Thiếu Sơn, nhà văn chính trực (1908 – 1978)


Nguyễn Thị Thanh Xuân

 

Đã hơn 100 năm ngày Thiếu Sơn ra đời và 30 năm ngày nhà văn mất, tôi đọc lại Ông.

Trước mắt tôi là những trang viết, không bề thế.

Năm mươi năm cầm bút, từ viết văn đến phê bình, làm báo; sau 1954, vào tù ra khám, Thiếu Sơn rải ngòi bút của mình nhiều nơi, chắc là việc sưu tầm ông cũng khó khăn. Tôi mừng là được gặp lại di cảo của Thiếu Sơn, trong tập sách này. Cách nay 20 năm, tôi đã được đọc nó trên tập giấy cũ kỹ vừa viết tay vừa đánh máy mà Cô Ngọc, con gái của nhà văn, đã cho xem, trong căn nhà nhỏ bé lặng lẽ sau Lăng Ông Bà Chiểu.

Tuổi đôi mươi, ông đã làm nên sự kiện. Trong buổi bình minh của lịch sử phê bình văn học Việt Nam, Thiếu Sơn xuất hiện như một người mở đường, bằng tác phẩm Phê bình và Cảo luận (Nxb. Nam Ký, H.1933), tập sách phê bình văn học đầu tiên của nước ta viết bằng chữ quốc ngữ. Cũng chính từ cái mốc đáng nhớ ấy mà mãi cho đến sau này, dù phần lớn quãng đời còn lại của Thiếu Sơn là hoạt động báo chí, người ta vẫn nhắc đến ông như một nhà văn, một nhà phê bình văn học có đóng góp cho nước nhà.

Trang viết của Thiếu Sơn đến với chúng ta hôm nay cũng khiêm nhường như con người ông, dù ông là chứng nhân và đã một thời làm nên sự kiện. Là chứng nhân, Thiếu Sơn cho chúng ta hình ảnh một trí thức chính trực; với sự kiện, Thiếu Sơn trở thành nhà phê bình mở đường.

Vì vậy, trước khi đọc những gì Thiếu Sơn để lại, xin hãy mở lại từng trang cuộc đời của Thiếu Sơn, để nhận ra dáng đứng của một trí thức Việt Nam trong cơn bão giông lịch sử.

Thiếu Sơn được sinh ra trong một gia đình hoàn cảnh không mấy ấm êm. Từ bé, ông đã phải theo cha sống nhiều nơi ở các tỉnh thượng du Bắc Bộ. Do bệnh tật và cuộc sống không ổn định, con đường học vấn của Thiếu Sơn lắm khi bị gián đoạn. Vốn mê văn chương từ nhỏ, Thiếu Sơn tự học, bắt đầu tập dịch và tập viết văn. Một vài bài văn nhỏ của ông thuở ấy đã được đăng trên Nam Phong và Khai Hóa với tên thật là Lê Sỹ Quý. Thi rớt tú tài, gặp kỳ thi tuyển nhân viên bưu điện cho toàn Đông Dương, tổ chức tại Hà Nội, Thiếu Sơn nộp đơn xin dự thi và đỗ đầu (1929). Năm 1930, Thiếu Sơn nhận nhiệm sở tại Gia Định. Từ đấy, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với vùng đất phương Nam của Tổ quốc.

Những năm đầu thập kỷ 30, báo chí Nam Bộ bùng phát, nhiều nhà văn ở các miền khác vào Sài Gòn hoạt động. Phan Khôi, người phụ trách trang văn học của Phụ nữ tân văn, là người đầu tiên nhận được các bài phê bình văn học đầu tay cứng cáp của một chàng trai Bắc Kỳ 23 tuổi (năm 1931, trong đó có bài phê bình về Phan Khôi).

Trong lời giới thiệu trân trọng trên báo Phụ nữ tân văn, Phan Khôi đã tỏ rõ sự hồi hộp của mình trước sự xuất hiện của một thể văn lạ “cô dâu nếu là mới thì lối văn phê bình nhân vật này đối với xã hội ta lại còn mới hơn nữa” (Phê bình và Cảo luận, sđd, tr.13). Ông cho đó là “những bài văn hay” là “hột gạo no nê nguyên vẹn”. “Mới ngó như khí sơ lược một chút, nhưng xem kỹ thì thấy tác giả cốt trọng về đại thể, chứ không cầu toàn (…) đúng với phương pháp phê bình”(Sđd ,tr.15).

Sau đó, năm 1932, giáo sư Ưng Quả, trong một buổi diễn thuyết văn học ở Huế, có nhắc đến sự cần thiết của phê bình văn học và nhận xét về Thiếu Sơn: “Mấy bài ông Thiếu Sơn viết bằng một lối văn chặt chịa, chải chuốt, trong đó ta thấy cái ảnh hưởng của văn Tây dung hợp cái sở hiếu rất chắc chắn”(Sđd. tr.8).

Được dư luận ủng hộ, chỉ hai năm sau, các bài viết này được tập hợp, bổ sung và công bố trong tập Phê bình và Cảo luận (1933).

Năm 1935, Thiếu Sơn tạo nên sự kiện thứ hai: bài phê bình Hai cái quan niệm về văn học của ông đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, cùng với các bài viết khác của Hoài Thanh đã làm bùng nổ cuộc tranh luận Nghệ thuật 1935-1939, một cuộc bút chiến quan trọng vào bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam.

Thiếu Sơn cũng thử bút bằng tiểu thuyết nhưng không thành công (Người bạn gái, Nxb. Cộng lực, 1941). Ngược lại, các bài phê bình và tiểu luận của ông, viết trong 10 năm (1933-1943) sau Phê bình và Cảo luận, được tập hợp trong Câu chuyện văn học (Nxb. Cộng lực, 1943) đã gây được một tiếng vang lớn trong dư luận và được trích đọc nhiều buổi trên sóng đài phát thanh Pháp – Á Sài Gòn lúc bấy giờ.

Thiếu Sơn còn viết tiểu luận xã hội: Cuốn Đời sống tinh thần (Nxb. Đời mới, 1945) của ông là những suy tưởng nhỏ về đời sống, con người, nhìn từ góc độ nghề nghiệp và giới tính. Chọn lời của Gaston Regeot làm đề từ: “Chúng ta đã không còn sống ra người. Cần phải trở lại cái cốt cách nhân loại”, Thiếu Sơn bày tỏ những thao thức của mình về xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Tập sách đã được giải thưởng Alexandre De Rhodes.

Một số trang văn trong hai tập sách trên đây đã được chọn trích đưa vào sách giáo khoa bậc trung học.

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Thiếu Sơn chứng kiến một cuộc đổi đời đầy xáo trộn mà thoạt đầu ông còn nghi ngại. Nhưng khí thế cách mạng và phong trào chung của tầng lớp trí thức, cùng với sự đối xử vô nhân đạo của giặc Pháp với nhân dân và với chính bản thân ông, đã đưa ông từ những suy nghĩ quen thể hiện trong sách vở đến những hành động thực tế. Khi một nhóm đảng viên đảng Xã hội Pháp ủng hộ kháng chiến sáng lập tờ Justice (Công lý) tại Sài Gòn, Thiếu Sơn tìm đến cộng tác và sau đó xin gia nhập đảng Xã hội (15-12-1945, lúc ấy tên gọi tắt là SFIO: Section Française de I’International Ouvrière). Valère làm Tổng thư ký và Thiếu Sơn là Tổng thư ký các chi bộ đảng viên người Việt.

Justice là một trong những tờ báo đi đầu trong phong trào “Báo chí thống nhất”, và là tờ báo đầu tiên bằng Pháp ngữ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Liên tiếp trên các số báo Justice phát hành hàng tuần, những bài báo của Thiếu Sơn là những phát súng nã vào dinh lũy kẻ thù. Ông đấu tranh đòi thi hành Tạm ước 14-9-1946, vận động thành lập Liên đoàn Văn hóa cứu quốc ở Nam Bộ và tích cực tham gia cứu trợ tù nhân chính trị.

Tháng 12-1946, chính phủ Nam kỳ tự trị buộc các công chức phải đi dự lễ tuyên thệ trung thành với chế độ. Thiếu Sơn làm đơn phản kháng, ông tuyên bố rằng việc này đã xâm phạm quyền tự do tư tưởng của con người, vì “công chức chỉ bán công việc chứ không bán lương tâm”, đồng thời ông gửi đơn từ chức lên Giám đốc sở Bưu điện.

Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Thiếu Sơn xin nghỉ việc lần thứ hai. Trong lá đơn gửi Giám đốc sở Bưu điện, ông viết : “Tôi không mặt mũi nào ngồi làm một cộng sự viên cho Pháp, trong khi đồng bào tôi đương liều chết để kháng chiến chống Pháp”.

Từ bỏ một vị trí ổn định mà nhiều người mơ ước, Thiếu Sơn chọn sống cuộc đời đạm bạc, dành hết tâm lực và thì giờ vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc bằng ngòi bút. Những bài báo của ông trong thời gian này được tập hợp trong tập tiểu luận chính trị Giữa hai cuộc cách mạng (Nxb. Mạch Sống, 1947)

Năm 1948, Thiếu Sơn đã từ chối lời mời làm Bộ trưởng Bộ thông tin cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân.

Nhân lễ thụ phong Trung tướng của mình (1949), Nguyễn Bình đã mời Thiếu Sơn cùng với một số nhân sĩ khác ở Sài Gòn vào thăm chiến khu Đồng Tháp Mười. Ở đây, nhà văn được gặp lại giáo sư Phạm Thiều, giáo sư Ca Văn Thỉnh và nhiều trí thức nổi tiếng khác. Sau đó vài tháng, Thiếu Sơn lại đưa Alain Savary (nghị viên Hội đồng Liên hiệp Pháp) vào khu tiếp xúc với đại diện Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Khi trở về Sài Gòn, Thiếu Sơn bị bắt giam ở Khám lớn một thời gian ngắn.

Nhận thấy tờ Justice là một nguy cơ, thực dân Pháp đã tìm cách lần lượt đẩy những đảng viên Xã hội nòng cốt tiến bộ như Valère và Hervochon (Tổng thư kí thứ hai) về Pháp. Số đảng viên Xã hội người Pháp còn lại hầu hết là những kẻ ngả theo phe thực dân, chủ trương ủng hộ chính phủ Bảo Đại. Nhận thấy không thể tiếp tục hoạt động ở Sài Gòn, Thiếu Sơn quyết định thoát ly ra vùng kháng chiến.

Tháng 7 năm 1949, Thiếu Sơn ra vùng tự do thuộc khu 7. Bốn tháng sau, Thiếu Sơn về Đồng Tháp Mười, nhận công tác ở sở Thông tin Nam bộ do Huỳnh Tấn Phát làm giám đốc.

Năm 1950, khi các cơ quan của xứ ủy Nam Bộ chuyển xuống khu 9, Thiếu Sơn được phân công về Đài Phát thanh tiếng nói Nam Bộ và sau đó chuyển về làm Thư kí tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ.

Công chúng Nam Bộ lúc bấy giờ được đọc những bài bình luận sắc sảo mà dí dỏm của Thiếu Sơn, do ông tổng hợp và phân tích các tin tức đăng trên các báo chí từ trong thành gửi ra. Giỏi làm dân vận, Thiếu Sơn thường được đồng bào các nơi đưa xuồng rước về nói chuyện thời sự. Những câu chuyện của ông thường hấp dẫn và dễ hiểu, góp phần động viên được tinh thần chiến đấu của quần chúng. Có miếng ngon hoặc ngày giỗ chạp thế nào bà con cũng phải mời được Thiếu Sơn về.

Các bài viết của Thiếu Sơn trong thời gian này được in trong cuốn Những người làm nên lịch sử, do Ban Tuyên giáo Trung ương cục miền Nam xuất bản năm 1951.

Hiệp định Genève (1954) ký kết, Thiếu Sơn được phân công ở lại, tháng 6-1955, ông về Sài Gòn. Chẳng bao lâu, trên các báo lại thấy xuất hiện tên tuổi của Thiếu Sơn bên cạnh Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Tùng, các nhà văn kháng chiến hồi cư.

Đầu năm 1956, bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, Thiếu Sơn phải trải qua các nhà tù Khám Lớn, Catinat, Gia Định, Thủ Đức, Biên Hòa, mãi đến 4 năm sau (1960) mới được trả tự do. Dù bị bị theo dõi thường xuyên, Thiếu Sơn vẫn tiếp tục viết bài đăng trên các báo Thần chung, Điện tín, Đất tổ, Dân chủ, Dân quyền, Thiện mỹ, Tin sớm, Phổ thông,… với nhiều bút danh như Thiếu Sơn, Chim Ưng, Phỉ Chiến, Quốc Sĩ, Lạc Nhân, Lạc Quan Nhân, Việt Bằng, Lê Quang Việt, Nguyễn Quý Hương, Thiều Nhân…

Tuổi cao, sức yếu, cuộc sống kham khổ, Thiếu Sơn vẫn không ngừng kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Giới báo chí ngày ấy vẫn còn nhớ hình ảnh của một nhà báo già yếu, đi đâu cũng xách theo một giỏ đựng đủ các vật dụng sinh hoạt, để đề phòng bị “hốt” vào khám bất ngờ. Ông viết hồi kí Một đời người trên tạp chí Phổ thông, kể lại những bài học của mình cho thế hệ mai sau. Một số bài báo có tính chất văn học của ông ở giai đoạn này như Tôn Thọ Tường có đáng được đề cao không? (Phổ thông, 1962), Thân ái phê bình thi sĩ Đông Hồ (Phổ thông, số 87), Bài học Đồ Chiểu… tất cả đều thể hiện quan điểm yêu nước và lập trường dân tộc của ông.

Năm 1968, Thiếu Sơn và một số trí thức Sài Gòn vào chiến khu dự lễ ra mắt của Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam. Ông tham gia phong trào Bảo vệ văn hóa dân tộc, phong trào Đòi quyền sống, và có chân trong Ủy ban đòi cải thiện chế độ lao tù. Cuộc diễn thuyết của Thiếu Sơn ngày 22-11-1970 tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, với đề tài Từ văn học tiền chiến đến văn học hậu chiến là một sự kiện đã gây được tiếng vang trong dư luận và báo chí.

 Năm 1972, Thiếu Sơn bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt giam, mãi đến tháng 3 năm 1974 mới được trao trả cho chính phủ Cách mạng lâm thời ở Lộc Ninh. Ông được đưa ra Hà Nội an dưỡng, sau đó sang Pháp chữa bệnh. Ở Pháp, ông đã đi nói chuyện nhiều nơi, viết báo, vận động trí thức và Việt kiều hướng về đất nước, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược. Thời gian này, Thiếu Sơn hoàn thành hồi kí Nợ bút nghiên hay nghĩa đồng bào.

Một tháng sau khi đất nước thống nhất, Thiếu Sơn về đoàn tụ với gia đình. Dù căn bệnh đau tim trầm kha không ngớt giày vò, ông vẫn giữ được sự lạc quan, lại tiếp tục viết trên các báo Sài Gòn giải phóng, Giải phóng, Đại đoàn kếtVăn nghệ, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh…và tham gia công tác Mặt trận Tổ quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 5-1-1978 Thiếu Sơn từ trần do chứng tai biến mạch máu não, để lại bao nhiêu thương tiếc trong lòng bạn bè, độc giả. Trong 50 năm cầm bút, “cuộc đời Thiếu Sơn là một tấm gương lao động và đấu tranh dũng cảm khí tiết và trung thực”(1)

Từ những điều mắt thấy tai nghe, bằng chính kinh nghiệm máu thịt của mình, Thiếu Sơn đã viết nhiều bài tiểu luận chính trị dưới nhan đề Bài học và chính bản thân ông cũng là một bài học phong phú mà chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn, kỹ hơn.

Thiếu Sơn đến với cách mạng có muộn, nhưng ông đã vững bước cho đến cuối đời. Đó là nhờ những năm tháng đấu tranh quyết liệt trong nanh vuốt kẻ thù, nhờ những ngày thực sự lăn lộn giữa nhân dân, sống với những con người lao động bình thường, can trường trên khắp các bưng biền Nam Bộ, mà trước đây ông chỉ yếu mến họ qua sách vở. Như ông đã khẳng khái tỏ bày trong một buổi nói chuyện tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, ngày 22-11-1970 : “…nhờ được sống trong lòng dân vào những giờ phút lịch sử, nên tôi đã học được phần nào quan điểm nhân dân và lòng yêu nước thiết tha của đồng bào, nhất là của những tầng lớp bị bóc lột và quyết tâm hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng để thay đổi thân phận của họ”.

