp xếp, chọn lựa những nét được coi là xác đáng, công nhận một số yếu tố trong sự tiếp nối và bỏ qua một số yếu tố khác. Tất cả những thao tác đó đều thay đổi theo thời đại và theo kiểu loại diễn ngôn. Một “tác giả triết học” không được xây dựng giống như một “nhà thơ”, vào thế kỷ XVIII cũng như ngày nay. Tuy vậy, chúng ta có thể phát hiện ra một yếu tố không thay đổi theo thời gian trong quy tắc xây dựng tác giả.Ví dụ, tôi nghĩ rằng trong phê bình văn học, trong một thời gian dài, phương pháp xác định tác giả, hoặc nói đúng hơn là xây dựng hình thái-tác giả trên cơ sở các văn bản và diễn ngôn đang tồn tại, có nguồn gốc khá rõ ràng trong truyền thống Thiên chúa giáo, có nghĩa là cách công nhận (hoặc không công nhận) các văn bản. Nói khác đi là để “tìm được” tác giả trong tác phẩm, phê bình văn học hiện đại sử dụng những mô hình rất gần với truyền thống chú giải của Thiên chúa giáo khi muốn chứng minh giá trị của một văn bản bằng tính thánh thiện của tác giả. Trong Những người nổi tiếng, De Viris illustribus, thánh Jérôme giải thích rằng việc nhiều văn bản có tên tác giả giống nhau không đủ để xác định một cách đúng đắn các tác giả của những tác phẩm đó : nhiều cá nhân khác nhau có thể mang cùng một tên, hoặc cũng có thể là có người vay mượn tên của người khác. Như vậy, tên họ, dùng để chỉ một cá nhân, là yếu tố cần nhưng không đủ đối với một truyền thống văn bản. Vậy làm thế nào để có thể xác định là nhiều diễn ngôn cùng thuộc về một tác giả ? Làm thế nào dùng chức năng – tác giả để có thể biết rằng trong trường hợp này có một hay nhiều cá nhân? Thánh Jérôme đưa ra 4 tiêu chí : nếu trong số sách được coi là của cùng một tác giả có một cuốn chất lượng kém rõ rệt, thì phải xóa cuốn sách đó khỏi danh sách tác phẩm của tác giả đó (như vậy tác giả được xác định như một mức giá trị không thay đổi) ; nếu có văn bản đối lập về mặt nội dung với các văn bản khác của cùng tác giả, cũng phải gạch văn bản đó ra khỏi danh sách (trong trường hợp này tác giả được coi như một loạt khái niệm hoặc lý thuyết có sự gắn bó chặt chẽ) ; cũng phải lựa bỏ những tác phẩm được viết với một phong cách khác, với những câu chữ thường không được viết bởi ngòi bút của tác giả (như vậy tác giả được coi là phải thống nhất về phong cách) ; và cuối cùng thì có những văn bản được thêm vào sau, bởi chúng có liên quan tới những sự kiện xảy ra sau khi tác giả đã chết, hoặc trích dẫn những tác giả sống vào thời đại sau đó (như vậy tác giả được coi là một thời điểm lịch sử xác định và nơi gặp gỡ của một số sự kiện lịch sử). Ta có thể nhận thấy là phê bình hiện đại, ngay cả khi không có mục đích chính thức một tác phẩm nào đó, cũng không làm khác : tác giả là điều cho phép lý giải sự hiện diện của một số sự kiện trong tác phẩm, cũng như nhiều dạng biến thái của những sự kiện đó trong tác phẩm, bằng việc nghiên cứu tiểu sử tác giả, tìm hiểu quan điểm cá nhân của tác giả, phân tích nguồn gốc xã hội hoặc vị trí giai cấp trong xã hội, việc thực hiện dự án lớn lao của tác giả. Tác giả cũng được coi là sự thống nhất nào đó về cách viết – tất cả những sự khác nhau đều phải được quy về nguyên tắc quá trình phát triển, chín muồi, hoặc ảnh hưởng. Tác giả còn là điều cho phép vượt qua những đối lập có thể gặp trong một loạt tác phẩm : ở một cấp độ nào đó, trong ý tưởng hoặc trong mơ ước, trong ý thức hoặc vô thức, thế nào cũng phải có nơi các mâu thuẫn được giải quyết, các yếu tố không tương hợp cuối cùng cũng được sắp xếp một cách có lôgíc, hoặc được tổ chức xung quanh một mâu thuẫn nguyên thủy hoặc cơ bản. Cuối cùng, tác giả cũng được coi là trung tâm ngôn ngữ được thể hiện, dưới những dạng ít nhiều hoàn thiện, trong tác phẩm, cũng như trong bản thảo, thư từ, các đoạn viết, v.v. Như vậy là 4 tiêu chí mà thánh Jérôme dùng để chính thức hoá một văn bản (và các nhà chú giải hiện nay cho là không đủ nữa) đã xác định 4 hình thái mà phê bình hiện đại áp dụng cho chức năng tác giả.

