Thơ tuyển Mai Văn Phấn (thơ cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, Nxb. Hội Nhà văn, 2011) – Phần 4/4


Tập này tuyển lại các bài tiêu biểu trong các tập đã in và một số bài chưa công bố: Giọt nắng, Gọi xanh, Cầu nguyện ban mai, Hôm sau,  Trường ca Người cùng thời, Nghi lễ nhận tên, Vách nước , Và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che. Qua đây, bạn đọc sẽ thấy cách đi của Mai Văn Phấn từ truyền thống đến hiện đại và tìm ra giọng điệu riêng biệt hiện nay. Thơ Mai Văn Phấn có các giai đoạn chuyển rõ rệt, tạm phân chia thế này:
I – Từ khởi đầu đến năm 1995.
II – Từ năm 1995 đến 2000.
III – Từ năm 2000 đến nay.
Ngoài ra, còn tập hợp một số tiểu luận và những cuộc trả lời phỏng vấn để làm rõ hơn ý đồ qua các bước chuyển.

 

*

 

MỘT SỐ TIỂU LUẬN

 

 

 

 

Thơ, giá trị cần đến

 

.

Thay đổi khuynh hướng sáng tác, lớn hơn là khai sinh những chủ nghĩa hình thức trong thi pháp, thường xuất hiện ở những dân tộc có nền thi ca góp phần thay đổi đời sống tinh thần nhân loại. Nó nảy sinh, lóe sáng từ những vận động trong lòng giá trị cũ, đột biến của lịch sử và cả báo động sự xâm lấn từ nền văn hoá khác. Từng bước ngoặt đã để lại những gương mặt tiêu biểu cho tinh thần một dân tộc, niềm tự hào của thời đại. Khác hơn, đó là những bóng râm khuynh loát không gian rộng, làm cho các thế hệ cầm bút kế tiếp phải dũng mãnh vươn lên, tìm cách vượt thoát. Sự xuất hiện thế hệ nhà thơ “thời đổi mới“, hay chính sự vượt thoát tất yếu và tự nhiên đã tạo diện mạo mới cho thi ca đương đại, khơi dậy mọi tiềm ẩn trong vỉa tầng văn hoá dân tộc.

.

Cùng những giá trị đã được khẳng định, hàng loạt khuynh hướng sáng tác được thể hiện, làm phong phú và thay đổi đời sống thi ca. Dĩ nhiên, hầu hết các trào lưu trước khi du nhập vào nước ta đã thành “xác ướp” trong các thư viện hoặc đang… “chết lâm sàng”. “Xác chết” những chủ nghĩa, khuynh hướng… từng bị vùi lấp, trôi dạt qua những biến thiên của lịch sử, và để lại “phù sa” trong dòng chảy thi ca. Các nhà thơ “thời đổi mới” đã tạo dựng, thổi hơi thở Việt vào những “phù sa”, vào không gian riêng của mình. Hơi thở Việt được hiểu như một hệ thống sinh thái, tập hợp nhiều thực thể độc lập nhưng liên quan với nhau, bắt nguồn từ cội rễ văn hoá và bản sắc dân tộc. Tạo một nền thơ hiện đại, làm phong phú tính truyền thống là nhiệm vụ cốt tử của mỗi nhà thơ.

 

.

Thơ ca đang chuyển động trong một thế giới đa chiều, đa cực. Trách nhiệm của mỗi nhà thơ phải khám phá cho được không gian nghệ thuật của chính mình, nếu thực sự muốn tồn tại trong không gian mới của thời đại. Cách lập ngôn của nhà thơ không đơn thuần là giọng nói, mà chính là cách thiết lập không gian. Không gian ấy là dung lượng cảm xúc, độ mở trí tuệ mà nhà thơ bao quát, chế ngự được. Mỗi đơn vị, hay tạm gọi tế bào trong cơ thể ấy kết dính và chịu lực tương tác lẫn nhau theo quy luật riêng. Nó chuyển động không ngừng với vận tốc lớn, đôi khi tưởng chừng phi lý. Nhưng dung tải của nó lớn hơn những quan niệm thông thường. Như vậy, cụ thể một liên tưởng có thể rạch tia chớp từ một đích của tương lai tới đầu mút của quá khứ. Ðiều cần nói nữa là thơ hiện nay ít tập trung vào những điểm chập nổ (những câu thơ nhói sáng) mà gây sức ép lớn ở vùng bị ảnh hưởng để làm nên độ vang vọng và chân thực nhất của sự vật. Ðây thực sự là thử thách lớn đối với người viết: bởi nối thông những điều vừa nói mà cảm xúc không đầy, thơ sẽ rơi vào sự rối rắm, làm xiếc chữ và lại sa vào… tắc tị.

.

So với văn xuôi, thơ hiện còn ít những tên tuổi mới được khẳng định, tạo xung động mạnh trong đời sống văn học và xã hội. Một chặng đường đã cho ta nhiều hy vọng, e ấp những tự hào và cả nuối tiếc. Sự nuối tiếc khi bình tĩnh nhìn lại những giá trị chân thực từ phía người viết, cả thái độ ban đầu của người đọc trước đổi mới của thi ca…

Hải Phòng, 9/2002

 

(Tham luận tại Hội thảo Thơ, do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức, 9/2002)

 

   

Người đọc và đổi mới thi ca

 

 

Vấn đề đặt ra không mới, thậm chí bị liệt vào những chuyện “khổ lắm nói mãi!”. Rằng, người đọc đã chán những quan niệm cũ. Các nhà thơ cần đổi mới thi pháp… Đã nhiều cuộc hội thảo thơ ca với những mệnh đề quen tai như: cách tân, chuyển động, khép lại, bứt phá, định hướng, thay đổi, chôn vùi, biệt lập, cứu thơ, mở đường… Nhưng rút cuộc, con tàu thi ca đương đại vẫn chuyển động ì ạch. Phải chăng các báo, tạp chí văn học hiện nay không phản ảnh đúng thực trạng thơ ca đương đại? Có chăng sự tăng tốc đâu đó nhưng mang tính cá thể? Từ những cá thể ấy, chúng ta vẫn thấy chuyển động lệch nhịp giữa người đọc và những đổi mới thi ca hiện nay.

Người đọc Việt nam khác biệt các nước là thị hiếu thẩm mỹ khá ổn định. Tính ổn định được định hình khi họ còn trên ghế nhà trường. Đã từng có giai đoạn văn học, mọi người chăm lo cổ xúy cho những giá trị giống nhau, làm những sáng tạo mang dấu ấn cá biệt bị lu mờ. Điều đó càng củng cố thêm tính “ổn định” trong thẩm định giá trị nghệ thuật, nhất là thơ ca. Cách so sánh máy móc hàm nghĩa câu thơ sao cho trùng khít với ý nghĩa đời sống, cách tư duy hình ảnh thơ theo lối đơn tuyến, và thái độ chờ sẵn những nhịp điệu quen tai, đã làm nhiều người lầm tưởng những quan niệm ổn định kia mang đậm bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc dĩ nhiên không xuất phát từ thói quen mà tích hợp lũy thừa những biến thiên tích cực của lịch sử, là trầm tích những giá trị tiêu biểu đã qua và hướng tới những lý tưởng thẩm mỹ chưa định hình nhưng mang những đặc trưng tiêu biểu cho tâm lý người Việt Nam.

Đổi mới thi pháp trước hết là từ chối ve vuốt những sở thích của người đọc, nhằm tạo những sóng từ khác, những mã số khác trong không gian thơ vừa được khám phá. Lý tưởng thi ca của sự cách tân nhằm gọi đúng bản chất của sự vật trong nhịp điệu đời sống hiện đại. Đó là tiếng nói thi ca trực tiếp,  khách quan, mang tính hài trước những hiện thực phong phú và tế vi, sống động và khắc nghiệt. Tiếng nói trực tiếp của nhà thơ là thái độ từ chối những thủ pháp nghệ thuật cũ như nấp vào vỏ bọc hào nhoáng của ngôn ngữ thị dân, hay dùng phép ẩn dụ, ngoa dụ, so sánh, siêu hình… Tính khách quan tạo nên sự bình đẳng giữa người đọc và nhà thơ trước một văn bản thơ cụ thể. Một bài thơ viết xong hầu như tồn tại độc lập với người làm ra nó. Người đọc không còn gặp thái độ chủ quan của nhà thơ như trước nữa, đặc biệt là đã giảm thiểu tối đa những mạch tự sự đa cảm, thiếu lý trí, thay thế những cách nghĩ quanh quẩn, manh mún, mụ mẫm… bằng kiểu tư duy mang tính phổ quát, minh bạch. Bằng những trải nghiệm, sở thích, tình cảm riêng biệt, mỗi người đọc tự tìm cho mình tiếng nói tri âm, mà kết quả thu được có thể khác biệt với những người đọc khác. Họ không bắt buộc phải theo đuổi ý chí hay tình cảm của nhà thơ, nói khác đi là không bị áp đặt, định hướng, hay bị dạy dỗ điều gì. Trong những trường hợp cụ thể, văn bản thơ chỉ nhằm gợi ý để người đọc tự đi đến tận cùng mục đích do tự họ và nhà thơ đã ngầm đặt ra. Người đọc cùng tham gia, đồng hành với quá trình sáng tạo của nhà thơ, được tự do đọc theo cách của mình, tự tìm lấy chìa khóa để bước vào ngôi nhà thi ca. Đó là một thế giới riêng biệt, một miền đất lạ cần khám phá. Nhà thơ mở cho bạn đọc một chân trời tự do tuyệt đối, tùy thuộc vào sự trải nghiệm, hay gọi khác đi là “cuốn từ điển bách khoa”, mà mỗi người tự quyết định cách đi, cũng như độ dài con đường để đến mục đích. Mỗi bài thơ thường hàm chứa một kinh nghiệm thẩm mỹ riêng biệt. Tứ thơ xuất hiện cho bài thơ giống như bông hoa một lần đăng quang giữa thiên nhiên rộng lớn, sau đó tự biến mất mà không để lại kinh nghiệm gì. Những nhà thơ lấy kinh nghiệm từ cái đã được khảng định tất yếu sẽ chuốc lấy thất bại. Không có kinh nghiệm thi ca cho nhà thơ chuyên nghiệp, cũng như không nên tích hợp kinh nghiệm cho người đọc thơ, yêu thơ trong thời đại ngày nay.

