Thơ, đọc từ khó đến dễ


Thanh Cơ Trịnh Nữ

 Thơ khó – Sự đọc bị mắc kẹt

Thấy khó, bởi vì không hiểu. Hiểu là một kinh nghiệm cá nhân, đứng đằng sau mỗi sự hiểu là một kinh nghiệm thẩm mỹ cụ thể. Kinh nghiệm thẩm mỹ của mỗi cá nhân đọc là cái chìa khóa, quyết định cho việc mở được hay không cánh cửa vào với văn bản thơ ca. Khi chìa khóa hóc, không mở nổi cánh cửa văn bản, thì cái khó hiểu xuất hiện. Cái khó hiểu, do vậy, sẽ đến khi kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc có sự vênh, khác, và do đó, không làm sao nối được mối dây cộng thông sang đối tượng thẩm mỹ là bài thơ. Sự đọc một văn bản thơ, khi thấy khó, nghĩa là sự đọc đã bị mắc kẹt. Sự đọc như con cá, dù muốn lội bơi tự do trong văn bản, nhưng vì khó, nên con cá của sự đọc đành nằm phơi bụng, chết chẹt giữ những dòng ngữ tự.

Kinh nghiệm hiểu thì luôn thế, tự bản chất căn nền (essence), mỗi người đọc luôn thuộc về một cộng đồng hiểu cụ thể. Đồng thời, ngay những người đọc trong cùng một cộng đồng đọc thì vẫn có ít nhiều khác biệt, do kinh nghiệm thẫm mỹ cá nhân thì không bao giờ là sự trùng khít. Tuy nhiên, thông thường, sự đọc sẽ tỏ rõ sự sai khác như là đêm thù địch sáng đèn, ấy là khi những kinh nghiệm đọc của các cộng đồng thẩm mỹ khác nhau cùng tham gia đọc một văn bản. Ví dụ như Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh, những người đọc trong trường thẫm mỹ lãng mạn thì tẩy chay là hũ nút, ngược lại, những người đọc sống thoát được qua trường thẫm mỹ tượng trưng, siêu thực thì đánh giá cao công tích bài thơ. Hoặc khác nữa, nhẹ nhàng hơn, trường hợp Xuân Diệu, người đề cao thơ khó theo Mallarmé. Khi in Thơ thơ, Xuân Diệu gây cơn choáng sốc cho người đọc đương thời vì chất tân thời, Tây quá đỗi trong thơ ông. Thế Lữ, người đã có lời khen Thơ thơ, góp vào xác lập cơ sở vững chắc cho thơ lãng mạn tọa chiếu chính giữa ngôi đình Thơ mới. Nhưng Thế Lữ lại cũng chính là người đã đả phá khá cay nghiệt trường thơ Bạch Nga mà Nguyễn Vỹ sẽ không bao giờ quên mối ân oán này. Sự đọc, do vậy, đầy giới hạn, luôn luôn bị đe dọa rơi vào vấn nạn của cái khó, cái không hiểu gì. Và từ cái không hiểu đến các nhận định ác ý cũng không mấy xa. Sự đọc khi bị mắc kẹt, bị chết chẹt do sự đọc không chịu hiến mình cho cái mới, đổi khác tư duy của sự đọc, thì rất dễ rơi vào ngộ nhận giá trị, đánh giá thấp các cách tân nghệ thuật mới. Trong khi, nghệ thuật tự bản chất luôn đổi mới, liên tục kiến tạo nên những trường thẩm mỹ khác. Cái khó, do vậy, đôi khi đồng nghĩa với chứng bất lực của sự đọc, là một sự đọc đã tụt hậu không bắt kịp nổi với tư duy nghệ thuật mới.