Nhưng chức năng tác giả không phải là một sự tái tạo đơn giản được thực hiện về sau trên cơ sở một văn bản không có hồn. Bản thân văn bản bao giờ cũng mang trong mình nó một số dấu hiệu về tác giả đã được các nhà nghiên cứu ngữ pháp phát hiện như đại từ chỉ ngôi, các trạng ngữ chỉ thời gian và nơi chốn, các dạng chia động từ. Nhưng các yếu tố này đóng vai trò khác nhau trong các diễn ngôn có chức năng tác giả và các diễn ngôn không có chức năng này. Trong các diễn ngôn không có chức năng tác giả, các yếu tố ngôn ngữ nói trên chỉ người phát ngôn trong thực tế và những chi tiết thời gian và không gian của diễn ngôn đó (nhưng cũng phải nhận xét ngay là có thể có một số thay đổi, ví dụ như khi diễn ngôn được kể lại bằng ngôi thứ nhất). Ngược lại, trong các diễn ngôn có chức năng tác giả, vai trò của các yếu tố ngôn ngữ này phức tạp và biến đổi nhiều hơn. Ta đều biết trong một tiểu thuyết được giới thiệu như một câu chuyện kể có người kể chuyện, các yếu tố như đại từ chỉ ngôi thứ nhất, thời hiện tại của động từ, các từ chỉ nơi chốn, không có nghĩa đó là nhà văn, thời điểm viết, hoặc hành động viết, mà tất cả những yếu tố đó thuộc về một nhân vật khác có khoảng cách gần hay xa đối với bản thân nhà văn, và khoảng cách này có thể thay đổi ngay trong tác phẩm. Tìm kiếm tác giả trong nhà văn trong thực tế cũng sai lầm không kém gì việc tìm kiếm tác giả trong người kể chuyện hư cấu này ; thật vậy, chức năng – tác giả được thực hiện chính trong sự phân cách và khoảng cách này. Có thể có ý kiến cho rằng đó chỉ là một chức năng đặc biệt của diễn ngôn trong tiểu thuyết hoặc thơ ca, đó là một trò chơi chỉ áp dụng được cho các “diễn ngôn” không hẳn là diễn ngôn này. Nhưng trên thực tế, mọi diễn ngôn có chức năng – tác giả đều là diễn ngôn đa chủ thể. Người viết lời nói đầu của một tác phẩm toán học và trình bày bối cảnh phát minh, không thể được đồng nhất, về vị trí cũng như về cách hoạt động, với người phát ngôn trong phần chứng minh và xuất hiện dưới dạng “Tôi kết luận”, hoặc “Tôi giả thuyết” ; trong trường hợp lời nói đầu, đại từ “tôi” chỉ một cá nhân độc nhất vô nhị đã hoàn thành một công việc nào đó vào một thời điểm và ở một nơi nào đó, trong khi đó thì ở trường hợp thứ hai, đại từ “tôi” chỉ một thời điểm và một bước thao tác mà mọi cá nhân đều có thể thực hiện, với điều kiện là phải chấp nhận hệ thống biểu tượng, các tiên đề và các chứng minh đã được làm trước đó. Ta còn có thể phát hiện ra một nhân vật thứ ba nữa, đó là người nói về mục đích của công việc, những khó khăn đã gặp phải, những kết quả đạt được, và những vấn đề còn đặt ra ; nhân vật này thuộc về một lĩnh vực khác, đó là toàn bộ những diễn ngôn toán học đã tồn tại hoặc sẽ được viết ra. Chủ thể thứ nhất (trong lời nói đầu) không thể thực hiện riêng biệt chức năng – tác giả, và các chủ thể khác cũng không phải là sự phân thân của chủ thể thứ nhất. Tuy nhiên, ta cũng cần phải nhận xét rằng trong diễn ngôn toán học, chức năng – tác giả hoạt động một cách đặc biệt và đưa đến việc phân tách ba chủ thể đồng thời đó.