Và cũng chính ở những năm tháng đó, Thiếu Sơn cảm nhận được sức hút mạnh mẽ của một nghĩa lớn. Trên các ngả đường kháng chiến của mình, ông đã gặp không ít những trí thức cỡ lớn, những viên chức cấp cao, những chức sắc tôn giáo tên tuổi, đã dứt khoát rời bỏ cuộc sống xa hoa danh vọng để đi với nhân dân, chung sức đánh đuổi ngoại xâm.

*

*                  *

Chúng ta đã nói về một Thiếu Sơn làm nên sự kiện. Nhưng các sự kiện ấy có ý nghĩa như thế nào, chúng có đủ sức vượt qua quy luật khắc nghiệt của thời gian không: đây là câu hỏi lớn. Trả lời câu hỏi này, phải đọc Thiếu Sơn và đọc Thiếu Sơn- nhà phê bình văn học.

Có thể nói, trong văn học Việt Nam, Phê bình và Cảo luận là một tác phẩm xứng đáng được đọc kỹ. Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, tác phẩm này dường như vẫn lấp lánh một giá trị riêng, mời gọi chúng ta khám phá và ngẫm nghĩ, dù nó có phần nào bị che khuất dưới một văn phong cũ càng, đăng đối đến buồn cười.

Cũng cần lưu ý một chi tiết nhỏ: Khi đăng những bài phê bình đầu tiên lên báo, Thiếu Sơn mới vừa bước qua tuổi hai mươi. Một người cầm bút nghiệp dư trẻ tuổi dám làm một công việc táo bạo mà ngay chính nhà báo kỳ cựu Phan Khôi cũng e dè – khi giới thiệu – là phê bình những nhân vật tiếng tăm đương thời. Điều gì đã tạo nên cho những người viết văn giai đoạn này nói chung và Thiếu Sơn nói riêng, sớm có một bản lĩnh như vậy? Rõ ràng đây không phải là một trò chơi liều lĩnh ngông cuồng của tuổi trẻ, cũng không phải là sự mưu cầu một cái gì khác ngoài văn học, mà là những suy nghĩ thẳng thắn, đầy trách nhiệm, xuất phát từ sự am hiểu và quan tâm sâu sắc đối với văn học và xã hội.

Trong lá thư gửi cho Phan Khôi, Thiếu Sơn đã xác định sự cần thiết của thể văn phê bình trong đời sống văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Ông định nghĩa công việc phê bình bằng những một cách nói giản dị: “Nhà phê bình là kẻ đọc giùm cho kẻ khác (…) phải biết chỉ cho người ta thấy cái nghĩa lý của câu chuyện, chỗ dụng ý của tác giả cái nghệ thuật của người làm và cái văn thể cuốn sách” (Sđd, tr.9). Theo ông, ngoài phê bình tác phẩm còn có phê bình nhân vật (có hơi khác với phê bình tác giả, vì còn chú ý nhiều hơn đến nhân sinh quan, nhân cách và các hoạt động khác của người ấy). Thiếu Sơn phân biệt ranh giới giữa phê bình và cảo luận (nay gọi là tiểu luận):”phê bình” là phán đoán nhân vật, phán đoán tác phẩm, trong khi “cảo luận”  thiên về khảo cứu những vấn đề hoặc những thể loại văn học. Những xác định ngắn gọn như thế này cần và đủ cho một công trình phê bình có tính chất khai phá.

Trong mục phê bình nhân vật, Thiếu Sơn viết về chín nhà văn: Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Tuấn Khải và Tương Phố. Mặc dù ông giải thích đây là sự lựa chọn hoàn toàn theo khả năng am hiểu của mình, nhưng ta cũng thấy các tác giả này rất tiêu biểu cho giai đoạn từ 1930 trở về trước. Với dăm trang ngắn gọn, Thiếu Sơn đã cố gắng phác vẽ những nét cơ bản của từng nhà văn về sự nghiệp, vị trí, phong cách. Có thể nói, Thiếu Sơn là một trong những nhà phê bình đầu thế kỷ đã dung hợp khéo léo, tự nhiên trong mình những ưu thế của truyền thống và hiện đại. Đọc ông, ta nhận ra cái phong vị phê bình của cha ông ta xưa: hàm súc, giản ước, phê phán một cách kín đáo, nhận xét một cách thâm trầm. Dù vẫn còn vắng bóng những trang phân tích tác phẩm, nhưng có thể thấy tất cả những phán đoán của ông không chỉ dựa vào trực giác và ấn tượng cá nhân, mà là xuất phát từ quá trình phân tích, tổng hợp và khái quát ngầm của tác giả, cộng thêm với sự am hiểu chắc chắn, rộng rãi về dư luận xã hội đương thời về những đối tượng mà ông phê bình .

Với Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn chú ý sự đóng góp của tác giả này về mặt báo chí và ngôn ngữ. Về học thuật, ông phủ định một cách khéo léo bằng cách dẫn ý kiến của người khác: “Có người cho cái học của ông có bề mặt mà không có bề sâu (…) Có người trách cái đời ông không được chuyên nhất, nghĩa là ông thường chịu của sự ngó như là tấn hóa ở tư tưởng, mà kỳ thiệt có lẽ là cái sức thao túng của hoàn cảnh”( tr.18). Đây là lời phê bình thâm thúy và đích đáng nhất về con đường văn nghiệp của Phạm Quỳnh mà với một cách diễn đạt mới hiện nay, chưa chắc đã chuyên chở được hết ý tứ và sắc thái đặc biệt như Thiếu Sơn đã viết. Một cách kín đáo, Thiếu Sơn bày tỏ không đồng tình về con đường chính trị của Phạm Quỳnh, ông phân biệt chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh với những người yêu nước khác.

Tính dân chủ của không khí văn học thời ấy, cũng như sự thẳng thắn trong bút pháp phê bình của Thiếu Sơn thể hiện rõ qua bài viết về Phan Khôi (cũng là người mà Thiếu Sơn gửi nhờ đăng trên Phụ nữ tân văn những bài phê bình đầu tiên: Phan KhôiPhạm Quỳnh…)

Thiếu Sơn khẳng định, trong văn giới: Phan Khôi là người tai mắt, trong báo giới: Phan Khôi là bậc đàn anh; công lao của Phan Khôi là “công lập ngôn”, qua hoạt động báo chí, đã góp phần thống nhất ngôn ngữ trên cả nước; đó cũng là một trí thức nho học đã sở đắc được cái mới và tạo thành một khuynh hướng riêng. Nhưng đồng thời, Thiếu Sơn cũng nhận ra rằng Nho học là “người vợ tào khang” của Phan Khôi trong khi Tây học vẫn còn là “người tình mới “. Và do đó, theo ông, sự say mê thái quá lôgic học của Phan Khôi đã khiến ông trở nên bất cập khi đi vào văn học nước nhà: “Ông không biết rằng cái lý có khi đập chết cái tình mà văn pháp có khi làm tuyệt ngòi cảm hứng (…) Lúc nào ông cũng ” một với một là hai” mà ông đã bỏ biết bao cái chân lý nó đi qua ông, chỉ cần có chút trực giác là ông có thể lĩnh hội được” (Sđd, tr.34). Với những tác phẩm văn chương của Phan Khôi, Thiếu Sơn nhận định: ” Cái lối văn đó khiến người ta hiểu thì được, để người ta cảm thì không, nó có thể làm vui cho khối óc mà không cám dỗ được cõi lòng” (Sđd, tr.24). Đã thế, theo Thiếu Sơn, trong phê bình, Phan Khôi cũng lại dùng cái chuẩn của mình để đánh giá người khác: không chấp nhận lối văn tình cảm. Từ đó, Thiếu Sơn kết luận về Phan Khôi: “Tự tin mình quá, mà có khi chính ông phản đối chân lý mà ông không ngờ” (Sđd, tr.25).