Đổi mới thi pháp luôn là con đường khó khăn và đầy hiểm trở. Trong quá khứ có nhiều khuynh hướng thi ca đã chết yểu, tàn lụi, hoặc gây không ít phiền toái cho người đọc. Trong số những người mang tinh thần cách tân, tiên phong hôm nay, có không ít nhà thơ đã sớm mang những căn bệnh cố hữu như cầu kỳ, bí hiểm, thiếu cảm xúc… Tin rằng, đời sống văn học sẽ đào thải, giáo dục và tinh lọc họ. Những chuyển động lệch nhịp giữa người đọc và sự đổi mới thi ca hiện nay phải chăng là  tất yếu của lịch sử văn học nước nhà? Xin mỗi người hãy đưa ra một cách lý giải phù hợp. Mỗi nhà thơ có được những khao khát viết khác trước, họ phải vượt qua sức ì bản thân, những cuộc tự vấn sòng phẳng, quyết liệt. Trong bóng tối, kể cả trong bóng đen ghê sợ của im lặng, họ như được chứng kiến sự đổ vỡ những giá trị cũ kỹ đến ê chề. Quá trình sáng tạo chính là những cuộc cách mạng liên tiếp xẩy ra trong mỗi nhà thơ. Nhân tố mới thường sinh ra trong sự khốc liệt, nhiều khi phải chấp nhận những thất bại cay đắng. Quá trình vượt thoát khỏi những quan niệm cũ không chỉ đặt ra cho các nhà thơ mà cho cả người đọc. Phải là cuộc song hành, đồng bộ, nhà thơ và bạn đọc mới có thể gặp nhau, cùng kích hoạt những tác phẩm văn học có giá trị.  Đổi mới thẩm mỹ nghệ thuật của người đọc là đóng góp xứng đáng vào tài sản tinh thần dân tộc trong thời đại mới.

(Nguồn: Tạp chí Nhà Văn số 4 –  2005)

 

  

Thơ Việt Nam đương đại, buổi ra đi và trở về

 

 

Nhận diện thơ Việt Nam đương đại thông qua báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng và dựa trên những mối quan hệ cá nhân với từng tác giả, quả là công việc nặng nhọc nhưng đầy hào hứng với tôi. Nó phản ánh khá rõ nét bước ngoặt quan trọng trong định hình và phát triển một giai đoạn văn học Việt Nam, đặc biệt thơ ca, vừa đa diện vừa phức tạp. Nếu không đánh giá đúng bản chất và nắm được quy luật vận động của giai đoạn này, sẽ làm bạn đọc hoang mang, chán nản, mất phương hướng thẩm mỹ; làm phần lớn các tác giả trẻ lúng túng, thậm chí tiêu phí quỹ thời gian cho những tìm tòi vô ích.

Sự nghiệp Đổi mới (từ 1986) đã tạo cơ hội cho văn học Việt Nam hội nhập nhiều hơn với thế giới. Nhưng thơ Việt Nam đương đại đang ở đâu? Đó là câu hỏi đã nhiều lần đặt ra và cũng không dễ trả lời. Thơ Việt Nam, theo tôi, chỉ duy nhất thời kỳ Thơ Mới (1930 – 1945) đã hoà vào dòng thơ thế giới, cụ thể hơn là thơ ca Pháp. Trước đấy, tạm lấy thơ cụ Tản Đà làm mốc, nền văn chương cử tử của Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng thơ Đường và giai đoạn đầu của thơ Tống. Từ cuối thơ Tống đến giai đoạn tiền Thơ Mới ở Việt nam, nhiều khuynh hướng thơ ca Trung Hoa với chúng ta vẫn còn xa lạ. Phòng trào Thơ Mới ra đời từ cuộc hội nhập Đông – Tây thế kỷ qua. Từ những năm ba mươi, thơ Việt Nam đã tiếp thu và phát triển khuynh hướng thơ Hiện thực và Lãng Mạn Pháp, có kết hợp với Siêu thực và đi được một nửa Tượng trưng. Lúc đó, thơ ca cũng như văn học nghệ thuật nói chung phải dồn hết tâm lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như chống Mỹ sau này. Chúng ta mãi biết ơn những nhà thơ tiêu biểu cho Phong trào Thơ Mới, như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử… Họ đã có công khởi xướng, Việt hoá, kết hợp nhuần nhuyễn với thơ truyền thống để có một trào lưu thơ ca hiện đại tồn tại đến hôm nay. Qua mỗi giai đoạn, một số nhà thơ đã tự phát và đơn độc khởi xướng cách tân, nhưng không trụ được trong dòng thác thói quen thẩm mỹ của đám đông lúc đó, bởi rất nhiều nguyên nhân như hoàn cảnh lịch sử, mặt bằng văn hoá bạn đọc và tài năng không đủ để độc sáng.

Vậy thơ Việt Nam đương đại đang ở đâu? Xin thưa, thơ chúng ta vẫn chậm so với khu vực và thế giới, chưa có diện mạo riêng, dòng chảy chưa được định hình.

Ngay sau năm 1986, đã xuất hiện số ít nhà thơ (trong và ngoài nước) có ý thức sâu sắc cách tân thơ Việt. Họ có chủ thuyết riêng biệt, chắc chắn và tự tin trên con đường đã chọn. Họ có đủ kiến thức thi ca, có nền tảng văn hóa & xã hội sâu rộng, có bản lĩnh khám phá và cả lòng dũng cảm, bình tĩnh trước sức ép công luận, dám chấp nhận đơn độc trên con đường mới, mở ra một  không gian thơ khác, tạo tiếng nói khác. Họ khác hẳn số đông từ nền tảng, lý tưởng thi ca đến cách biểu đạt ý tưởng, lập ngôn, cách tạo những chuyển động thi ảnh… Thời kỳ đầu, đa số bạn đọc đã phản ứng quyết liệt trước một số hiện tượng thơ cách tân, thậm chí đã chống lại những quan niệm thẩm mỹ mới lạ. Nhưng thời gian khách quan đã minh chứng một số thành công nhất định của các tác phẩm (dù chưa nhiều) nhưng cũng để bạn đọc bình tĩnh nhận ra chân/ giả  của những chuyển động mới.

Kế tiếp là các gương mặt trẻ cũng hào hứng đi tìm tiếng nói mới cho thơ. Và mỗi người, theo cách của mình, đã ít nhiều tạo cho thơ ca những diện mạo mới lạ hơn. Nhìn chung, lớp trẻ có kiến thức tổng hợp phong phú, giỏi ngoại ngữ nhưng do thiếu hệ thống lý thuyết về thi ca, thiếu cả cung bậc về văn hóa xã hội nên đa phần lúng túng trước các trào lưu trường phái du nhập từ phương Tây, một số khác như ngựa phi nuớc đại nhưng cắm mốc vào ngõ cụt.

Có thể điểm một số trường phái thi ca tiêu biểu đã ảnh hưởng đến dòng chảy của thi ca Việt đương đại. Trường phái tượng trưng, một trào lưu nghệ thuật của Phương Tây cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, chủ trương biểu hiện bằng những hình ảnh gián tiếp, gợi ra những ý niệm tương đương về thế giới và sự vật, những bí ẩn mà cảm giác không thể nhận biết. Trường phái Siêu thực tuyên ngôn vào năm 1924, nhằm thoát ly hiện thực để biểu đạt những tưởng tượng chủ quan của mình, ghi lại những ảo giác tự phát. Ngoài ra còn có các trường phái nghệ thuật khác có ảnh hưởng trực tiếp đến thơ ca, như Trường phái Dada, Vị lai, Biểu hiện…vv… Các trường phái nêu trên có tên chung là chủ nghĩa Hiện đại, thực chất là chủ nghĩa hình thức và duy mỹ. Nó phát triển rực rỡ những năm 30 thế kỷ trước, nhưng cho đến nay, nhiều nghệ sỹ, kể cả ở châu Âu vẫn sử dụng nó như những cảm thức sáng tạo. Từ khi chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản tiêu dùng đã xuất hiện chủ nghĩa Hậu hiện đại. Về cơ bản, chủ nghĩa Hậu hiện đại không phải sự tiếp nối của chủ nghĩa Hiện đại, không phải một trào lưu nên không có chủ thuyết ổn định. Nó phát triển trong điều kiện hậu hiện đại tùy thuộc địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hoá của mỗi vùng đất, mỗi dân tộc. Từ cuối thế kỷ 20, chủ nghĩa Cổ điển mới đã xuất hiện, là sự tái hợp huy hoàng của nghệ thuật với chủ nghĩa nhân văn cao cả mà nhân loại có lúc đã sao nhãng, nhằm chống lại cơn tuyệt vọng thẩm mỹ của thế kỷ 20, để nghệ thuật hướng đến cái đẹp nhân bản hơn, cái đẹp không thể tách rời cái đẹp đạo đức và cái đẹp trí tuệ…

Nhìn lại những trào lưu nghệ thuật, đặc biệt thơ ca, chúng ta thấy chúng xuất hiện trong bối cảnh lịch sử nhất định, đã đóng góp xứng đáng và tất yếu vào lộ trình thi ca nhân loại. Nhưng ngay ở thời điểm rực rỡ nhất, nó cũng chịu không ít những áp lực phủ định quyết liệt từ phía dư luận. Nhà thơ nổi tiếng Wallace Stevens (1879-1955) của Hoa Kỳ cũng từng nói về chủ nghĩa Hiện đại không mấy thiện cảm: “Chúng ta không nên tiêu phí thì giờ để làm hiện đại, còn bao nhiêu việc quan trọng hơn…”. Tuy nhiên, không thể vì những phủ định mà dừng lại, cần thám hiểm, cần phiêu lưu, cần đặt chân lên những vùng đất mới. ĐI & sẽ TRỞ VỀ. Thơ trẻ đương đại đang có  biểu hiện khao khát muốn “trở về nhà”. Sự trở về không có nghĩa quay lại ngôi nhà cũ (tạm gọi Hiện thực và Lãng Mạn), mà mang một diện mạo khác, một tâm thế khác, trên con đường khác.

Tôi hâm mộ ai đó dám buớc đi và biết quay về trên cội nguồn thơ Việt, với tâm thức của thời đại, biết vận dụng linh hoạt thi pháp các trường phái mà không đánh mất bản chất tâm hồn Việt, vốn sáng trong, chân thành, bao dung mà rất hiện sinh, tinh tế trong cảm nhận, nhân bản hồn hậu trong nghĩ suy về phận người…

Đã có những lúng túng giữa các nẻo đường chủ nghĩa với trường phái, có cả những “lạc đường” dung tục,  có những khuynh hướng “phi thơ” mà dùng thơ như “phương tiện” để trục danh, trục vọng. Từ nhận diện thơ Việt đương đại như trên, tôi mạnh dạn đề xuất:

1 – Các cơ quan báo chí và truyền thông, trước hết của Hội Nhà văn VN, nên tổ chức các hội thảo chuyên đề cho từng khuynh hướng, đăng lại các chủ thuyết, nhận định, tuyên ngôn hay tiêu chí, quan trọng hơn là các tác phẩm tiêu biểu cho từng trường phái. Điều đó tạo cho các nhà thơ và bạn đọc tầm nhìn phổ quát mang tính định hướng về thơ ca thế giới, là cơ hội để phát huy và làm phong phú thêm giá trị truyền thống của chúng ta.

2 – Sẵn sàng hội nhập để không có ngoài/ trong lề, trong/ ngoài nuớc  bằng việc cho công bố những tác phẩm hay & mới. Sẵn sàng đối thoại công khai bình quyền với các chủ trương/ trường phái/ nhóm thơ trên các mặt báo và phương tiện truyền thông, đồng thời chọn tác phẩm tiêu biểu đưa vào nghiên cứu ở các trường đại học.