Ngược nguồn khó trong thơ hôm nay

Cái khó trong thơ hôm nay đến từ nhiều ngả đường. Mà ngả đường nào dường như cũng là đường hiểm cho phần đông quần chúng đọc thơ đương thời. Thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ tạo sinh, thơ phụ âm, thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại… thơ nào cũng là thơ khó. Độc giả Việt Nam đại chúng, do nhiều lý do, phần đông vẫn sống trong trường tiếp nhận tiền hiện đại. Từ nhà trường, bước ra đời, người Việt Nam vẫn quen/phải/bị tư duy với lối phản ánh cơ giới giống như thực, phán đoán kinh nghiệm nhân quả, lề luật, với tính cân đối, với cái chính thống mà chưa biết chấp nhận cái ngoại biên… Thế nên, kinh nghiệm thẩm mỹ tiền hiện đại đã hằn sâu vào phần đông độc giả ngày nay. Chính cái trường thẩm mỹ tiền hiện đại ấy của người đọc đương thời đã khiến hắn ta mắc kẹt vào trong đá ngầm của các cách tân thơ ca hiện đại và hậu hiện đại. Không cần tìm đâu xa, trên các mặt báo, tạp chí mấy chục năm qua, người ta vẫn than vãn (lẫn chỉ trích) thơ ngày nay khó, không giản dị, trong sáng như ca dao (!) Thơ nếu đánh đố sự đọc, thì lỗi không nằm ở thơ, không phải của thơ mà trước nhất là lỗi ở sự đọc. (Cổ đức dạy rằng: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân” thật đúng trong trường hợp này). Xuân Diệu viết rất hay khi bênh vực cho thơ khó, khó hiểu hay dễ hiểu đó là lời bình phẩm của người, chứ trong khi làm, người thi sĩ không ngờ rằng thơ mình lại “khó hiểu”. Thi sỹ khi sáng tạo, hắn chỉ biết nhắm đến một điều, làm sao bằng ngôn ngữ có thể rọi phóng ra tất thẩy nhũng cái tinh vi, phức tạp mà nội tâm hắn đang sống trải và giờ đây muốn hiển hiện lên mặt chữ.

Lần về nguồn một cái khó cụ thể trong thơ hôm nay: Thơ tự do, thơ văn xuôi. Về kỹ thuật viết, đưa cấu trúc câu thơ vào tự do, Phan Huyền Thư một tác giả tiêu biểu cho thơ tự do đương đại đã trả lời cho con đường đến thơ tự do của mình: “Chúng tôi ít dùng các thể thơ có sẵn như: lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, xon-nê…. không phải các thể thơ đó không hay, không có giá trị, nhưng đôi khi nó làm cho người viết bị cảm giác tù túng, mất tự do theo đuổi những ý nghĩ, cảm xúc và trí tưởng tượng, thi ảnh của mình bằng những nhạc điệu buồn tẻ. Làm thế, chẳng khác nào viết lời mới cho một bản nhạc có sẵn. Thành kính mà nói, chúng tôi thấy các thể thơ trên đã được các thế hệ đi trước khai thác đến triệt để, cùng kiệt rồi, nếu làm chắc chúng tôi sẽ không thể phát tiết hơn được”. Nguyễn Quang Thiều thì phát biểu về những người làm thơ hôm nay: “Họ không bị ràng buộc bởi niêm luật, hình thức, vần vèo. Họ chơi thơ, thả thơ, họ tự do, để được cháy bỏng, tuôn trào thể hiện những ý niệm mới trong đời sống đương đại”. Về nội dung, góp dẫn thơ đi đến tự do, thì phần lớn, các nhà thơ tự do đương đại trả lời rằng, do nhu cầu biểu hiện cái tôi một cách tự do với tất cả chiều kích, mà bối cảnh xã hội cởi mở cho phép, điều ấy, khiến thơ phải biến dạng theo nhịp điệu phức tạp, tự do của tâm hồn, nên là cơ sở thúc đẩy thơ đi vào tự do. Phải nói rằng, bằng một con đường rất riêng, sau 1986, thơ Việt Nam lại chảy tiếp nối và phát triển rực rỡ thơ tự do được những cánh én lẻ bầy nhưng yểu mệnh đã chớm báo hiệu thời thơ tự do như Trần Mai Ninh, Hữu Loan và nhất là Nguyễn Đình Thi.