Đặc biệt, chỉ với Tản Đà, Thiếu Sơn dùng chữ tiên sinh làm cách xưng hô, một thái độ hết sức trân trọng (sau này Hoài Thanh đã dùng lại trong Thi nhân Việt Nam, 1941). Ông xác định chất nho thuần túy và cái ngông cao thượng trong thơ và trong con người Tản Đà: “Đời đục, tiên sinh trong. Đời tối, tiên sinh sáng. Đời quay cuồng trong nhân dục tư lợi, tiên sinh sống ở thế giới tinh thần (…). Cái đặc sắc trong người tiên sinh là cái “tình”, cái tình nặng, cái tình sâu, cái tình mộng huyễn, cái tình nên thơ, cái tình cùng với nước non cây cỏ mà dung hòa họa vận, cái tình cùng thế đạo nhân tâm mà nên giọng chua cay” (Sđd,tr.29). Thiếu Sơn cho rằng công lao của Tản Đà là đã làm cho thế giới tinh thần, cõi lòng của nhân sinh ngày càng phong phú đẹp đẽ, nhưng cái bước rẽ làm báo của Tản Đà đã làm hại văn nghiệp của ông, mà Thiếu Sơn gọi là “cái bổn ngã của nhà thi sĩ mất đi để thay một cái bổn ngã khác vào” từ người “ru đời” Tản Đà trở thành người “dạy đời”, nên thất bại một cách đáng tiếc.

Thiếu Sơn nhìn nhận vị trí lịch sử của Việt Nam sử lược và Nho giáo của Trần Trọng Kim như những lối rẽ đầu tiên vào rừng cổ học Việt Nam. Nhưng ông cũng vạch ra những nhược điểm quan trọng của chúng: “Nhiều chỗ như ông (Trần Trọng Kim) có ý ép, có ý thiên, có ý võ đoán cho xong chuyện, có ý ngụy biện để giải quyết” (Sđd, tr.37). Thiếu Sơn có một quan niệm viết sử rất mới, đầy đủ và khoa học: “Phải gián đoạn hẳn với những sự thần kỳ quái đản (…). Phải bỏ bớt chuyện vua mà nói chuyện dân (…). Phải bỏ bớt những sự hưng vong thành bại của từng nhà vua mà nói đến sự tấn hóa về tinh thần, tri thức về mỹ thuật, kinh tế của dân nước (…). Phải bỏ hẳn mình ra ngoài những lời nói cho tài liệu” (Sđd, tr.35).

Có lẽ Thiếu Sơn là người đầu tiên xác định đúng vị trí của Hồ Biểu Chánh trong lịch sử văn học Việt Nam, khi ông gọi tác giả này là “Nhân vật đúng đắn trong cái làng đông người mà lại lộn xộn hơn hết thảy” là làng văn tiểu thuyết. Điều đáng chú ý là, chỉ với Hồ Biểu Chánh, Thiếu Sơn khước từ nói về con người chính trị: “Song ta cũng không cần chi phải biết Văn Trung là ai, mà người ta muốn biết đây chỉ là Biểu Chánh” (Sđd, tr.45). Trường hợp ngoại lệ này có thể lý giải rằng đối với Thiếu Sơn sự tồn tại của Hồ Biểu Chánh, với tư cách là nhà văn đã lấn át cái tư cách viên tri huyện mà thực chất là một loại viên chức hành chính chứ không phải là một lý tưởng chính trị.

Ở phần này, cùng với bài cảo luận Bàn về tiểu thuyết, Thiếu Sơn đã đặt ra nhiều vấn đề đáng chú ý của thể loại này: vì sao tiểu thuyết được phổ biến nhất, mối quan hệ giữa xã hội và sự phát triển của tiểu thuyết, vai trò của tiểu thuyết, tiểu thuyết tả thực là một bước tiến của văn học. . . Những lập luận của ông giản dị mà thuyết phục “Văn học tả thực thì chẳng chịu bỏ sót một cái gì mà không nói đến. Tâm giới cũng tả mà ngoại giới cũng tả, nhưng cái cốt lõi nhất là cho biết cái bản sắc của nhân loại” (Sđd, tr.102).

Phê bình tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Quả dưa đỏ, Thiếu Sơn thực hiện phương pháp so sánh. Ông so sánh Hồ Biểu Chánh với những nhà tiểu thuyết Pháp để kết luận rằng tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thuộc về phái chiết trung hầu đáp ứng thị hiếu của đông đảo độc giả. Nhưng cũng chính vì để đạt tới sự dung hòa này, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là một sự nửa vời về các tiêu chí. Thiếu Sơn đã vạch ra các nhược điểm của tác phẩm Hồ Biểu Chánh: Tâm lý nhân vật đơn giản, cốt truyện ít ly kỳ, đã là tiểu thuyết tả chân lại còn có những anh hùng lý tưởng, nghệ thuật tả tình còn chất phác, quan điểm sáng tác còn bị trói buộc trong vòng luân lý. Cũng thế, bằng vào sự đối chiếu song song hai tác phẩm Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và Robinson Crusoé của Daniel Defoe, Thiếu Sơn phân tích tiểu thuyết này rất đạt, và kết luận Quả dưa đỏ là tiểu thuyết luận đề chứ không phải là tiểu thuyết phiêu lưu như tác giả lầm lẫn. Theo Thiếu Sơn, cả hai tiểu thuyết trên khác hẳn nhau về dụng ý và nghệ thuật. Robinson là một nhân vật thật sự nói năng hoạt động, tự lực và can đảm trong bước đường phiêu lưu của mình, ngược lại, “An Tiêm không có thật, chẳng qua chỉ là một cái lý tưởng thâm thiết của Đồ Nam Tử” (…). “Tác giả đã bắt cái lý tưởng đó phải hành động, phải phiêu lưu, phải cảm giác sự vật, phải tạo lập cơ đồ để dẫn chứng cho người đời cái tinh thần giáo hóa của đạo học thánh hiền” (…). “Vì thế nếu ở Robinson sự vật nói nhiều hơn là giảng giải thì ở Quả dưa đỏ, lời giảng giải lấn át sự vật. An Tiêm” không là người, không có cái tâm lý của người, không có giọt nước mắt của thế nhân” “(Sđd,tr.80 và 83).

Cuối cùng, Thiếu Sơn đã kết luận về tiểu thuyết luận đề rất xác đáng (điều này mãi đến vài chục năm sau Nhất Linh mới ngộ ra cho chính mình trong Viết và đọc tiểu thuyết- Nxb. Đời nay, S, 1969): “Cái lối tiểu thuyết này nay thịnh hành lắm. Nếu luận đề có ý nghĩa chính đáng, có lý tưởng cao thâm và nếu cách phô diễn tinh thần được linh hoạt thì tác phẩm sẽ được cái giá trị về tư tưởng hơn là về văn chương” (Sđd, tr.85-86).

Nói một cách khái quát, cách phê bình của Thiếu Sơn xuất phát từ quan điểm ” nhìn sự vật theo bản chất mà vật này đòi hỏi”.

Với Huỳnh Thúc Kháng, Thiếu Sơn chú ý đến khía cạnh con người chí sĩ, một nhân cách khác thường của nhà chính trị. Từ đó ông nhận ra sự thiên lệch tất yếu của Huỳnh Thúc Kháng trong quan điểm về văn học:”Ông Huỳnh coi văn chương chỉ là một cái phương tiện dùng được trong nhiều cái phương tiện dùng được để phụng sự quốc gia, mà chẳng bao giờ ông quan tâm đến cái sự nghiệp văn sĩ”. Trên đây là ghi nhận sự việc, tiếp theo, Thiếu Sơn thử đặt mình vào vị trí của Huỳnh Thúc Kháng để mà hiểu nhân vật này:”Đối với ông, thì không có cái mỹ thuật nào hơn được cái cảnh trí của non sông, mà cũng không có cái văn chương nào hơn cái văn chương làm cho dân khôn nước mạnh. Cái mỹ thuật đó, dân ta còn nhiều người chưa biết thưởng thức, cái văn chương đó dân ta còn lắm kẻ chưa chịu học đòi thì Truyện Kiều kia nếu có bị coi là một cuốn dâm thư và những người yêu Kiều về cái gía trị văn chương và mỹ thuật của nó, mà có bị kết án vào tội mê dân hoạc chúng, ta cũng không nên phiền trách nhà chí sĩ không công bằng”. Hiểu mà vẫn không đồng tình, không ngụy biện, Thiếu Sơn đã vạch ra nhược điểm trong quan điểm của Huỳnh Thúc Kháng: “cố chấp và hẹp hòi, không có quan điểm chính đáng về văn chương”(Sđd, tr.53-54).