Tôi tin rằng gương mặt của trở sự trở về chắc chắn phải là hình ảnh thơ Việt Nam đương đại trải ra trên bề mặt thế giới phẳng mang tính toàn cầu, mới mẻ, giàu tính nhân văn, đẹp đẽ sáng trong tâm hồn Việt. Con đuờng vẫn đang ở phía truớc và tất cả chúng ta, những người cầm bút, phải trả lời bằng chính tác phẩm của mình.

(Nguồn: Tạp chí Cửa Biển 5/2010, Tạp chí Thơ 10/2010)

 

  

Mấy suy nghĩ về thơ hay

 

Vẫn còn đó những tranh luận xoay quanh ý niệm “Thế nào là thơ” nên chuyện thơ hay sẽ càng mông lung hơn khi lý giải. Nhận diện, đề xuất tiêu chí thơ hay thành ra bao hàm ít nhiều tính chủ quan không thể tránh khỏi của người viết.

“Hay” là điểm sáng đầu tiên nhưng chỉ là một phần nằm trong tổng thể giá trị thẩm mỹ của bài thơ. Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan là bài thơ hay nhưng không thể so sánh với giá trị bất tử của Nam quốc sơn hà, một tuyên ngôn lộng lẫy chính khí.

Hai là, ý niệm “thơ hay” chắc chắn thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ Đông – Tây, vùng miền, thời đại, theo khuynh hướng phê bình và còn tùy cách tiếp cận của mỗi người, trong từng khoảnh khắc khác nhau. Thơ Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Quang Dũng… một thời bị nhìn phiến lệch là vậy.

Ba là, “hay” còn cần được lý giải trên nhiều khía cạnh: ngôn ngữ, tư tưởng, thần thái của bài thơ… Đi tìm một bài thơ hay toàn diện, hay trong mọi thời đại, hay với mọi người là chuyện mò kim đáy biển. “Mắt em là một dòng sông/  Thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em” của Lưu Trọng Lư đến hôm nay có lẽ hơi nhạt. Ngược lại, câu thơ của Thanh Tâm Tuyền “Tôi buồn khóc như buồn nôn/ ngoài phố/ nắng thủy tinh”, trong thời đại mới, vẫn bị xem là khó hiểu dù chỉ phơi bày một nhát cắt hiện thực dang dở và đang mở, chờ đón sự chắp nối của người đọc.

Với Lê Đạt, thơ hay “bao giờ cũng có tiếng thầm thì, đó tiếng gọi nhau của chữ”; với tôi, thơ hay trong khoảng im lặng giữa các chữ, là mang đến cho ta niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức. Bài thơ Linh hồn những con bò của Nguyễn Quang Thiều là một ví dụ. Năm khổ thơ, năm chặng đường khép mở hiện hữu và hũy diệt. Nếu cánh đồng cuối cùng, bóng tối, tiếng rống, những chiếc ách, dàn kèn đồng thuộc về hôm qua, hiện thể… thì đám mây trở thành một biểu tượng của phục sinh  miên viễn nhuốm màu sắc tâm linh: ”Giờ chỉ còn những đám mây/ phiên bản của đàn bò/ bay trên cánh đồng/ của những con bò khác”. Đọc Pablo Neruda (Nguyễn Hữu Viện dịch), thì Tình hiện ra với nét khắc hoạ thô mộc vạm vỡ, chính xác, bạo liệt: “Thân xác đàn bà ngọn đồi trắng đoạn đùi trắng/ Em giống thế giới trong vẻ thúc thủ đầu hàng/ Thân anh tay nông dân luống cày cắm bừa hoang bạo/ Làm nảy mầm sinh đứa con từ đất bằng”. Nhưng, thơ Yves Bonnefoy (Huỳnh Phan Anh dịch) lại đi về hướng khác với đa tầng cảm xúc hơn và liên tiếp mở ra những cánh cửa bất ngờ: “Tôi không thể thiếu em tôi không dám? Liều không có em trên những bậc thang đi xuống/ Về sau tôi nhận ra đó là một giấc mơ khác/ Mặt đất này với những con đường rơi vào cõi chết”.

Thơ hay như thế không hạn chế ở đề tài. Thơ ngâm vịnh của Lý Bạch, thơ nhân sinh của Đỗ Phủ, thơ thiền của Không Lộ còn đó những tuyệt tác. Rồi thơ trữ tình của Pushkin, Walt Whitman, Hữu Loan… rung lên bao cung bậc. Nếu “Tang khúc cho Ignacio” của  García Lorca (Hoàng Hưng dịch) gửi lại nhân gian cảm thức rụng rời bi tráng về cái chết: “Ignacio lên từng bậc thang /Cõng trên lưng cái chết. /Tìm kiếm bình minh  Mà bình minh không có /Tìm bóng đích thực mình /Mà giấc mơ đánh lạc /Tìm thân mình khoẻ đẹp /Mà thấy máu mở tuôn..”, thì “Tây Tiến” của Quang Dũng cũng dựng lên tượng đài chiến sĩ vô danh khi “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Bên cạnh, “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Thích Thanh Từ dịch: Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua – sân trước – một cành mai.) của thiền sư Mãn Giác lại nuôi trồng những niềm tin tâm linh.

Thơ hay cũng không quy định bởi trường phái, thể loại, cũ & mới, truyền thống hay hiện đại. Thơ Đường của Thôi Hiệu, Vương Duy…, Lục bát của Bùi Giáng, Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn…, thơ tượng trưng từ Stephane Mallarmé đến Paul Valéry…, thơ hậu hiện đại của Paul Hoover, Allen Ginsberg… đều mang lại những chiêm ngắm hiện thực lớn lao.  Một thái độ ứng xử mới với thơ là cần ý thức rằng các yếu tố hình thức đều dung chứa nghĩa, và bất kỳ một cấu trúc hình thức nào cũng có khả năng biểu đạt tư tưởng hoặc nội dung thích hợp.

Thơ hay cũng không nhất thiết lệ thuộc vào vần điệu, tiết tấu, phải dễ thuộc, dễ nhớ, vì thơ ngoài để thuộc lòng, còn để đọc và cảm nhận. Thơ vần điệu với vùng thẩm mĩ quen thuộc thường được người đọc nhớ nằm lòng chưa hẳn là hay và ngược lại. Mời đọc những câu thơ nhớ nhà: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Tản Đà dịch: Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?) trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Hoặc: “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt/ Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà (Phạm Hữu Quang). Và thơ của Tiểu Kiều: “lưng cha trần /rét vô lường/ mặt vùi nặng nợ ruộng nương/ hai bờ “. Câu thơ trên của Phạm Hữu Quang sẽ dễ nhớ nhất vì nhịp đọc quen thuộc; hai câu kết của bài Hoàng Hạc Lâu cũng nhịp 2-2-3 nhưng là từ Hán Việt sẽ khó nhớ; cặp lục bát của Tiểu Kiều khó nhớ hơn vì tiết tấu quen thuộc của lục bát đã bị phá vỡ. Từ đây, ta cũng nhận ra sự khác biệt về cái hay của thơ truyền thống và hiện đại. Thơ hiện đại với mạch chảy là những hình ảnh đứt đoạn, nhảy cóc, mở ra những trường liên tưởng xa nhất định là khó nhớ nhưng như thế chưa hẳn là không hay. Vấn đề ở đây là trình độ cảm thụ của người đọc, chấp nhận hay không chấp nhận cái mới, cái chưa quen thuộc.

Có nhiều khía cạnh hay khác nhau. Thơ Phạm Thiên Thư hay trong thần thái của phiêu lãng đạo và đời, thơ Trần Dần ngổn ngang trong việc bày biện giữa cái tôi nhân sinh và vũ trụ hằng hà; thơ Beaudelaire đẹp trong những những suy tư triết học, trong khi Alphonse de Lamartine lại cực kỳ lãng mạn. Nếu Nguyễn Khuyến trầm tư với màu thu thì Hồ Xuân Hương lại cười cợt nhân gian; khi Bà Huyện Thanh Quan hoài cổ để đeo sầu thì Bùi Giáng lại bỏ mặc nhân thế trong cái ta bà mộng mị. Mỗi người một vẻ hay trong phong thái. Trên bình diện ngôn ngữ cũng tương tự. Thơ Đường đẹp trang trọng với những ước lệ ngôn từ thì thơ hậu hiện đại tung tẩy những con chữ đời thường. Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng… mỗi người sở hữu một thứ ngôn ngữ riêng nhưng đều rất… thơ .

Thơ hay có thể đến tình cờ với một số thi sỹ trong khoảnh khắc đốn ngộ, xuất thần… Nhưng đa số các nhà thơ có được thơ hay qua quá trình tu luyện, tích lũy kiến thức phong phú, một hành trình bới tìm “vỉa quặng” của tâm hồn, đợi đến khi chín muồi, cảm xúc sẽ chợt nhòa chợt hiện và nhà thơ, viết với tất cả choáng ngợp của mình. Sự choáng ngợp mê man của tác giả rồi sẽ lan truyền đến người đọc. Tưởng như, nhà thơ gặp bài thơ hay giống như người toạ thiền trong quả chuông ánh sáng, hoặc cảm giác như kẻ thoát xác; tưởng như nhà thơ lúc đó là kẻ lạc vào rừng rậm, chỉ nhìn nhanh được những hình ảnh lớn, trực diện, còn những cây dương xỉ, con sóc, con sâu nhỏ bé, hoặc cả những vỉa ngầm… dành lại cho người đọc hình dung. Đúng như Octavio Paz đã viết “Thơ ca là khoảnh khắc ngừng lại của thời gian”. Tầm vóc của thi sỹ chính là khả năng khái quát, biến những hình ảnh quen thuộc thành biểu tượng thi ca, tiên tri cả thời đại đang đến. Hình ảnh con ngựa trong đêm tối trong bài thơ “Con ngựa đen” của Joseph Brodsky viết năm 1961, (Hoàng Ngọc Biên dịch) là bóng dáng thế kỷ chúng ta đang sống. Nhà thơ đã nhìn thấy những hiểm hoạ đến với loài người, như chiến tranh, bệnh tật huỷ diệt hàng loạt, xung đột sắc tộc, tôn giáo… Bài thơ là một tiên báo: con ngựa đen “chờ đợi trong chúng ta đứng dậy một kỵ sĩ”.

Thơ hay, cuối cùng còn tuỳ khả năng đồng sáng tạo của người đọc. Phần lớn bạn đọc đều bị động trước các văn bản thơ, tức chờ bài thơ đi vào lối mòn thẩm mỹ của mình để đồng cảm đồng điệu mà ít có ý thức vươn tới giá trị của thi ca, không chuẩn bị nhập chung hai luồng ánh sáng cùng rọi trên một điểm. Nếu có thơ ca tinh tuyển thì cũng cần có cách đọc tinh lọc. Đó là cách đọc dám từ bỏ mọi thói quen cũ, sẵn sàng đến với những giá trị mới một cách bình tĩnh, công bằng; thái độ lắng nghe thơ chuyển động dĩ nhiên quan trọng, nhưng lắng nghe chính mình càng quan trọng hơn.