Cũng làm luôn một cuộc nước ngược, chảy rẽ vào một một phía khác của Việt Nam với nhóm Sáng Tạo, thì có thể nói, Sáng Tạo và nền thi ca miền Nam (1954 – 1975), đã làm nên một thời kỳ rực rỡ của thơ tự do. Thơ tự do của Sáng Tạo ra đời với mục đích và tôn chỉ nghệ thuật rõ ràng, làm thơ tự do để cách tân nghệ thuật. Mai Thảo xác định lập trường cho cái mới trong nghệ thuật cần dựng xây “không thể là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực… (…) làm sao đoạn tuyệt được hoàn toàn với những ám ảnh và những tàn tích của quá khứ”. Để thực hiện được khát vọng đổi mới nghệ thuật ấy, Mai Thảo đã đi đến lời khẳng quyết: “thơ bây giờ là thơ tự do”. Đồng quan điểm với Mai Thảo, đỉnh chói lọi của thơ tự do Thanh Tâm Tuyền cũng đã chỉ rõ cần phải khởi dựng một lối thơ mà ở đấy nhịp điệu của âm, vần cần loại bỏ để thay thế bằng nhịp điệu của hình ảnh. Từ đấy, Thanh Tâm Tuyền đã khai sinh ra những bài thơ tự do tuyệt tác, mà mạch liên kết của nó chính là những hình ảnh vô thức, siêu thực được đan cài nối tiếp vào nhau, với cấu trúc câu thơ hoàn toàn tự do: “Tôi biết những người khóc lẻ loi / không nguôi một phút / những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình / em biết không / lệ là những viên đá xanh / tim rũ rượi” (Lệ đá xanh) hoặc “Tôi buồn khóc như buồn nôn / ngoài phố / nắng thủy tinh / tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ / thanh tâm tuyền / Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường / tôi xin một chỗ quỳ thầm kín / cho đứa nhỏ linh hồn / sợ chó dữ / con chó đói không màu” (Phục sinh). Hoặc những câu thơ văn xuôi tự do đẹp vương buồn và mê say của Tô Thùy Yên: “Với thân thể lân tinh, em sáng lên trong bóng tối, hạt kim cương rạng ngời trong mỏ than đêm, anh trông thấy em không nhầm lẫn được. / Với thịt da gỗ quý, giọt mật tinh khôi nạm giữa đài hoa thơm nức, em dâng hương anh, gã du mục lạc loài trong nhớp nhúa. / Với dung nhan bắt được tài tình của hy vọng, em leo mọc khắp tường thành nứt đổ đời anh, trổ bát ngát những nụ cười mời đón. (…) Tháp đôi thân thể vào nhau, anh nhân lên với em thành vô vàn khoái cảm. / Với linh hồn xao xuyến của rừng thu, anh trút sạch lá vàng đau khổ cũ” (Lễ tấn phong tình yêu). Thơ tự do miền Nam là cả một trào lưu rộng lớn, có thể kể ra vô số các nhà thơ tự do miền Nam thời ấy như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, Nhã Ca, Quách Thoại, Trần Dạ Từ… thậm chí, cả tu sỹ, nghệ sỹ như Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ cũng làm thơ tự do… Lấy thêm ví dụ nữa, thơ nữ quyền luận, một tiếng nói khác của thơ đương đại, mà các nhà thơ nữ là nhân tố đáng kể, thì rất sớm, Nguyễn Đức Sơn và Nhã Ca là những nhà thơ đã dịch chuyển cái tôi trung tâm trong thơ vào người nữ. Nhã Ca với Đàn bà là mặt trời đã làm tuyên ngôn cho nữ quyền trong thơ. Nguyễn Đức Sơn với tập Đêm nguyệt động đã có những bài thơ đẹp một cách kỳ dị chỉ hành vi thân xác người nữ, mà đái là một thi ảnh mộng mơ và ám ảnh, có một không hai trong thơ Việt, sau này, đái lại trở lại trong thơ nữ đương đại với những chiều kích độc đáo khác.