Thiếu Sơn xác định nguồn thi cảm của Trần Tuấn Khải là “tinh thần quốc gia”,”cảm về thời thế”, “nặng lòng với đất nước”. Theo ông, đó là một đề tài hay, một cảm hứng vô tận đối với người cầm bút, nhưng thường không bền. Và ông dẫn ý của Victor Hugo: “Thơ không phải chỉ để cho thần dân của một nước quân chủ, hay công dân của một nước cộng hòa, mà chính là để cho con người ta vậy “(Sđd, tr.57).

Đi vào tác phẩm, Thiếu Sơn không bộc lộ được nhiều ưu thế như khi phê bình nhân vật. Một phần vì các tác phẩm ông chọn (Tố Tâm, Quả dưa đỏ, Người vợ hiền) là những tác phẩm không hay lắm. Phần khác, vào thời của ông, phương pháp phân tích tác phẩm văn xuôi – hoàn toàn là thành tựu phê bình phương Tây – chưa thể được vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Dù thế, ba tiểu thuyết trên vẫn là những tác phẩm có vấn đề (theo nghĩa văn học!) và Thiếu Sơn đã nêu ra các vấn đề đáng chú ý của nó. Chẳng hạn, tính chất nửa vời trong tiểu thuyết Tố Tâm, tính luận đề trong Quả dưa đỏ, và những ảnh hưởng trực tiếp của tiểu thuyết Pháp vào tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn đó: sự phỏng theo, phóng tác, sao chép, qua tiểu thuyết Người vợ hiền.

Phần cảo luận của Thiếu Sơn là những bài viết hoặc bài diễn thuyết, xuất phát từ ba vấn đề đang được dư luận quan tâm : vấn đề quốc học, vấn đề tiểu thuyết, và mối quan hệ giữa báo giới và văn quốc ngữ.

Đặc biệt, trong Nói chuyện quốc học, Thiếu Sơn đã đưa ra mấy luận điểm quan trọng, đáng cho chúng ta suy nghĩ và tiếp thu trong hoàn cảnh hiện tại. Định nghĩa khái niệm “quốc học”, ông viết: đó là “cái học thuật riêng của một nước, nó đặc biệt cho nước ấy, có ảnh hưởng trực tiếp đến văn học và gián tiếp đến xã hội (…) gồm những cái phong trào tư tưởng triết học của một nước, nó có thể chịu ảnh hưởng của cái triết học nước ngoài mà vẫn phải có phần khác mà biệt hẳn ra vậy”. Để xây dựng được một nền quốc học cho chính mình,cần phải có ý thức và phương pháp học tập. Thiếu Sơn dẫn ý kiến của một học giả Trung Quốc:” Việc học vấn, bước thứ nhất là ” nhân” mà bước thứ hai là “cách”. Nhân là bắt chước của người để làm cái hay cho mình, thì cốt phải ” đồng”, cách là sáng tạo tự mình có phần giỏi hơn thì cốt phải dị (…) Trong nước ta bây giờ, sự học cũng còn ở chỗ nhân mà chưa tới chỗ cách, còn cần ở chỗ đồng mà chưa tới được chỗ dị”.  Vì sao? theo Thiếu Sơn ta còn thiếu cái tinh thần tự do, cái tư tưởng độc lập, cái khối óc phê bình; ta chưa có cái quan niệm ” học thuật vì học thuật ” và ta chưa tận dụng cái”lợi khí” quốc văn.Thiếu Sơn còn cắt nghĩa thêm : “Học thuật vì học thuật là thế nào? Phần nhiều học giả hễ kê cứu học thuật là muốn đem dùng ngay nó vào việc đời, cho học thuật là cái phương tiện (moyen) chứ không phải là cái cứu cánh (fin).  Đã là phương tiện thì hễ đến chỗ dùng được là dùng, dùng rồi là thôi,  không phát đạt được nữa. Còn đã cho nó là cứu cánh thì dan díu với nó hoài, để phát minh cho đến chỗ tinh tuý của nó, theo đuổi cho đến chỗ cùng cực của nó, như vậy, mới khả dĩ có cái học cao thâm đủ gây lấy cái quốc học xứng đáng. Rồi ta sẽ đem nó ra mà thiệt hành, nó sẽ làm trăm ngàn cái phương tiện cho người đời mà nó vẫn giữ được cái cốt cách của nó, cùng cái danh dự của người đã đẻ ra nó vậy ” (Sđd, tr.90,92,93).

Về báo giới và văn quốc ngữ, Thiếu Sơn cho rằng báo chí Việt Nam, được thực hiện bởi những nhà báo tâm huyết, đã xây dựng nên nền văn học. Và vào thời điểm 1925 – 1926, chính nhờ phong trào yêu nước (cái án Phan Bội Châu và đám tang Phan Chu Trinh) mà văn học trên báo chí đã thống nhất trên cả nước. Ông xác định “cái giáo dục của Nam phong, chỉ là cái giáo dục phổ thông, cái giáo dục giản yếu mà thôi “. Và theo Thiếu Sơn, ba nhân vật có ảnh hưởng đến văn phong thời bấy giờ là Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và Tản Đà. Ông cũng kêu lên tình trạng những nhà văn bị sa lầy trong làng báo.

Đối với Thiếu Sơn, phê bình là một cách để ông bày tỏ những suy nghĩ của mình về văn học, ông muốn tìm ở người viết một sự đồng hướng, đồng tình trên con đường thực hiện sự nghiệp chung, hơn là bình giảng, phân tích văn chương thuần túy. Phê bình đặt ra trong tập sách này là một cách đối thoại với tác giả và người đọc về những vấn đề quan điểm tư tưởng.

Sau khi in Phê bình và Cảo luận, Thiếu Sơn có viết thêm một số bài báo nữa trong mục Câu chuyện văn chương trênTiểu thuyết thứ bảy(1935). Số lượng bài phê bình của ông không nhiều so với các tác giả khác, nhưng rất lạ là bài nào của ông cũng thường như mở đầu cho một vấn đề khá lớn. Đó cũng là sự triển khai tiếp các suy nghĩ của ông trong Phê bình và Cảo luận, rất nhất quán: đề cao tính sáng tạo trong văn chương, nhấn mạnh yếu tính căn bản của nó là cái đẹp, Thiếu Sơn thấy cần xác lập lại một lần nữa cho rõ quan niệm về văn chương. Nêu ra quan điểm văn học của Nguyễn Bá Học và Phạm Quỳnh, như là tiêu biểu cho quan niệm văn chương một thời khá phổ biến ở nước ta: phân biệt làm hai loại văn chương, văn chương có ích (thường là loại biên khảo, hoặc tiểu thuyết luân lý) và văn chương chơi (thường là thơ văn trữ tình) và cổ suý cho loại văn chương trên, bài xích loại văn chương dưới, Thiếu Sơn cho đây là một cách nhìn lệch, bản chất văn chương là sáng tạo, và chỉ có sáng tạo mới có thể đóng góp cho sự phát triển của văn học nước nhà, không nên nhìn văn học như một công cụ thực dụng (Hai cái quan niệm về văn họcTiểu thuyết thứ bảy s.38- 16-2-1935)).

Tiếp theo, bài Nghệ thuật với đời người của Thiếu Sơn lại đặt vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Ông xác định trong lĩnh vực nghệ thuật có những đặc điểm và quy luật riêng, người thưởng thức nghệ thuật phải am hiểu những đặc điểm và quy luật đó, chứ không thể lấy những cái chuẩn khác (chính trị, luân lý, đạo đức, xã hội…) mà xét đoán nó được. “Vâng thì cho là nghệ thuật làm việc cho đời nhưng là làm việc một cách khác. Nó không khuyên ai, nó không dạy ai, nó không bắt ai phải theo chủ nghĩa này, phải bỏ chủ nghĩa khác. Nó chỉ biết phô bày những cảnh sắc thiên nhiên, những hình ảnh xã hội, những bí ẩn của tâm giới, những nỗi éo le của người đời.  Nó phô bày khéo cho người ta cảm như được mắt thấy, tai nghe, cho người ta mê say như tự mình vui chơi ở thế giới văn chương và mỹ thuật ấy nghĩa là nó đã làm việc cho đời rồi đó”.