Tất nhiên là ta còn có thể nghiên cứu và phát hiện thêm một số tính chất của chức năng – tác giả nữa. Nhưng trong buổi nói chuyện ngày hôm nay, tôi muốn dừng lại ở bốn tính chất mà tôi vừa nói đến, bởi đó là những tính chất vừa dễ nhận thấy nhất và vừa quan trọng nhất. Tôi sẽ tóm tắt bốn tính chất này như sau : chức năng – tác giả gắn liền với hệ thống luật pháp và thể chế có nhiệm vụ xác định giới hạn và phân chia các phần trong thế giới diễn ngôn ; chức năng này không tác động một cách đồng đều lên mọi diễn ngôn trong mọi giai đoạn lịch sử và hình thái văn hóa khác nhau ; nó không được xác định bởi việc một diễn ngôn được coi là thuộc về một người viết ra diễn ngôn đó, nhưng bởi một loại các thao tác đặc biệt và phức tạp ; và cuối cùng, chức năng – tác giả không chỉ một cá nhân cụ thể một cách đơn giản, mà nó có thể đưa ra cùng một lúc nhiều chủ thể khác nhau, trong những vị trí là chủ thể của câu có thể được phát ngôn bởi những cá nhân khác nhau.

Nhưng khi kết luận như vậy, tôi nhận thấy tôi đã giới hạn đề tài không có lý do. Tất nhiên là còn cần phải nói về chức năng – tác giả trong hội họa, trong âm nhạc, trong lĩnh vực kỹ thuật, v.v. Tuy nhiên, ngay cả khi chỉ giới hạn trong lĩnh vực diễn ngôn như tôi muốn ngày hôm nay, tôi thấy rằng tôi đã dùng thuật ngữ “tác giả” một cách quá hạn hẹp. Tôi chỉ nói về tác giả như tác giả một văn bản, một cuốn sách hoặc một hệ thống tác phẩm được xác định như thuộc về một tác giả. Trên thực tế trong lĩnh vực diễn ngôn, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng có tác giả không chỉ là tác giả của một cuốn sách, mà còn là tác giả của một lý thuyết, một truyền thống tri thức, một bộ môn khoa học mà trong đó còn có các cuốn sách khác và các tác giả khác. Tôi có thể gọi tắt các tác giả này là tác giả nằm ở vị trí “siêu – diễn ngôn”.

Đó là một hiện tượng thường gặp, từ buổi đầu của nền văn minh chúng ta. Homère và Aristote, hoặc các Thánh thành lập nên đạo Thiên chúa giáo, cũng như những nhà toán học đầu tiên và những người bắt đầu truyền thống của Hippocrate, đều là những người có vai trò đó.  Nhưng tôi có cảm giác rằng vào thế kỷ thứ XIX ở châu Âu xuất hiện những loại hình tác giả khá đặc biệt mà ta không thể nhầm lẫn với các tác giả “lớn” trong văn học, hoặc với các tác giả văn bản tôn giáo kinh điển, hoặc với các nhà sáng lập ra các ngành khoa học. Chúng ta có thể tạm gọi họ là “người sáng lập diễn ngôn”.