Pablo Neruda than thở rằng thơ đang dần bị thu hẹp vào vương quốc  của riêng nó, rằng bây giờ chỉ có các nhà thơ đọc nhau. Nhưng tôi tin, thơ sẽ hay hơn nếu chúng ta biết đón chờ những giá trị mới bằng một tâm thế mới. 

 

 

 

TRẢ LỜI PHỎNG VẤN

 

5 PHÚT VỚI MAI VĂN PHẤN

(Lưu Diệu Vân thực hiện)

 

Nhà văn Kate Chopin đã nói: “Thức tỉnh vẫn là điều tốt nhất, dù ta thức để gánh chịu nỗi thống khổ, còn hơn ở mãi trong sự lừa mị của ảo tưởng.” Mỗi ngày, nhà thơ Mai Văn Phấn đều thức dậy với những giấc mơ trong khóe mắt. Giấc mơ của nhà thơ là chất xúc tác dẫn đến sự thức tỉnh, và những dòng chữ anh viết là phương thuốc xoa dịu nỗi đau. Không còn chỗ cho sự dối trá ở đời sống này.

 

– Bản năng gốc của thơ là…
– bệnh trầm uất

 

– Nỗi buồn trải nặng trên bộ phận nào của nhà thơ?
– không, toàn thân nhẹ bỗng, muốn cất cánh

 

– Nhà thơ cảm thấy nhu nhược khi phải đối diện với…
– vẻ đẹp quá sức tưởng tượng (chịu đựng) của mình

 

– Mỗi người chỉ có một lần cơ hội
– chết như một nhà thơ

– Một nghịch lý nhà thơ đang tôn thờ
– ý nghĩa của Thi ca

 

– Ngôn ngữ là phương tiện của
– sự bất lực và giả dối

 

– Sự bất tận có thể so sánh với…
– ngu lâu dốt bền

 

– Một bằng chứng huy hoàng của sự thất bại trong đời sống tâm linh của nhà thơ
– thấy mình thành thần tượng

 

– Sự dốt nát của con người được biểu lộ qua hành động
– “quay vái lạy chiếc áo vừa treo lên giá” (thơ MVP)

 

– Chu vi phòng thủ của sự chết nằm ở …
– đường bao của sự kiêu hãnh được dát ra mỏng nhất

(Nguồn: damau.org)

 

   

SÁNG TẠO LÀ MỘT CUỘC VONG THÂN

(Nhà văn, nhà báo Anh Thơ thực hiện)

 

– PV: Xin được bắt đầu cuộc trò chuyện từ phía anh, người làm thơ với một số suy nghĩ về thơ. Trước thực trạng thơ in tràn lan nhưng rất ít người đọc, anh bắt đầu từ những lo âu hay hy vọng?

 

– MVP: Thơ ca thường được coi là ngôi đền thiêng cho người làm thơ, nhưng thực ra là cái chợ cho người đọc. Nhiều người xưa nay nhầm lẫn hoặc ngộ nhận về điều này. Với mỗi người làm thơ, điều quan trọng là biết lạnh lùng với chính bản thân mình, dũng cảm nhìn lại một cách trung thực và chính xác, biết mình là quầy hàng khô hay anh chữa khoá trong một cái chợ. Người làm thơ cũng phong phú như thơ vậy. Sự không cần biết mình nhiều khi lại giúp họ vững tin mà tự đầy đoạ trên con đường hành xác. Và cũng có người đến được đích đấy chứ. Hãy coi như họ đang làm một cuộc chơi. Còn lành mạnh hơn nhiều so với một số trò chơi khác (đôi người có quyền chức, có nhiều tiền lại chơi rất dại!). Đã qua rồi cái thời ai cũng cần phổ cập thơ ca. Trong xã hội văn minh, mọi quan niệm dĩ nhiên phức tạp hơn, thơ ca là mối tương đồng với từng cá thể, là nhu cầu không thể thiếu được với những người quan tâm đến nó. Theo tôi các khuynh hướng sáng tác ngày càng đa dạng hơn, đó là sự phát triển tất yếu và hết sức bình thường của đời sống văn học.

 

– PV: Trong thập niên vừa qua, văn xuôi tạo được vị trí khá vững vàng trong đời sống văn học nước nhà, trong khi ấn tượng về thơ còn mờ nhạt. Anh nghĩ gì về điều này?

 

– MVP: Khái niệm “mờ nhạt” vừa nêu cho tôi biết chị đã đọc thơ theo quan niệm nào. Thơ ca quả thực không nhiều tính trực giác như văn xuôi nên rất khó cảm nhận. Nếu người đọc không tự mở cho mình những khoảng không (ý muốn nói tới những quan niệm không bị áp đặt) thì rất khó đến với những cá thể mang nhiều bất ngờ. Cá thể sáng tạo luôn phát ra những thông tin nhằm định hình các khuynh hướng, cụ thể hơn là bản chất của sáng tạo là áp đặt [quan điểm thẩm mỹ của người sáng tạo lên người thưởng thức].

 

– PV: Trong một lần trả lời phỏng vấn, anh nêu khái niệm “Sáng tạo là quá trình vượt thoát khỏi cá tính”, xin hãy giải thích và dẫn dụ những lần “vượt thoát” của anh.

 

– MVP: Thật kinh hãi khi phải ngắm nhìn một nghệ sỹ cứ đứng mãi một chỗ mà biểu diễn quá nhiều lần một tiết mục tới gần như vô cảm, nói cách khác là thương hại những ai thâm canh triền miên trên một mảnh đất đã cỗi cằn. Quá trình vượt thoát khỏi cá tính chính là quá trình vong thân. Với cá nhân tôi, quá trình vong thân là khoảng cách giữa những giai đoạn tạm ngừng sáng tạo. Đó là quãng thời gian đông cứng, vô nghĩa nhất. Tôi từng cảm giác bị nhấn chìm trong sự trống rỗng, trầm cảm, thậm chí bi phẫn… Nhưng trạng thái ấy đã giúp tôi tìm được cách vượt thoát. Sau mỗi lần vượt thoát, có cảm giác mình vừa may mắn tỉnh ngộ, tái sinh, hay được đầu thai vào một thân xác khác.

 

– PV: Quá trình vong thân thường đồng hành với quá trình đổi mới và cách tân. Xin anh “bật mí” đôi điều về thơ mình.

 

– MVP: Thơ ca càng ảo bao nhiêu càng đem lại sự chân thực bấy nhiêu. Đó là cách gọi ra phần cảm chứ không phải làm rối tung ý tưởng lên. Trong hình học phẳng, nếu nhìn trực diện một chiếc hộp ta chỉ thấy nó là hình vuông hay chữ nhật gì đó. Còn trong hình học không gian, kết nối với những hình vuông hay chữ nhật trực diện là những hình thoi hay rải chấm mờ. Nói đơn giản hơn, hiện thực trong thơ được hiện hữu trên một “mặt phẳng cong”. Không gian ấy rộng, giúp người viết đồng hành được với quá khứ, hiện tại và tương lai đa chiều và đa tầng. Nhà thơ khi viết, không nên bận tâm viết cho ai mà chỉ nghe trái tim mình run rẩy với cảm xúc chân thành theo một quan niệm riêng.

 

– PV: Thơ anh trước đây kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, giờ đã được cách tân toàn triệt, tạo ra một giọng điệu riêng biệt. Cách tiếp cận của anh với từng bài thơ hiện nay có gì khác?

 

– MVP: Quan niệm về tính truyền thống tôi sẽ bàn với chị sau. Tôi hiện vẫn là tôi, chỉ có trong một nhịp điệu khác. Vẫn như đến với những bài thơ đầu tay, đầu tiên là tôi nhìn thấy tứ thơ cứ lung linh trước mặt, rất khó gọi tên và mô tả cụ thể. Khó nhất là viết câu đầu tiên, giống như máy bay phải tìm cách tiếp đất cho thích hợp. Hạ cánh trật đường băng coi như hỏng. Mỗi bài thơ tôi quan niệm là một dự phóng, một kinh nghiệm riêng biệt. Ví như hình ảnh cụ thể của bông hoa, con sóng, bước chân… chỉ mang đến cho một bài thơ một kinh nghiệm cụ thể rồi vĩnh viễn biến mất. Không cần chuẩn bị bởi không phải mang theo thứ gì trong hành trình sáng tạo. Thế vào đó là sự hé mở một không gian riêng biệt, ngỡ có ai vừa buông tay đẩy mình ra đường rộng, gặp cả những vô lối của thi pháp / phi thi pháp. Nói cách khác, tôi được bài thơ dạy lại mình cách viết.

 

– PV: Sau khi một số tác phẩm gần đây của anh được công bố, đã xuất hiện những ý kiến phản bác quyết liệt. Anh nghĩ gì về điều nay?

 

– MVP: Được nhiều người đọc, đó là hạnh phúc đối với một người viết. Nhưng một bài thơ mà ai cũng khen có khi lại là một sản phẩm chạy theo mốt thời thượng. Còn khám phá một vỉa theo một phong cách riêng nào đó, thì càng lên cao đỉnh của nó càng gần với hình chóp. Như vậy diện tiếp xúc của nó sẽ ít đi. Nếu được là một tài năng, tôi dám thách thức không chỉ với người đọc đương thời mà còn tự tin tuyệt đối với mọi thời đại.

 

– PV: Anh phân biệt thế nào giữa bản năng và ý thức của một nhà thơ?

 

– MVP: Rất nhiều những bóng dáng đang loay hoay nằm ì trong bản năng với vẻ mặt coi thường học vấn. Tình trạng này bắt nguồn từ một tập tính (một số người tưởng là một khả năng) được nuôi dưỡng từ cái gọi là văn hoá Trạng theo kiểu Trạng ăn, Trạng ngủ, Trạng vật… Văn hoá trạng cũng tốt, thậm chí rất tốt nữa trong đời sống cộng đồng. Nhưng để có những sản phẩm tinh thần tầm cỡ trong các cuộc kiểm kê ở bình diện nhân loại, thì những tác phẩm ấy phải được phóng chiếu từ nền Văn hoá Hàn lâm. Văn hoá Hàn lâm vừa biết mọc rễ cái vào tinh thần dân tộc và mọc rễ chùm vào cánh rừng văn hiến năm châu.

 

– PV: Một câu hỏi cuối cùng. Anh quan niệm thế nào về tính truyền thống?

 

– MVP: Truyền thống không chỉ đơn thuần là sự kế thừa, nó cũng liên tục là những cuộc vong thân. Nói cách khác, đó là quá trình sáng tạo để tìm đến những giá trị cao hơn mang tính dân tộc. Bằng những quan niệm tiên tiến, đổi mới quyết liệt trong cách tiếp cận vấn đề, hoà đồng với hơi thở của đời sống đương đại, mỗi nhà thơ như vậy đều có trách nhiệm làm phong phú tính truyền thống.

 

– PV: Cảm ơn anh!

(Nguồn: Báo Hải Phòng Cuối Tuần, 1/2000)

  

 

 

CREATION WAS A PROCESS OF ESCAPE FROM PERSONALITY

(Poet Mai Van Phan interviewed by Hai Phong Weekend Journal, Issue No 4(566), January 30th, 2000)

 

Reporter: Let’s begin the conversation from your side first, a poet with some thinking about poetry. In face of a situation where poetry was largely printed but little people read it, would you begin with worries or hopes?