Trong Văn học bình dân, Thiếu Sơn đã nhận đề tài và xu hướng mới này như là một hướng làm phong phú thêm cho sinh hoạt văn học: “Nếu bình dân có địa vị trong văn học, thì văn học sẽ hoàn toàn đầy đủ hơn vì sẽ diễn tả được hết cái bản sắc của người đời và sẽ là một cái gương phản chiếu hoàn toàn cái chân tướng xã hội”. Nhưng ông cũng dè chừng cái chủ trương cực đoan, chỉ đề cao văn chương bình dân và chỉ xây dựng nó bằng “sự hô hào trên báo chí” , mà không lo việc sáng tác nghệ thuật.

Với Bạn đọc văn, Thiếu Sơn đã sớm chạm đến vấn đề tiếp nhận văn học.

Thiếu Sơn mở đầu :” Văn chương cũng là một món hàng hóa“. Mệnh đề này dẫn đến ý nghĩa : vì văn chương là hàng hóa nên người làm ra sách cần phải biết rõ người mua, nghiên cứu bạn đọc là vấn đề vô cùng cần thiết. Nhưng theo ông, thị hiếu văn chương không thể đồng nhất với thị hiếu tiêu dùng thường tình. Mượn lời một nhà văn Pháp ông nói: “Mỹ cảm là một cái cảm quan phát triển chậm nhất ở người ta”. Chính vì thế văn chương thường kén độc giả, nó có thể không đáp ứng những nhu cầu thực tế cụ thể: “Một bức ảnh với một bức họa bao giờ cũng có tính cách và giá trị khác nhau. Tiệm chụp ảnh có được khách đông nhưng phòng họa sĩ lại chỉ là nơi hẹn hò của một số ít người biết yêu nghệ thuật. Sách giáo khoa tiêu thụ được nhiều vì là những vật cần cho học sinh. Nhưng tác phẩm văn chương phần đông lại không được chú ý.

Từ đó Thiếu Sơn chia làm mấy loại công chúng:”Một hạng công chúng rất chăm chỉ sốt sắng, thường đọc hết thảy sách đã xuất bản. Hạng này là hạng văn sĩ chưa ra đời nhưng vẫn đang dự bị. Họ đọc của người chính là sửa soạn cho công trình tương lai của họ. Họ thưởng thức một cách thông minh, bình luận một cách sáng suốt, và thỉnh thoảng lại biên thơ khuyến khích hay làm quen tác giả…” loại thứ hai là “người muốn tìm ở văn chương những câu trả lời cho những vấn đề khó giải ở trong đời của họ (…) phần nhiều thường là ở phụ nữ. Loại thứ ba, “hạng trí thức, phần nhiều đã có nghề nghiệp rồi muốn đọc văn chương để biết cái trình độ văn học và hiểu rõ cái xu hướng của văn chương. Loại cuối cùng là “hạng công chúng bác tạp, đọc văn không có mục đích nào khác hơn là để giết thì giờ (…) hạng người này là hạng người vụ thực, là trí thức thiển cận, chưa có mỹ cảm mỹ tình, nhưng chính lại là hạng đông hơn hết ở bất kỳ xã hội nào. Cái số đông đó cần phải tiến hóa về cả hai phương diện trí thức và tinh thần thì mới trở thành những vị độc giả chuyên cần. Hạng công chúng này mà quyến rũ được thì văn học sẽ bước tới một thời kỳ toàn thịnh vì khách hàng càng đông thì đồ hàng càng phải phổ thông đầy đủ cho thích hợp với thiên hình vạn trạng của sự sống loài người”. Để kết luận, Thiếu Sơn dẫn lời Bergson: “Văn chương là một xã hội mở chứ không phải là một xã hội đóng” và khẳng định:” Ở nước ta, cái xã hội đó đã bắt đầu mở, nhưng còn chưa mở rộng ra tứ phía. Vì không có chìa khóa để dùng. Chìa khóa đó là sự học. Sự học chưa phổ thông thì văn chương phổ thông sao cho được”.

Câu chuyện văn học của Thiếu Sơn công bố khi văn học Việt Nam đã chạy marathon một chặng dài trên đường hiện đại hóa. Vẫn là những quan sát lặng lẽ và cách trò chuyện dung dị, Thiếu Sơn tham gia vào các vấn đề văn học, văn hóa của Việt Nam đương thời. Hai mươi bài viết thoáng và gọn, có những bài dành bàn đến “các nhà”: nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà phê bình, nhà sử học, nhà báo, nhà làm sách; lại có những bài bàn về các trào lưu: Lãng mạn, Tả chân; có bài bàn về những vấn đề văn học trong cái nhìn rộng rãi, so sánh.

Có thể thấy Thiếu Sơn chú ý nhiều về tính đặc thù của nghề văn, hay nói khác đi, ông xem trọng tính chuyên môn của công việc viết lách. Tính hiện đại của quan niệm Thiếu Sơn bộc lộ rõ ở phương diện này. Những trang Thiếu Sơn miêu tả đặc điểm của nhà văn hay trạng thái tinh thần của người nghệ sĩ trong cơn thai nghén, làm ta liên tưởng đến Trên đường nghệ thuậtcủa Vũ Ngọc Phan, Theo giòng của Thạch Lam, và xa hơn là Phấn thông vàng của Xuân Diệu. Quả thật những năm tháng ấy, có một mạch cảm hứng chung nơi người cầm bút: tự quan sát và tự khắc họa chân dung của giới mình. Dưới mắt họ, trong đó có Thiếu Sơn, nghề văn nhọc nhằn nhưng cũng sang trọng biết bao: cái sang trọng ấy không phải do ngoại cảnh đem lại “Mà thật sự nghề văn ở nước ta còn rẻ quá. Rẻ cả về tinh thần lẫn vật chất. Về tinh thần, nhà văn chưa được sự đãi ngộ xứng đáng của xã hội. Về vật chất, nhà văn chưa thoát khỏi sự ám ảnh của con ma đói, ma nghèo”, mà chủ yếu là do nội tâm: cái hạnh phúc được tự do cô đơn, tự do cảm xúc, tự do suy ngẫm, tự do viết, tự do trao gửi. Cái hạnh phúc ấy lớn hơn cả địa vị, tiền bạc. Cho nên, Thiếu Sơn khẳng định: “muốn có địa vị, gặp được sang giàu, tốt hơn là (..) không làm văn sĩ nữa” (Lê Quang Hưng,Thiếu Sơn, Nghệ thuật vị nhân sinhNghề văn sĩ, Nxb. Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2000, tr.97)

Không chỉ bàn suông, Thiếu Sơn còn đưa ra những trường hợp cụ thể, sinh động: Térence, J.J. Rousseau, Voltaire, Goethe, Frédéric Mistral, Victor Hugo, Honoré de Balzac, Tchékhov, Émile Faguet, Jane Harrison, Charles Baudelaire, Tô Đông Pha, Tản Đà… để nói về cái thú vị của văn chương và cuộc đời văn sĩ. Ông cũng phân biệt tinh tế giữa công việc làm thơ, viết văn và viết phê bình. Về thi nhân, ông viết: “chàng như một con thú lạc đàn giữa nhân gian xã hội”, “có cặp cánh muốn bay bổng tuyệt mù”. Với tiểu thuyết gia là: “người đứng giữa trần ai đã cấu tứ mà viết ra “tấn kịch có trăm hồi thay đổi”, “chàng phải sống nhiều đời khác nhau, dẫu không sống thiệt tình thì cũng sống bằng tinh thần, bằng tưởng tượng”(Sđd, tr.100, 106, 107). Và nhà phê bình “phải sáng suốt, để giữ lòng rộng rãi mà thưởng thức trăm hoa” chứ không thể như “Độc giả có thể theo sở thích của mình mà bất công trong tình yêu, ghét” (Sđd, tr.122)

Viết vănĐời và việc nhà vănDòng lãng mạn từ J.J. Rousseau, Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt NamTả chân chủ nghĩaVăn học Pháp với văn chương ta…là những bài viết ngắn, nhưng ăm ắp những ý tưởng mới mẻ, thâm thúy, có thể mang lại cho người đọc những hiểu biết thú vị, tươi tắn về văn chương. Có lẽ đây là một dạng kiến thức lý luận và văn học sử không hề xơ cứng, bởi lẽ Thiếu Sơn luôn đề cao tinh thần tự do “Cho nên trong sự học cần giữ cho tinh thần mình được tự do, không chịu để cho một cái tư tưởng, một cái lý thuyết, một cái chủ nghĩa nào có thể chi phối mình hẳn”. Không cột mình vào một hệ tư tưởng nào, và giữ được sức phản kháng thường xuyên, Thiếu Sơn cho đó là tố chất cần yếu của những vĩ nhân (Vĩ nhân khác thường nhân là ở chỗ nào). Cái tinh thần đó, theo Thiếu Sơn, người xưa đã ngộ, Đông và Tây đều có cả “Người ta không sống bằng những cái mình ăn, mà sống bằng những cái mình tiêu hóa”, nhưng lắm khi ta không còn nhớ và không thực hiện.