Các tác giả này có đặc điểm là họ không chỉ là tác giả của tác phẩm của họ, mà họ còn đưa ra một cái gì đó hơn thế nữa khi họ mở ra một con đường mới và chỉ ra các bước đi, có nghĩa là sự có thể tồn tại và phương pháp tạo ra những văn bản khác. Đứng trên phương diện này, họ hoàn toàn khác với tác giả của một tiểu thuyết là người chỉ là tác giả của văn bản của mình chẳng hạn. Ví dụ, Freud không chỉ là tác giả của Traumdeutung hoặc của Mot d’esprit[1] ; Marx không chỉ đơn giản là tác giả của Tuyên ngôn hoặc của Tư bản[2] : các tác giả này đã mở ra cánh cửa cho phép sự tồn tại vô hạn của diễn ngôn. Tất nhiên là có thể nhận xét rằng tác giả của một tiểu thuyết có thể không chỉ là tác giả của một tiểu thuyết mà thôi, và từ một góc độ nào đó, và chỉ cần lấy ví dụ một tác giả khá “quan trọng” là đủ thấy tác giả đó cũng có thể ảnh hưởng rộng hơn là bản thân tiểu thuyết. Ví dụ như trường hợp rất đơn giản của Ann Radcliffe. Ta có thể nói rằng Ann Radcliffe không chỉ viết Những hình ảnh hiện lên ở lâu đài Pyrénées[3] và một số tiểu thuyết khác, mà còn cho phép sự xuất hiện của tiểu thuyết kinh dị thời đầu thế kỷ XIX, và như vậy là chức năng tác giả của Ann Radcliffe đã vượt quá phạm vi tác phẩm của mình. Tuy nhiên, câu trả lời của tôi cho nhận xét này là như sau : những “người sáng lập diễn ngôn” như Marx và Freud (bởi tôi cho rằng họ là những người đầu tiên và quan trọng nhất) cho phép tồn tại những điều hoàn toàn khác với những gì một tác giả tiểu thuyết đưa ra. Các văn bản của Ann Radcliffe đã khai phá cho một số những nét giống nhau bắt nguồn từ trong tác phẩm của nhà văn này. Đó là những dấu hiệu đặc trưng, hình thái, quan hệ, cấu trúc có thể được sử dụng lại bởi những tác giả khác. Nói Ann Radcliffe đã sáng lập ra tiểu thuyết kinh dị thật ra có nghĩa là trong tiểu thuyết kinh dị của thế kỷ XIX cũng như trong tác phẩm của Ann Radcliffe, có một nhân vật nữ bị rơi vào bẫy của chính sự ngây thơ của mình, lâu đài bí ẩn hoạt động như một phản – thành phố, nhân vật bị nguyền rủa và buộc phải bắt thế giới trả giá cho cái ác, v.v. Ngược lại, khi tôi nói là Marx và Freud như “người sáng lập diễn ngôn”, điều đó có nghĩa là họ không chỉ đưa ra một số nét giống nhau, mà họ cũng cho phép sự tồn tại của những sự khác nhau. Họ đã mở ra một không gian cho những gì khác với họ, nhưng những điều đó vẫn thuộc về khoảng không mà họ đã khai phá. Nói rằng Freud đã sáng lập nên phân tâm học, điều đó không có nghĩa là (không đơn giản chỉ có nghĩa là) ta có thể tìm thấy các khái niệm về libido, hoặc các kỹ thuật phân tích giấc mơ trong tác phẩm của Abraham hoặc Melanie Klein, mà điều đó có nghĩa là Freud đã cho phép tồn tại một số khác biệt đối với tác phẩm của ông, khái niệm và giả thuyết ông đã đưa ra, mà các khác biệt đó đều thuộc về diễn ngôn phân tâm học nói chung.

(…)    Tất cả những gì tôi vừa phác thảo về những “người sáng lập diễn ngôn” vẫn còn rất sơ sài. Đặc biệt là sự đối lập giữa sự sáng lập đó và sự thành lập một khoa học. Tất nhiên là khó có thể nói được đây là trường hợp nào, và không có gì cho phép kết luận rằng hai phương pháp đó không thể cùng tồn tại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng chức năng – tác giả đã là một chức năng phức tạp khi chúng ta muốn nghiên cứu ở mức độ một tác phẩm hoặc một loạt văn bản có cùng một chữ ký, và chức năng này còn có nhiều khía cạnh hơn khi chúng ta muốn tìm hiểu nó trong các hệ thống lớn hơn như các nhóm tác phẩm, hoặc toàn bộ một bộ môn tri thức nào đó.

Nguyễn Phương Ngọc dịch từ tiếng Pháp: M. Foucault, Dits et écrits (Những bài nói và viết), tập I (1954-1975), Daniel Defert và Françoise Ewald biên soạn, tr. 817-849.

Chú thích:

[1] Freud (S.), Die Traumdeutung (Giải nghĩa giấc mơ), Vienne, Franz Deuticke, 1900 ; Der Witz und seine Beziehung zum Unbewussten (Lời nói sắc sảo và quan hệ với vô thức), Vienne, Franz Deuticke, 1905.

[2] Marx (K.) và Engels (F.), Manifest der kommunistischen Partei (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản), Londres, K. E. Burghard, 1848 ; Das Capital. Kritik der politischen Oekonomie (Tư bản), Hambourg, O. Meissner, 1867-1894, 3 tập.

[3] Radcliffe (A.W.), Les visions du château des Pyrénées (tiểu thuyết ngụy tác, bản dịch của G. Garnier và Zimmerman theo nguyên bản xuất bản tại Londres năm 1803, Paris, 1810, 4 tập).

Leave a Reply