Mai Van Phan: Poetry used to be seen as a sacred temple for poetry writers, but in fact it was a market for readers. So far many had mistaken or misunderstood this point. For each poetry writer, the important thing was to be cold with oneself, to courageously look back in a truthful and accurate way, knowing oneself as being a grocery shop or a locksmith at the market. Poetry writers were as abundant as poetry itself. The fact of self-ignorance often made poets more confident in their self-oppression and humiliation on the road of self-torture. And some had been able to reach the target, hadn’t they. Just consider them as playing a game, which was much more healthy compared to some other games (a few people having power, title and money had played quite foolish !) In Vietnam, the time where everybody was in need of poetry and songs had gone. All concepts were of course much more complicate in a civilized society, poetry and songs being in agreement with each individual, an inevitable need for those who were concerned. In my opinion, creation trends became more and more diversified, and that was an indispensable development while it was quite normal in the literary life.

Reporter: In the past decade, prose had created a rather firm position in our country’s literary life while the impression on poetry faded away.  What do you think of it?

Mai Van Phan: The “fade away” notion you just said made me understand you had read poetry from what conception. It was true that poetry didn’t bear much intuitive character like prose, therefore it was very difficult to feel it. If the readers failed to open spaces for themselves, (I mean those concepts which were not imposed) it would be very difficult to reach individuals with the unexpected. Creative individuals constantly emitted information meant to implant various trends, to be more concrete, the nature of creation was itself an imposition.

Reporter: Once in an interview you raised the concept “creation was a process of escape from personality”, please explain and quote those cases of your own “escape”?

Mai Van Phan: It was frightening when you had to gaze an artist who continuously stood in one place and performed many times an item to the point it almost became insensitive, in other words you would feel pity for those who interminably carried out intensive farming on an exhausted plot of land. The process of escape from personality was that of self-negation itself. For me personally, the process of self-negation was the distance between stages where I temporarily interrupted creation works. That was the most meaningless and frozen period. I had the sensation of being sunk into emptiness, emotional stagnation, even bitter disappointment…These states helped me find the way to escape. After each escape, I had the impression I was just lucky awake, regenerated, or reincarnated into another body.

Reporter: The process of self-negation used to come along with that of renovation and renewal, would you please “reveal” something about your own poetry?

Mai Van Phan: The more poetry and songs were imaginery, the more they brought in truthfulness. That was the way to call out the sensitive part, not to make ideas intricately tangled. In plane geometry, if you looked straight at a box, you could only take it as a certain square or rectangle. But in solid geometry, if connected to squares or rectangles on the front side, they might be lozenges or scattered dim dots. Simply speaking, reality in poetry was present on a “curved plane”. That space was large, helped the writer go in company with the past, the present, the multi-dimension and multi-layer future. When writing, the poet shouldn’t worry of writing for whom, but to hear only one’s heart tremble with heartfelt emotions from personal concept.

Reporter: In the past your poetry cleverly combined the traditional and the modern, now it had been completely renewed and created a distinct tone.  Was there any difference in your approach to each present poem?

Mai Van Phan: About the concept of traditional character, I would discuss it later. I had always been myself in another rhythm. It was always like coming to the first poems. First I saw an idea that kept sparkling before me, very difficult to name it and describe it concretely. Most difficult was to write the first sentence. It was like an aircraft trying to land properly. Landing off the runway would be seen as gone bust. Each poem I conceived was an anticipation. There was no need to prepare anything because nothing had to be brought along. In place was a half-open particular space, it seemed someone just knocked off and pushed me out on a large road where I would meet the unreasonably stunned prosody of…non-prosody. In other words, the poem itself taught me the way to rewrite it.

Reporter: Was it that prosody renewal meant to change the form first, then the content next? Where did you start?

Mai Van Phan: I didn’t conceive the relation between content and form as similar to alcohol and the vase, or to body and clothing…In art, precisely in poetry and songs, the reality of life, a lightning from the past…written and rewritten many times without causing aberrance to the content, was only in state of material, not yet the content of true artistic character. In fact, the content was material having borne a defined form while the form never existed independent from its own content. The form was true when the change of form also made the content change, and the reverse would only be counterfeit form. The content itself was a converting process of form to content.

Reporter: After that some of your works were published recently, a lot of opinion had strongly refuted them. What do you think?

Mai Van Phan: To have many readers would make a writer happy. But a poem being praised by everybody might sometimes be a product running after a mode in vogue. On the contrary, to discover a layer according to certain special style, the more it came to the top the more it would be close to a pyramid. Thus its area of contact would be reduced. If I were a talent, I would dare challenge not only the contemporary readers.

Reporter: How do you make the difference between instinct and consciousness of a poet?

Mai Van Phan: There had been many figures who were at pains and lied inert in their instinct with a look of little regard for knowledge. This kind of situation originated from a behaviour (some thought it as ability) that was nurtured from what was called Laureate Culture in the design of Eat Laureate, Sleep Laureate, Wrestling Laureate… Laureate Culture was good too, even very good in the community life. But in order to have spiritual products of large calibre at the level of mankind inventory, these products should be projected from an Academic Culture. Academic Culture would be at the same time wise, knowing how to grow its main root into the national spirit and its fasiculate roots into the cultural forest of five continents.

Reporter: A last question, how do you conceive the traditional character?

Mai Van Phan: Tradition was not merely inheritance. It also was continuous like the cases of self-negation. In other words, it was a creative process to reach higher values of national character. By advanced concepts, drastic renovation in the way of approaching problems, to mix with the breath of contemporary life, each poet of that kind would have the responsibility to enrich the traditional character.

Reporter: Thank you.

Translated by Do Xuan Oanh

(Đã đăng báo Poetry Kit – Anh Quốc)

 

 

TRẢ LỜI BÁO VĂN NGHỆ (1/2004)

(Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thực hiện)

 

 

– PV: Các tác phẩm tiêu biểu của nhà văn xuất hiện sau 1975 cần có mặt trong sách giáo khoa? Anh lý giải sự thiếu vắng này?

 

– MVP: Tôi đã nêu ý kiến này trên báo Văn Nghệ trước Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VI. Theo tôi có rất nhiều nguyên nhân. Tôi thoáng thấy đây những mắt xích trong cái “vòng luẩn quẩn”: Nhà văn – Người biên soạn sách giáo khoa – Người dạy văn – Người học văn –  Nhà quản lý … Mỗi người hãy chịu lấy một phần trách nhiệm trước lịch sử. Trước hết cần nói, hệ thống lý luận hiện nay quá kém, không theo kịp sự phát triển và định hình của văn học đương đại. Năm 1975 là mốc lịch sử quan trọng, đặc biệt là bước ngoặt, giai đoạn khởi phát mới mẻ của văn học nước ta. Trước đó, văn học cũng như các lĩnh vực nghệ thuật khác, đều  tập trung để đánh giặc. Tôi nhớ mãi câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết trong giai đoạn này :”Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang giấy luận văn chương”. Khi dân tộc giành được độc lập, mỗi nhà văn là cá thể sáng tạo riêng biệt. Văn học, thực chất không bắt chúng ta co cụm lại mà giúp chúng ta tản ra. Mỗi nhà văn có trách nhiệm chăm chút cái riêng biệt khi “tản ra” ấy để làm phong phú, phồn sinh cho cả cộng đồng. Điều kiện mới đã tạo một nền văn học đa tầng và đa phương. Do vậy, nếu đem lối tư duy cũ, hệ thống lý luận cũ áp đặt cho thực tế văn học phong phú như hiện nay là hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm. Do sự xuất hiện của những quan niệm thẩm mỹ  mới, sự phát lộ những phong cách riêng biệt/ khác hẳn, sách giáo khoa môn văn học ngày càng đẩy xa khoảng cách giữa nhà văn và người đọc trẻ. Nói thật công bằng, loại trừ những giá trị thấp kém của một số tác phẩm mang những căn bệnh cố hữu (thời nào chả có!), các tác phẩm tiêu biểu của nhà văn xuất hiện sau 1975  cần có mặt trong sách giáo khoa, nhằm phản ánh trung thực đời sống tinh thần dân tộc trong giai đoạn lịch sử nhất định. Cũng có ý kiến cho rằng, phần lớn tác phẩm của nhà văn sau năm 1975 mới ở dạng thể nghiệm(!) Dĩ nhiên không phải như vậy. So với những môn học khác như toán học, vật lý, hoá học… vẫn có những thí nghiệm của các nhà khoa học ở dạng thể nghiệm, nhưng chúng vẫn được đưa vào chương trình trong các nhà trường. Những thí nghiệm ấy có thể vĩnh viễn chỉ là những thí nghiệm, nhưng nó có tác dụng gợi mở cho thế hệ sau tìm đến với chân lý, tiết kiệm được thời gian và chất xám của loài người trên con đường đến với văn minh. Một nguyên nhân nữa từ chính trong các nhà trường: người dạy văn truyền đạt mãi một quan niệm cũ đã đến mức vô cảm, còn người học, sau khi rời ghế nhà trường vẫn thấy khoảng trống mơ hồ nào đó chưa được bù đắp. Nhưng họ đã im lặng hoặc lên tiếng vào im lặng. Phải chăng, đấy là thái độ thiếu trách nhiệm với thế hệ kế tiếp của mỗi “mắt xích” trong cái “vòng luẩn quẩn” như tôi vừa nói. Một việc lớn mang tính thời sự giờ được bàn bạc nghiêm túc. Đó cũng là tín hiệu đáng mừng và may mắn cho con cháu chúng ta. 

 

  

   

TRẢ LỜI BÁO VĂN NGHỆ (10/2008)

(Nhà thơ Trần Vũ Long thực hiện)

 

– PV: Cách đây mấy tháng, anh có thông báo tạm ngừng hoạt động diễn đàn văn chương maivanphan.com khiến mọi người bất ngờ, bởi website này đang thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu văn chương. Trong mấy năm gần đây xuất hiện cụm từ văn học mạng, về nó đã có nhiều bài viết, những cuộc hội thảo… Với tư cách một người quản lý website, anh cho biết khoảng cách giữa văn học mạng và văn học được công bố qua sách báo? Cá nhân anh nhìn nhận vấn đề này thế nào?