Đọc nhiều, luôn suy nghĩ trên sự nối kết những vấn đề của người với vấn đề của mình, luôn có sự liên tưởng rộng rãi trong cái nền văn hóa Đông-Tây, cổ-kim, Thiếu Sơn đã thoát ra khỏi chỗ đứng của một nhà phê bình thuần túy. Dẫn lại câu nói “Sự học là một cái chìa khóa mở được tất thảy các cửa”, Bài Sự học của Thiếu Sơn thổi vào lòng chúng ta một cảm hứng và hy vọng về giáo dục. Thiếu Sơn viết về giáo dục bằng cảm xúc nhà văn, nên vấn đề trở nên có sức gợi. Cách viết này không làm người đọc có cảm giác bị dạy dỗ, giáo huấn mà như được khích lệ: “Mở cửa nào, ánh sáng theo vô cửa đó, mà ánh sáng này là ánh sáng chân lý nó mới dịu dàng và êm đẹp biết bao nhiêu” (Sđd, Sự học, tr.134). Thiếu Sơn giúp ta hiểu được con đường thụ nhận và hình thành tri thức của nhân loại và của từng cá nhân, nói chung là đi theo mô thức bậc thang, liền lạc, không ngừng nghỉ.

Thật mềm mại và tinh tế, cái ý tưởng này: “Cái công việc đầu tiên của sự học chỉ là một sức chịu đựng (…) Chịu đựng như thế nghĩa là thừa hưởng cái gia tài về tinh thần của tiền nhân, ngõ hầu có đủ trí thức mà sống ở trong cái hoàn cảnh và cái thời đại của mình (…) Tuy nhiên chịu đựng không phải là một sự thụ động yếu hèn, chỉ biết nhắm mắt tin theo mà không có sức phản kháng chính đáng” (Sđd, tr.135). Chống lại sự “cả tin” trong việc học, Thiếu Sơn đề nghị ngoài tri giác và ký ức, người học phải có óc phê bình. Đặc biệt, ông nhận ra vị trí khiêm tốn của  trường ốc “Cái học ở trường chỉ gây nên những người học trò siêng năng giỏi giắn, mà chẳng bao giờ sản xuất ra được những bậc triết học văn hào. Những bậc này, sau khi đã ra trường rồi còn cần phải có một cái học khác nữa, không thầy nào có thể cho được, không sách nào có thể dạy được, nghĩa là cái học lấy một mình, nhờ ở trầm tư mặc tưởng mà kết cấu nên” (tr.136).

Tán đồng cái bức xúc của những trí thức tâm huyết lúc bấy giờ, “rằng nước ta không có quốc học”, thiếu “cái động lực cho bước đường tiến hóa xã hội”, và đi tìm lời giải, Thiếu Sơn khẳng định trí tuệ cá nhân, nhưng phê phán cơ chế: “Không, không phải dân ta không có tinh thần sáng tạo mà có lẽ chỉ tại cái chế độ xã hội, cái không khí hoàn cảnh nó không lợi cho sự học mà thôi”.

Các bài Tản văn và Những văn nhân chính khách một thời của Thiếu Sơn cách Câu chuyện văn học một, hai cuộc kháng chiến. Tuy vậy, gần như không có một bờ ranh nào trong trang viết của Thiếu Sơn: vẫn cách nghĩ nhất quán, vẫn cách viết nhiệt huyết đã có ở tuổi đôi mươi. Hầu như những tinh hoa của thời đại, cái tinh túy của một cá nhân, nếu được biết đến, Thiếu Sơn không tiếc lời khẳng định: ông là người có khí chất lạc quan, trung hậu chăng? Cũng có thể. Nhưng có lẽ còn hơn thế, Thiếu Sơn thấu hiểu và yêu quý cái cộng đồng ruột rà của mình. Ông không muốn cái đẹp nơi đây bị rơi vãi, bị xem thường, bị oan khuất. Ông muốn văn hóa Việt Nam liền lạc, công bằng.

Đọc những trang tạp văn Thiếu Sơn hôm nay, có cảm giác như ông đang quan sát và âu lo cùng chúng ta, về con đường phát triển của dân tộc. Trong trạng thái thao thức thường trực của mình, Thiếu Sơn tìm đến những người đi trước.

Với Phan Bội Châu, ông nhấn mạnh đến “vấn đề rèn luyện nhân tài”, “sự tu bổ trí thức và học thuật”, tư tưởng nhân bản khoan dung bắt nguồn từ văn hóa Đông Tây, và thái độ quyết liệt của nhà chí sĩ với ba hạng người: “a. Hạng người chỉ tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng. b. Hạng người muốn lòe loẹt khoe khoang, lấy om cơm, túi bạc làm hạnh phúc. c. Hạng người xu phụ quyền thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân” (Sđd, tr.219).

Dẫn ra trường hợp cụ Nghè Tân, Thiếu Sơn cho thấy thời Minh Mạng, kẻ sĩ chính trực được tin dùng quý trọng ra sao. Nhắc lại Đông Kinh Nghĩa Thục, Thiếu Sơn đề nghị phải bổ khuyết vào sách giáo khoa sự kiện quan trọng này.

Nhưng Thiếu Sơn không chỉ quay về quá khứ, ông là người giữa giòng. Uy tín cá nhân và ưu thế nghề nghiệp đã cho ông được gặp gỡ, quan sát nhiều cảnh ngộ, nhiều chân dung. Còn ai như Thiếu Sơn kể cho chúng ta nghe về những văn nhân chính khách một thời, giai đoạn 1955-1975, tại một trong hai trung tâm văn hóa, và một trong hai vùng kháng chiến lớn nhất Việt Nam? Vẫn giữ được cái nhìn của nhà văn hóa, thẳng thắn và trung hậu, Thiếu Sơn làm ta tin cậy. Từ trang viết của Thiếu Sơn, những khuôn mặt trí thức Việt Nam hiện lên, đa dạng, đầy cá tính.

Nêu tên những linh mục yêu nước đang lăn mình vào phong trào đấu tranh thống nhất đất nước, ngưỡng mộ cái sĩ khí miền Nam, Thiếu Sơn như muốn góp phần gạn đục khơi trong, như muốn âm thầm nhắc nhủ: đừng quá cực đoan để rồi quên lãng những mối quan hệ đẹp đẽ đã có, những giá trị mà con người Việt Nam đã làm nên bằng máu và nước mắt.

Kể lại mối giao tình trung tín giữa Phan Bội Châu và Lý Tuệ, Thiếu Sơn cảnh báo: “Thiếu gì lãnh tụ nhờ hậu thuẫn quần chúng đưa lên rồi bỏ luôn quần chúng mà mưu đồ sự nghiệp riêng tư không còn biết gì tới dân, tới nước nữa” (Sđd, tr.258).

Trong ký ức Thiếu Sơn, Nguyễn An Ninh là một trí thức yêu nước đặc biệt, đã trở thành thần tượng của nhiều người trẻ đương thời, bởi cái tư tưởng phóng khoáng mới mẻ: “Ông cho rằng sự tôn sùng cá nhân thường đưa đến sự mù quáng, tin liều theo bậy và có khi còn bị bọn lãnh tụ hoạt đầu lợi dụng. Ông cho rằng tư tưởng Nguyễn An Ninh cần được phổ biến hơn là cá nhân Nguyễn An Ninh (…) Ông Ninh dung nạp được tất cả mọi khuynh hướng, hướng dẫn tất cả theo một đường lối thích hợp với dân tộc Việt Nam để phục vụ quê hương và đất nước” (Sđd, tr.264). Câu nói sau đây làm ta suy nghĩ về sức chinh phục của một lãnh tụ chân chính với từng cá nhân: “Ông tới sở (Nguyễn An Ninh tới nơi Thiếu Sơn làm việc, NTTX ct.) như một khách hàng, nhưng cái siết tay của ông đã làm ấm lòng tôi và làm cho tôi phải nghĩ tới những cái gì khác hơn và cao hơn cái ghế và đồng lương công chức của tôi” (tr. 265).