Như vậy, nếu nhìn ngược con mắt về quá khứ, hẳn là chúng ta phải nhận ra, thơ tự do, thứ thơ khó đọc, khó thuộc ấy, có lý do tồn tại cụ thể và đã có một chiều dài hiện hữu. Thơ tự do thế nên không phải là một sản phẩm mới mẻ gì, thơ tự do đã tồn tại từ lâu và có nhiều đỉnh. Xã hội miền Nam 1954 – 1975 và xã hội Việt Nam sau 1986, nhà thơ có sự giống nhau là được tự do sáng tạo. Với ý thức cá nhân lên cao chưa từng thấy trong lịch sử mẫu người văn hóa Việt Nam, miền Nam 1954 – 1975 đã đẻ ra những nhân cách thi ca kỳ dị mà cá tính ngông cuồng, phá phách, điên tàng đặc biệt kiểu Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn (Sao Trên Rừng). Chính sự tự do của cá tính sáng tạo thi ca, điều mà như Nguyễn Quang Thiều cũng nhận thấy trong thời của ông, đã dự góp vào đưa thơ đến bến tự do. Đã tự do thì không thể có lề luật nào trói buộc, và thơ tự do thì không khuôn vào bất cứ một hình thức nào.

Từ khó đến dễ, nỗ lực mở rộng chân trời của sự hiểu

Hiểu từ nguồn thơ tự do, thơ biểu đạt của con người với cùng thẳm các tiết diện sống, có cái quẫy đạp của tội lỗi, của tối tăm vô thức, thì sẽ hiểu thơ tự do không tối nghĩa, không khó. Thơ tự do với việc tái hiện các hình ảnh vô thức, nên nó là không như thực, có thể gọi là khác thực, siêu thực. Tự do, thì không chỉ tự do ở hình thức thơ mà còn là tự do cả trong hình ảnh, ý tưởng thơ. Đọc thơ tự do, vì thế, để nắm bắt ý nghĩa bài thơ, người ta nên tuân thủ ý nghĩa của vô thức, siêu thức, kiểu như nhà phân tâm hiểu một giấc mơ.

Giải khó, vì thế, là một quá trình xây dựng kinh nghiệm thẩm mỹ mới, để có thể tiếp thông được sang các sáng tạo khác với mỹ học đọc cá nhân. Giải khó, vì thế, cần nơi người đọc một sự nỗ lực làm đầy thêm các kinh nghiệm khác mình. Thơ sẽ chuyển từ khó (difficulté) đến không khó (sans difficulté) nếu như sự đọc được vũ trang trường thẩm mỹ mà bài thơ thuộc về. Sự đọc, vì thế, nên là con cá đa thê, có thể sống sót trong nhiều môi trường, sự đọc khi ấy là sự đọc lý tưởng mà các nhà lý thuyết nghiên cứu sự hiểu ao ước. Một bài thơ đã tồn tại qua thời gian, thì phải có lý do, vì thế, sự đọc thay vì than khó hãy tự biết xây dựng thêm các trường thẩm mỹ mới để thông hiểu bài thơ. Sự đọc khi thông hiểu bài thơ, vượt thoát ra khỏi cái khó, thì lập tức, sự đọc gọi về hoa trái rủ ngọt trong trí óc cho người đọc.

Chuyên đề Thơ khó đương đại Việt Nam do phebinhvanhoc.com.vn tổ chức. Bài đã đăng trên Văn nghệ trẻ số 10 – 2012

Leave a Reply