 

– MVP: Internet là phát minh thuộc hàng kỳ diệu nhất trong thế kỷ qua, đã mở toang mọi cánh cửa, kể cả những vùng mờ hoặc bí mật từng bị giấu nhẹm… Nhưng do con người quản lý và trực tiếp tác động, nên Internet cũng hàm chứa không ít những phiền nhiễu, khuất tất, ám muội… Website maivanphan.com khởi đầu rất thuận lợi, có số lượt người truy cập ngày càng tăng. Nhiều tác giả trong và ngoài nước, nhất là các bạn trẻ đã hào hứng tham gia những tác phẩm mang tinh thần cách tân. Tuy maivanphan.com là website văn học thuần túy nhưng đã bị hacker tấn công dữ dội bằng mọi cách đúng lúc nó đang phát triển mạnh. Tôi đang cố gắng tìm biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để website có thể hoạt động trở lại. Văn chương trên mạng đúng nghĩa là cái chợ dài vô tận với đủ hàng hóa dành cho mọi đẳng cấp người tiêu dùng. Hiện nay có sự nhầm lẫn tai hại khi khái niệm “văn học mạng” được dùng để biểu thị thái độ coi thường đối với thứ sản phẩm viết lách ba lăng nhăng, hoặc chỉ để giao lưu, tìm bạn… Sau cú “nhắp chuột” tưởng chừng quá dễ dàng với bất kỳ ai muốn công bố tác phẩm, việc khẳng định hoặc bảo vệ được “thương hiệu” trên mạng cũng khắc nghiệt như công bố qua sách báo. Với một tác phẩm văn học, theo tôi, dù công bố ở đâu, dưới hình thức nào, thì giá trị đích thực của nó vẫn phải được thẩm định qua mọi khắc nghiệt của thời gian. Đôi lúc việc đăng đàn quá dễ dàng đã tạo ra cái bẫy chờ sẵn các tác giả thiếu bản lĩnh, nhất là những người sớm tự tin trên con đường chông gai này. Những tác phẩm kém chất lượng lỡ công bố trên mạng, cũng gây tác động tương tự như các sản phẩm tồi in trên sách báo, và ngược lại không nên nghĩ rằng được in trên sách báo là một đảm bảo chất lượng văn chương. Ngay một vài website văn học có uy tín hiện nay, không phải lúc nào cũng trụ được ở hạng đẳng cấp. Do vậy, điều cốt tử với mỗi người cầm bút, dù công bố tác phẩm bằng bất kỳ hình thức nào, ở đâu, vẫn phải đặt ra những vấn đề muôn thuở, như tầm văn hoá, trách nhiệm nghệ sỹ, tư cách công dân, tính chuyên nghiệp v.v…

 

– PV: Là người luôn động viên, cổ xuý cho các cây bút trẻ, anh nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng các cây bút trẻ quá đề cao cái tôi của mình, nên sáng tác của họ bị bó hẹp, tủn mủn… thiếu đi hơi thở thời đại, thiếu trách nhiệm xã hội?

 

– MVP: Tôi luôn tin vào một số cây bút trẻ. Từ “lực lượng hùng hậu” đang tạo ra những tác phẩm nhạt nhẽo, phản cảm, bệnh hoạn… đã thấp thoáng những gương mặt khác biệt và đủ tự tin khiến bạn đọc hy vọng. Thời gian trôi qua, để lại cho chúng ta rất ít những tên tuổi thi sỹ. Thử nhớ lại những gương mặt chen chúc trong những đêm thơ ở những thập kỷ trước, giờ còn lại mấy người? Mỗi thế hệ mang một ý thức hệ và có cách lập ngôn riêng. Nếu quá tự tin vào những quan niệm có sẵn, có lẽ chúng ta thành những người xa lạ với thế hệ trẻ và suốt ngày ta thán họ về những khó hiểu, xa lạ, bất cập… Giống như trong một gia đình hiện nay, chúng ta sẽ không dễ dàng “làm bạn” được với con cái, nếu chỉ bằng những kinh nghiệm thời trẻ của mình. Các tác giả trẻ hiện đang phản ánh cái đa tạp, thậm phồn của đời sống đương đại, trong đó họ muốn biểu hiện cả cái tôi cô đơn, đau đớn, hốt hoảng trước cái Ác, cái tiêu cực đang va đập trong vận động của văn minh “nút bấm”. Cái tôi ấy, theo tôi nếu được khám phá ở mức độ sâu sắc và mãnh liệt, được thanh lọc thông qua bản lĩnh văn hoá của chính người viết, sẽ là điểm gặp gỡ những điều lớn lao mà xã hội, thời đại đang trăn trở.

 

– PV: Nhiều nhà thơ trẻ đã vận dụng hầu như tất cả các trào lưu hiện đại của thế kỷ XX, từ thơ siêu thực, thơ tượng trưng, thơ ngôn ngữ… đến thơ trình diễn, thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại… Anh nhìn nhận các khuynh hướng đó thế nào?

 

– MVP: Các khuynh hướng đều xuất phát từ nhu cầu sáng tạo của mỗi cá thể, góp phần làm phong phú thêm cho nền thi ca chúng ta. Cần để các cây bút trẻ thử sức trong mọi khuynh hướng phù hợp. Muốn tìm hiểu hệ thống lý luận của mỗi trào lưu, phải  hiểu hoàn cảnh ra đời (lịch sử- xã hội- văn hoá…), những vấn đề về tâm lý sáng tạo… Và tôi thấy rằng, các khuynh hướng thơ ca tác động từ thế giới chỉ đóng vai trò gợi mở mà thôi. Tôi đang chờ đợi và khao khát một trào lưu thơ Việt hiện đại, thuần Việt hiện đại, không bị bất kỳ một bóng râm của một nền thi ca ngoại lai nào chập chờn, che phủ.

 

 

 

NHÀ THƠ NÓI VỀ THƠ TÌNH

(Nhà thơ Trần Tiến Dũng thực hiện)

 

Thời thanh niên ông đã yêu bài thơ tình nào? Nếu ngay lúc này, trở lại tuổi mười tám và người yêu của ông muốn nghe ông đọc một bài thơ tình, trong những bài thơ tình ông biết (sau thời kỳ tiền chiến) ông chọn bài nào?

 

– MVP: Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê hẻo lánh châu thổ sông Hồng (1955). Những gì có thể gọi văn chương tôi biết được chỉ vẻn vẹn những bài trong sách giáo khoa phổ thông và một vài cuốn sách hiếm hoi. Thời ấy, chúng tôi thường ngâm ngợi hai bài thơ nổi tiếng là “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao. Cả hai bài đều kể chuyện người yêu bị giặc giết và người con trai biến căm thù thành sức mạnh tiêu diệt địch. Mọi người có đọc thơ tình của Xuân Diệu, nhưng tôi không thích lắm. Nếu trở lại tuổi mười tám (với tình cảm của người đàn ông chớm tuổi năm mươi như bây giờ), tôi sẽ cố gắng tìm đọc thêm nhiều những bài thơ thuần khiết về thiên nhiên. hãy để cho thiên nhiên thêm một lần nữa dạy lại cho chúng ta cách yêu.

 

Giả sử một ngày mai ông đối diện với ba sự kiện — Thứ nhất: Người yêu muôn thuở bước ra từ giấc mơ. Thứ hai: Cuộc cách mạng nhân văn. Thứ ba: Người ngoài hành tinh mời ông đi du lịch một chuyến. Trong ba sự kiện, chỉ được phép chọn một. Ông chọn sự kiện nào để làm bài thơ lớn của đời ông? Tại sao?

 

– MVP: Tôi chọn cả ba nhưng xếp theo thứ tự sau: Cuộc cách mạng nhân văn – Người yêu muôn thuở bước ra từ giấc mơ – Người ngoài hành tinh mời đi du lịch vũ trụ một chuyến.

 

Ông có tin một bài thơ tình biết phản bội không? Ông có từng rơi vào trường hợp bị một bài thơ tình đưa vào cảnh trớ trêu, thậm chí vì một bài thơ tình nào đó mà ông bị em đá đít không? Ông có nghĩ hiện nay mọi người đang có nhu cầu đọc thơ tình thuần khiết không?

 

– MVP: Thế nào là “thơ tình thuần khiết”? Không nên tiêu chuẩn hóa thi ca. Thơ/thơ tình giống như “cái chợ”. Người chọn thơ cũng giống như người “đi chợ”. Thi sĩ đích thực là người phải biết làm ra những bài thơ/thơ tình biết phản bội mình. Nghệ sĩ là người liên tục vượt qua những cuộc “vong thân” để hoàn thiện mình. Tôi chỉ có thói quen làm thơ tặng người mình đã yêu. Với tôi, thơ tặng người chưa yêu mình là thứ thơ “tán gái”.

 

Một quan niệm chung cho rằng cái đẹp tình yêu và những bài thơ viết về tình yêu là bất biến. Ông có cho rằng trong 10.001 năm nữa thơ tình chẳng cần thay đổi? Rằng mặc kệ các thời đại, không cần phải đưa chất liệu mới vào thơ tình? Ngày mai ông có tin rằng con ông sẽ đọc cho người yêu nghe thơ tình của ông hoặc bài thơ tình mà ông đã thích?

 

– MVP: Cái đẹp tình yêu là mục đích để con người vươn lên sự hoàn thiện, không phải là khái niệm bất biến. Một quan niệm được cho là cao đẹp hôm nay, nhưng dưới hệ quy chiếu của ngày mai có thể là … “dã man “. Tôi hy vọng nhiều vào việc con người trong tương lai có đủ thời gian và tâm thế để đọc những bài thơ tình. Nếu có, có thể phải là những thông điệp thật ngắn gọn và súc tích.

 

Cũng là ánh mắt, ngôn ngữ, cử chỉ, hoa hồng, trong không gian tràn ngập cảm xúc hoa hồng… một bài thơ tình điên điên cất lên. Ông có nghĩ là thiếu văn hoá, là đáng bị em cho là đồ yêu quái rồi “bái bai”…? Hay ông cho đó là liệu pháp cảm xúc chống lại bệnh não hoá biểu tượng tình yêu? Ông có làm thơ tình khùng, hay từng đọc tặng người yêu mình bài thơ khùng của ai khác không? Ông có thể bộc bạch cảm xúc nghệ thuật không kềm giữ của ông với bạn đọc không?

 

– MVP: Tình yêu cần sự giản dị, chân thành, cao cả. Yêu mà trở nên “điên điên khùng khùng” (trong con mắt người thường) thì nên sớm đưa vào nhà thương điên để tránh hậu họa. Không nên lãng mạn hóa một loại cảm xúc thiếu lý trí đến thế.

 

Trên đỉnh cảm xúc lãng mạn của một đôi tình nhân trẻ. Nếu được phép nghe lén (trừ lúc lên giường) ông cho rằng sẽ nghe được gì?

 

– MVP: Sự im lặng!

 

Nếu một chàng trai 18 tuổi nào đó, như mọi chàng trẻ tuổi trên đời, bỗng một hôm bị cái đẹp tính dục quyến rũ không cưỡng được. Anh ta muốn làm bài thơ “hai trong một” tình yêu và tính dục. Bỏ qua lời khuyên “anh hãy giấu trong cõi riêng”. Ông sẽ nói gì với chàng trai ấy?

 

– MVP: Hãy đi đá bóng/banh hoặc vào bể bơi.

 

Xin cảm ơn sự cộng tác của ông.

 

(Nguồn: tienve.org)

  

 

… NHƯ CỞI BỎ GIÀY DÉP TRƯỚC KHI VÀO NHÀ

(Nhà báo Hiến Văn thực hiện)

 

– PV: Anh nghĩ thế nào về mối quan hệ giữa nhà thơ và công chúng? (Ở ta bây giờ ai lệ thuộc ai?)