Khẳng định giá trị Nỗi lòng Đồ Chiểu và Ngồi tù khám lớn của Phan Văn Hùm, Thiếu Sơn mong ước các tác phẩm này được giảng dạy ở nhà trường.

Ngưỡng mộ Nguyễn Mạnh Tường, Thiếu Sơn tái hiện sinh động không khí một Sài Gòn đón ông “Nghè kép” 24 tuổi từ Pháp về. Một buổi diễn thuyết hiếm thấy ở Việt Nam: cử tọa là người Pháp và Việt, tất cả phải trả tiền để nghe, mà khán phòng chật nứt, báo chí Pháp ca ngợi đó là “bữa tiệc văn chương”. Đoạn trích sau đây cũng đáng cho ta dẫn lại, để thấy đôi mắt tinh đời và tấm lòng liên tài của Thiếu Sơn và để thưởng thức một đoạn văn đẹp đầy chất lửa của Nguyễn Mạnh Tường: “Phải khóc trên cái hiện thời để cười đón cái ngày mai. Dù sao, người trí thức là người vừa khóc vừa cười. Khóc vì cái sai lầm phải chứng kiến trong hiện tại, cười vui vì cái mới đang lên. Khóc vì đau khổ. Cười vì hy vọng. Khóc hôm nay để cười ngày mai. Trên quá trình biến đổi từ cái khóc đến cái cười diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng của người trí thức…

Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, khóc lên tiếng cười.

TIN vẫn lợi hơn NGHI. Trong mười người ta tin, có thể có một kẻ thù lẻn vào. Nhưng ta vẫn còn chín người bạn. Và chín người bạn này sẽ giúp ta tìm ra kẻ thù ấy. Nếu ta nghi cả mười người, khi ta giơ tay, chẳng ai bắt tay ta. Ta không có người bạn nào cả ». (tr.371-372).

Trong Những văn nhân chính khách một thời, chúng ta sẽ được hiểu thêm những nhân vật tên tuổi như Nguyễn An Ninh Phan Văn Hùm, Thái Văn Lung, Tạ Thu Thâu, Bửu Đình, Nguyễn Đức Nhuận, Diệp Văn Kỳ, Đào Trinh Nhất… và được làm quen những nhân vật mà chỉ mới biết tên: Lê Văn Thử, Trần Quang Quá, Nguyễn Văn Hay… Dưới ngòi bút của Thiếu Sơn, mỗi người đều có một nét gì đó đáng nhớ, đáng trọng.

Trong sự nghiệp trước tác của mình, có năm nhân vật mà Thiếu Sơn dành cho sự ưu ái: Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng. Đã giới thiệu như là các chân dung trong Phê bình và Cảo luận, khoảng vài chục năm sau, Thiếu Sơn lại viết tiếp về họ như là các biểu tượng đáng nhớ với cái tên « Bài học… ». Chọn lựa này cũng đáng cho ta suy nghĩ.

Những ai làm báo hay viết sử hẳn sẽ thú vị khi đọc Hồi ký Nợ bút nghiên hay nghĩa đồng bào của Thiếu Sơn, bởi vì ở đó không chỉ hiện lên chân dung tác giả, mà còn vô số những nhân vật văn học, văn hóa, lịch sử của Việt Nam và cả thời đại trải dài những hơn nửa thế kỷ, từ Bắc vào Nam, từ đô thị đến chiến khu, từ đời sống tự do đến chốn lao tù… Giờ những chân dung ấy cùng tác giả khắc họa chúng đều đã là người quá vãng, nhưng họ không hề chìm khuất. Khi chúng ta mở ra trang viết Thiếu Sơn, bóng dáng của họ hiện lên, mang theo bức tranh xã hội, tất cả đều gợi cho chúng ta hôm nay rất nhiều điều.

*                  *

*

Trong 50 năm xuất hiện trên văn đàn, Thiếu Sơn đã làm một công việc hết sức ý nghĩa : mở một lối nhỏ vào thế giới văn chương và xây ở đó một ngôi nhà lạ là thể loại phê bình. « Có mặt trên từng cây số », Thiếu Sơn đã vừa ghi lại dấu ấn của mình trong tiến trình hiện đại hóa của văn học dân tộc, vừa là chứng nhân của lịch sử. Nếu đất nước không trải qua nhiều biến động kéo dài, hút cạn mọi tâm trí và sinh lực nhân dân vào cuộc chiến đấu thống nhất đất nước, chắc chắn những điều mà Thiếu Sơn suy nghĩ, xác lập và trình bày với chúng ta sẽ không bị lãng quên, thậm chí bị loại bỏ.

Hôm nay chúng ta vẫn còn phải học tập và làm lại những điều Thiếu Sơn đề xuất ở thế kỷ XX, đó là điều dường như nhà văn không muốn, bởi vì ông từng viết: “theo luật tiến hóa những công trình khảo cứu sẽ chết “. Nhưng biết làm sao được, đôi khi lịch sử cũng có những bước lùi. Và Thiếu Sơn, con người ở vào giai đoạn giao thời của nền văn học, lại biết thu thái lấy cho mình cái tinh hoa của hai nền học vấn : cổ học Việt Nam và văn hóa Tây phương. Tác phẩm của Thiếu Sơn là sự kết hợp hài hòa giữa hai nguồn tri thức đó, độ bền của chúng có được từ một tinh thần làm việc đầy trách nhiệm, từ một suy nghĩ độc lập và thấu đáo, muốn vươn tới hiểu được cái cốt lõi của lĩnh vực mà mình theo đuổi.

Đọc lại Thiếu Sơn ngày hôm nay, chúng ta không chỉ nhìn thấy bóng dáng của một nhà văn mà còn tầm vóc của một trí thức. Trong những bủa vây của thời cuộc, ông luôn tìm được thế đứng tự do, để bày tỏ tiếng nói chính trực vì nhân dân và đất nước. Mảnh đất phương Nam này đã đón nhận ông và giúp ông giữ được vị thế ấy. Điều nầy cũng đã được Nguyễn Khải ghi nhận: “ Miền Bắc cho tôi độc lập, miền Nam cho tôi dân chủ, tự do. Nó bật ra đa thanh” (Nguyễn Thị Ngọc Hải, Cuộc trò chuyện cuối cùng với nhà văn Nguyễn KhảiTuổi Trẻ, 18-1-2008, tr.13).

Để kết thúc cho bài viết cũng đã khá dài mà vẫn chưa hết ý này, tôi muốn nói thêm về văn phong của Thiếu Sơn. Có lẽ những ai không biết tiểu sử Thiếu Sơn, khi đọc văn ông sẽ nghĩ ông là người miền Nam. Đây không phải là trường hợp cá biệt: Phan Khôi (Quảng Nam), Bửu Đình (Huế), Võ Phiến (Bình Định), Nguyễn Thi (Nam Định)… khi viết văn trên đất Phương Nam đều chọn cho mình giọng văn Nam Bộ. Có thể những nhà văn này hết lòng vì công chúng, nhưng cũng có thể họ nhận ra tính dân chủ, cởi mở, dung dị của giọng văn này, vốn dễ dàng chuyện trò, bàn luận, chuyên chở những vấn đề lớn lao, gai góc của con người và xã hội. Giọng văn ấy, thoạt nhìn, tưởng là nôm na, luộm thuộm, nhưng càng đọc kỹ càng thấy có duyên, và cái duyên ấy lại rất bền. Khi được người sau chạm vào, các trang văn của người trí thức thành tâm là Thiếu Sơn như lấp lánh, thứ ánh sáng của một trí tuệ độc lập, không thôi thao thức cùng văn chương và đất nước.

Mong sao rồi đây sẽ có nhiều người đến với Thiếu Sơn và đọc kỹ để sẻ chia những điều ông trao gửi…

 

Nguồn: Đã in trong Thiếu Sơn, Nghệ thuật và nhân sinh, tr.6-21 (Lê Quang Hưng sưu tầm, tuyển chọn, Nxb. Giáo dục, 2008)

Leave a Reply