 

– MVP: Nhà thơ và công chúng là sinh thể hoàn thiện của thơ ca. Là Em và biển/ Tàu bay giấy và con/ Vầng trăng và con đường/ Hát giữa hai mùa/ Tôi với mọi người… (tên những bài thơ của MVP, HV!). Có người quan niệm nghệ thuật là cuộc chơi đơn lẻ, mục đích tối thượng là khám phá những bí ẩn, khao khát cá biệt. Nói như vậy đúng một nửa, còn lại rơi vào cực đoan, phiến diện, có phần làm dáng. Khi viết, nhà thơ duy nhất đối diện với những kỳ diệu mà Thi ca ban tặng. Nhà thơ hồi hộp thấy tứ thơ xuất hiện giống con tàu vũ trụ đang tìm cách đậu xuống mặt đất. Nó mang trong mình nhiều dữ liệu bí mật vừa khám phá. Thi sỹ dụng chữ như điều khiển những con “âm binh” để gọi đúng tên, tạo lập sống động thần vía của sự vật mới lạ. Sáng tạo đồng nghĩa với khai sinh một thế giới riêng biệt. Người viết lúc đó cảm giác không ai ở bên mình. Mọi kinh nghiệm, vốn liếng tích lũy được đều ở rất xa. Nhà thơ khi viết còn giống như bà mẹ lâm bồn. Lúc vượt cạn, không ai muốn mời hàng xóm đến ngay nhìn đứa con mình ra đời thế nào. Nhưng qua những giây phút khó nhọc, mọi người mẹ đều muốn con mình được tự tin trong trời rộng, được đắm mình cùng thiên nhiên và mọi người. Cái nửa không đúng kia là khi không sáng tác, hay tạm gọi là phải đi qua những bóng tối, thì công chúng sẽ làm phong phú thêm cho những chiêm nghiệm của nhà thơ. Dù bất kỳ lời nhận xét nào của công chúng cũng đem đến một nhận thức thú vị, mở những cánh cửa vào không gian vô tận. Đã đến lúc, những người cầm bút, người đọc, người quản lý cần bình tĩnh nhìn lại cách đánh giá tác phẩm nghệ thuật, không nên lấy sở thích của đám đông làm thước đo cho những tài năng. Chúng ta hãy nhìn những tác giả được giải Nô-bel văn học, khá nhiều trong số họ có rất ít bạn đọc, nhưng tác phẩm của họ là những cột mốc, bước ngoặt quan trọng trong lộ trình văn học nhân loại.

 

– PV: Anh đánh giá về công chúng thơ ta bây giờ?

 

– MVP: Lịch sử đã khép lại những giai đoạn bi hùng: cả dân tộc làm thơ và đánh giặc. Cuộc sống đương đại làm khởi sắc những diện mạo đa văn hóa, đã phân định ranh giới công chúng yêu thơ hiện nay. Những giá trị đồng nhất đã thành đa diện và phần mảnh, thành khu biệt và giải khu biệt, đa phương và lắp ghép, xóa nhòa giữa trung tâm và ngoại biên… Thơ ca được khởi sắc, hiển lộ trong nhiều khuynh hướng sáng tác, hòa quyện giữa hình thức và cảm xúc trong từng cá thể riêng biệt. Những nhà thơ không có thi pháp thay đổi vẫn phù hợp với phần đông người đọc đã quen với tư duy thẩm mỹ “ổn định”. Còn những người đọc trẻ, có lối tư duy phổ quát, mạch lạc, tốc độ… họ luôn khao khát những giá trị mới lạ phù hợp với đời sống hiện đại.

 

– PV: Thơ đổi mới quá khó hiểu, ngày càng đánh mất độc giả. Như vậy các nhà thơ đổi mới để làm gì?

 

– MVP: Đổi mới thi pháp trước hết nhằm chống lại sự thoái hóa, trơ mòn thẩm mỹ của người đọc, tạo những không gian thơ đa dạng, thiết lập hệ quy chiếu mới trong cách tiếp cận tác phẩm. Sáng tạo là quá trình sản sinh những nhân tố mới, không mô phỏng hay phát triển những giá trị đã định hình, mà tạo sự khác hẳn, biệt lập (đôi khi đối lập) với cái đã được định giá. Người đọc thường mang thói quen tiếp cận tác phẩm, lục soát những gì gần gũi với mình mà ít lắng nghe, khám phá, cầu thị, vươn lên cùng nhà thơ. Những “gần gũi” ấy chính là những khuôn mẫu được đúc sẵn từ trong trường học, những tích luỹ chủ quan, những trải nghiệm văn chương nặng tính truyền miệng, hoặc qua những phương tiện truyền thông một chiều… Hầu như bất kỳ nhà thơ nào cũng biết được thị hiếu của đám đông. Nhưng những ai chỉ để tâm ve vuốt sở thích của đám đông người đó sẽ làm nghèo đi sự phong phú của khu vườn thi ca rất nên sinh động. Mọi người cầm bút đều mong muốn được nhiều bạn đọc chia sẻ, nhưng đấy không phải là cứu cánh của những thi sĩ chân chính. Nhà thơ tạo ra tác phẩm giống như nhà khoa học tạo ra giống cây quý hiếm, phải chờ “thiên thời – địa lợi – nhân hòa” mới gieo hạt được. Ước gì sự ngưng đọng của chờ đợi sẽ xóa hết những quan niệm nhàm chán trong lòng người đọc và tạo sự bất an, thậm chí hoảng loạn để nhà thơ tỉnh ngộ, vượt thoát, sinh ra những giá trị sáng tạo theo đúng nghĩa của nó.

 

– PV: Đổi mới thi ca là việc khó khăn. Nhiều nhà thơ có khuynh hướng cách tân đã chìm dần vào quên lãng. Anh nhìn nhận việc đó như thế nào?

 

– MVP: Nhân danh đổi mới thi pháp, gần đây nhiều bạn viết công bố những thứ phi thơ, phản thơ, tạo cảnh vàng thau lẫn lộn. Đấy cũng là điều dễ hiểu trong mọi cuộc cách mạng thi ca. Người đọc cần có thái độ bình tĩnh để sàng lọc, cũng như các biên tập viên báo chí, các nhà xuất bản cần sáng suốt, có bản lĩnh trước nhân tố mới lạ. Và bản lĩnh của nhà thơ trước hết là biết chấp nhận sự im lặng tạm thời từ phía người đọc. Bóng tối của im lặng chính là ngọn lửa siêu nhiệt, giúp nhà thơ tạo ra những tác phẩm có phẩm chất vàng mười, đủ sức vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt của thời gian.

 

– PV: Các tập thơ Người cùng thời, Nghi lễ nhận tên, Vách nước… và những bài thơ mới viết. Tôi thấy anh luôn khác. Có gọi là luôn đổi mới được không? Hình như mỗi nhà thơ phải định hình một phong cách. Anh đã định hình phong cách cho mình chưa? Cách đọc thơ anh?

 

– MVP: Từ tập thơ đầu tay Giọt nắng đến những bài thơ mới viết… là cách tôi đi từ thói quen truyền thống đến hiện đại. Nói rằng “thói quen”, vì chính những giá trị nghệ thuật mới lạ hôm nay đang dần trầm tích thành truyền thống. Sáng tạo chính là cuộc vong thân, là quá trình phủ định bản ngã. Tôi không có thói quen chiêm bái những con đường cũ của mình. Nỗi ám ảnh tôi ghê gớm nhất là lúc nào đó không còn đủ ý chí và nghị lực để tự phủ định. Với tôi, phong cách của nhà thơ không được đơn điệu, nó giống như cái Ru-bích, một trò chơi của trẻ con, anh muốn xem màu gì xin hãy quay. Nhưng chắc chắn quay chiều nào, cách nào anh vẫn nhận ra diện mạo tinh thần của thi sỹ. Anh hỏi cách đọc thơ tôi? Xin anh vui lòng bỏ lại những quan niệm cũ và mọi thói quen thẩm mỹ trước khi đọc, giống như cởi bỏ giày dép trước khi vào nhà.

 

– PV: Có cái gọi là “Thơ cũ” và “Thơ đổi mới” không? Anh xếp mình vào loại nhà thơ nào?

 

– MVP: Bài thơ tôi vừa viết xong là bài thơ cũ. Tôi là người luôn mới.

 

– PV: Các tác giả thơ trong những năm qua ra sức đổi mới. Nhưng dường như những nỗ lự ấy chưa được công nhận. Bởi công chúng? Bởi các nhà phê bình? Hay bởi những lý do khác? Thơ đổi mới sẽ đi đến đích nào?

 

– MVP: Rất tiếc công chúng không đủ thông tin về những diện mạo của thơ ca đổi mới hiện nay. Thơ đổi mới sẽ đi đến đích nào? Tôi hiểu câu hỏi không chỉ hướng đến cá nhân nhà thơ mà cả những người quan tâm, yêu mến thi ca. Chúng ta có quyền hy vọng một nền thơ Việt nam trong tương lai vừa đa dạng về khuynh hướng, vừa đặc trưng về phong cách. Đã đến lúc chúng ta không thể đọc thơ theo lối cũ, không thể lấy nhà thơ này để xếp loại cho những nhà thơ khác. Trong nghệ thuật phải có tự do tuyệt đối. Hiện nay trừ một số nhà thơ có khuynh hướng cách tân triệt để, thơ chúng ta chậm so với bên ngoài gần một thế kỷ. Nếu so sánh với một số nước châu Á như  Thái Lan, Hàn Quốc… tư duy thi ca của họ vẫn còn xa lạ với khá nhiều người đọc Việt Nam. Chúng ta hiện đang hòa nhập với khu vực và thế giới về kinh tế, còn thi ca thì chưa. Đây là đòi hỏi nỗ lực của cả cộng đồng. Trước hết cần thay đổi quan điểm thẩm mỹ từ trong nhà trường, sao cho con cái chúng ta không bỡ ngỡ trước những giá trị đổi mới.

 

(Nguồn: Báo Người Hà Nội, Tạp chí Phố Hiến)

 

 

MAI VĂN PHẤN, TỪ BÓNG TỐI CỦA IM LẶNG, ĐỔ VỠ…

(Nhà thơ Khánh Phương thực hiện)

Vách nước, tập thơ mới của Mai Văn Phấn là một bất ngờ dành cho bạn đọc: một giọng điệu mới, ngôn từ lạ, một sinh quyển mới, một đời thơ khác trước được thiết lập, dù trước đây anh mới chỉ xuất hiện như một nhà thơ “dễ đọc”, dễ gây thiện cảm . Anh không rơi vào tình trạng chông chênh như một số bạn làm thơ trẻ với những tìm tòi bột phát. Từ tốn, cẩn trọng với một nền tảng xúc cảm có bề dày, bề rộng, Mai Văn Phấn vẫn giành được cảm tình của bạn đọc tại thời điểm trong chính bản thân anh đang diễn ra một “cuộc cách mạng”…  “Một lần lá trôi về lá/ánh trăng không động/Con đường dính chặt/Nhấc lên cùng vó ngựa”.

 

– PV: Một cuộc cách mạng trong sáng tác của bản thân, đó là điều anh tha thiết hướng tới khi cho ra đời tập thơ Vách nước? Động lực nào đã thúc đẩy anh “nổi dậy”? Thay đổi một lối viết, trước hết là thay đổi một tư tưởng, có phải là điều quá khó trong khi đã ở độ gần như định hình, thưa anh?

 

– MVP: Vách nước của tôi là cuộc vong thân, bước tiến của phủ định bản ngã. Trong sáng tạo, cố nhích lên dù “nửa bước chân” đã là quá trình vật lộn ghê gớm, huống chi thay đổi tư duy thẩm mỹ hay tìm đến một lý tưởng thi ca khác biệt. Trong bóng tối, kể cả trong bóng đen ghê sợ của im lặng, tôi như được chứng kiến sự đổ vỡ những giá trị cũ kỹ đến ê chề. Khi định vị được dòng chảy thi ca đương đại trong quá trình hội nhập, biết lạnh lùng khách quan nhìn lại bản thân, sự hoảng loạn đã thôi thúc tôi làm cuộc vượt thoát khỏi cá tính.

 

– PV: Nghiêng về phía vô thức, dùng những biểu tượng bất chợt, tương hợp và khuếch trương những cảm giác để sắp xếp lại thế giới, phần nào từ chối cái nhìn duy lý tuyến tính quen thuộc; anh cũng dùng những thủ pháp quen thuộc của nhiều người làm thơ trẻ hiện nay? Anh muốn dựng lên một hình thức tồn tại vô biên không giới hạn của con người, ở đó rào cản của cuộc sống phiền phức nhiêu khê mà tự con người dựng nên và bị lệ thuộc vào cũng trở thành vô nghĩa trước dòng nước mát hồi sinh?

 

– MVP: Những nhận xét về thơ trẻ hiện nay rất đúng, nhưng mang tính tiểu tiết. Sự khác biệt căn bản với các thế hệ đi trước của những nhà thơ trẻ là cách thiết lập không gian riêng, nhằm tạo một “áp lực” trong “từ trường ảnh hưởng”. Thực tế cho thấy, áp lực thường gây ảnh hưởng mạnh hơn những “điểm chập nổ” rất nhiều. Những câu thơ của tôi trước đây được bạn đọc nhắc đến có thể ví với những điểm chập nổ. Nó đóng đinh người đọc vào hoàn cảnh cụ thể, trói buộc cảm xúc trong thi ảnh đơn độc. Còn không gian thơ bây giờ là sự gợi mở để người đọc cùng tham gia sáng tạo, là cách nhà thơ quyến rũ người đọc vào “trò chơi tự trình bày cách chơi” (Hoàng Ngọc Tuấn)  trong thế giới đa tầng và đa phương. Người đọc không còn cảm giác gặp một bản thể nhất định trong “đại tự sự” (grands récits – J.F. Lyotard)  như trước đây nữa, mà họ có quyền lựa chọn bản thể tốt nhất theo ý họ trong một hoàn cảnh thi ca cụ thể, tự đưa ra lối ứng xử thích hợp nhất trong một “hiện thực thậm phồn”. Một hình thức tồn tại vô biên như chị nói chính là mô hình xã hội được thiết kế theo kiểu thi sỹ, ở đó những khái niệm về công bằng, tự do, bác ái… được quan niệm “cực đoan” đến mức tuyệt đối.

 

– PV: Dù có nói gì thì quá trình tích luỹ trước đây cũng cho anh một vốn liếng và khả năng tự điều chỉnh để không sa đà vào những cảm xúc vụn vặt, như điều thường thấy ở một số người làm thơ trẻ?

 

– MVP: Với tôi, thi ca dù có cách tân đến đâu vẫn phải hướng con người tới sự cao đẹp. Phẩm cách nhà thơ quyết định cốt cách thi ca. Khi đã vững tin trong cốt cách, nhà thơ không ngại lao vào bất cứ vấn đề gì, kể cả những vấn đề “vụn vặt”.

 

– PV: Có lẽ phải hiểu cho đúng chữ vụn vặt. Không một đề tài nào, kể cả những chuyện quá riêng tư bị coi là vụn vặt, nếu người làm thơ biết thật sự đưa nó về thế giới đa tầng và đa phương như anh nói. Nhưng nhiều tác giả trẻ lại không đủ vốn văn hoá, vốn sống để làm điều đó, và họ quẩn quanh trong việc thổi phồng những cảm xúc của chính mình. Xin được chuyển sang ý khác. Chẳng lẽ anh không hề lưu luyến chút gì một Mai Văn Phấn lành lành ngây ngây đáng yêu thời viết  “Không gian như phủ Chúa/ Hoa cười vang cung mê” hay “Con đang mơ chạy lang bang/ Ngồi đây cha thả bướm vàng bay theo”…?

 

– MVP: Tôi quan niệm tác phẩm sau khi được công bố tồn tại độc lập với với người làm ra nó. Sự “lưu luyến ” hay không xin dành cho người đọc và thử thách khắc nghiệt của thời gian. Tôi không có thói quen chiêm bái những con đường cũ của mình, không “quay vái lậy chiếc áo vừa treo lên giá” như một câu thơ tôi viết trong bài Ước phục sinh. Cái điệu “lành lành ngây ngây” trước đây là cách tôi  “chiềng ra” một phần gương mặt trong “đại tự sự“, cũng là cách thấp thoáng một gương mặt trong chen chúc những gương mặt hao hao. Bây giờ sáng tạo trong một quan niệm riêng, tôi thực sự  thấy tự do tuyệt đối, được “làm vua” những “con chữ” của mình. Nếu coi Vách nước là quá trình “vượt thoát”, thì khao khát lớn nhất của tôi hiện nay là sự giản dị. Thật kỳ diệu nếu chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới mẻ . Và giờ đây, tôi muốn coi Vách nước là cái đang cũ. Có lẽ nỗi ám ảnh ghê sợ nhất của tôi là đến lúc nào đó không còn đủ ý chí và nghị lực để tự phủ định mình.

 

– PV: Dường như thơ hiện tại không còn đòi hỏi khổ công trau giũa chữ như người thợ chữ nữa? Anh viết những bài thơ dài như Biến tấu con quạ mất bao lâu?

 

– MVP: Tôi không có ý định đánh bóng con chữ. Những dòng chảy nội tâm đã tạo áp lực trong cảm xúc của tôi. Biến tấu con quạ tôi ấp ủ khá lâu, nhưng được viết trong vòng 2 ngày.

 

– PV: Hình như thời nay nhà thơ vừa có thể ăn ngon mặc đẹp lại vừa in được tập thơ thật sang, mặc dù thơ hay vẫn không thể nuôi nhà thơ?

 

– MVP: Quan niệm rằng thơ (hình thức) cứ phải xoàng xĩnh, lôi thôi một chút mới… nên thơ, đã cũ. In tập thơ thật đẹp, thật sang là cách để “báo đáp”, tôn vinh thi ca và cũng hợp lý trong xã hội ngày càng tiến bộ. Thật tiếc là đến tận bây giờ thơ vẫn chưa nuôi được nhà thơ, nhưng đó là cách các nhà thơ góp “công đức” vào đời sống đáng yêu này. Chuyện “áo cơm” thời nay đối với nhà thơ không quá khó khăn như trước nữa. Để thơ “trụ” được, nhà thơ thường phải có học vấn nhất định, muốn đi xa cần tự tin và biết cách bình tĩnh. Chỉ hai yếu tố đó đã đủ tiêu chuẩn dự thi công chức vào bất kỳ cơ quan nào, chí ít là xin việc ở một công ty trách nhiệm hữu hạn… Tôi là công chức có mức lương tạm ổn như các bạn thơ cùng  lứa, có một gia đình đầm ấm đủ để ghìm chân con ngựa bất kham cầm tinh… con Dê.

 

(Nguồn: Báo Thể thao & Văn hoá số 11 ngày 6/02/2004)

 

 

 

TRẢ LỜI TẠP CHÍ NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI

(Nhà thơ Phan Hoàng thực hiện)

 

 

– PV : Nhà thơ có vị trí ra sao ở nước ta hiện nay ?

 

– MVP: Thơ ca bây giờ ít tham gia trực tiếp vào những hoạt động xã hội, nhưng sự có mặt và sức lan tỏa của nó mãnh liệt, tới tận những mạch ngầm vi tế ẩn sâu trong đời sống cộng đồng. Buổi tối thư giãn trước màn ảnh nhỏ, ta thấy lời chào của phát thanh viên đã hay hơn trước, đôi khi những cuộc đối thoại cũng mang cách nói của thơ. Ra ngõ nhìn tên một bảng hiệu. Về miền quê xa nghe cha mẹ đặt tên con… Thơ ca đã tạo những thay đổi trong đời sống rất tự nhiên, nhiều khi cũng khó nhận biết. So với hai mươi năm trước, sự sinh động và thanh thoát hơn hẳn của ngôn ngữ đời sống hôm nay được thừa hưởng nhiều phần từ sự đổi mới ngôn ngữ văn chương, mà vai trò tiên phong linh hoạt, tạo được nhiều bất ngờ hơn cả, không thể phủ nhận, thuộc về ngôn ngữ thi ca. Thoát ra khỏi thẩm mỹ và những lối biểu đạt cổ điển,  tránh được những tìm tòi phô trương hình thức, thơ ca hiện tại hiển lộ những góc nhìn đa bội của cảm thức con người, đồng thời có khả năng mở ra nhiều chiều kích vô cùng rộng lớn khác của đời sống. Thơ ca, cũng như một số ngành nghệ thuật tiền phong khác, đang dần dà khai triển trong những tầng sâu của tâm thức và vì thế phần nào trở thành chính chất lượng sống. Một nhà thơ nói: thơ ca đã chết! Theo tôi, đó là cách nói cực đoan để thôi thúc thơ ca phải đổi khác. Đúng là trong nhịp điệu công nghiệp, có ai đó buông ra mấy câu vân vi, vần vè… chắc sẽ làm mọi người khó chịu. Nhưng những thông điệp mạch lạc, thậm chí tối giản, nhiều khi là tín hiệu gợi mở một không gian thanh tịnh, cho con người sống chân thành và thương yêu nhau hơn. Thơ ca gần như tôn giáo, nhưng không cao vợi và phải thờ phụng theo những nghi lễ. Thơ ca cũng là tâm linh, nhưng nhà thơ có thể làm biến đổi cả đời sống tinh thần con người và mở ra những không gian riêng biệt khi gặp được “duyên” cảm xúc.

 

– PV : Một góc nhìn của anh về hiện tại và tương lai thơ Việt?

 

– MVP: Giá trị độc sáng dành cho nhà thơ và càng đúng hơn khi nói về những tác giả trẻ. Họ luôn tự tin, bản lĩnh, làm nên diện mạo mới cho thơ Việt đương đại. Những nhà thơ trẻ ngày càng được mở mang tầm nhìn và có điều kiện tiếp thu tri thức một cách cơ bản. Họ là người nhận thức đầy đủ bản chất phủ định tích cực của nghệ thuật sáng tạo. Thơ Việt đương đại tất nhiên sẽ đa diện hơn, đa tầng hơn. Một mùa thi ca bội thu đang đến. Tôi nói những chuyển động thơ ca trong đời sống hiện nay, kể cả những mạch ngầm tuy đa tạp nhưng vẫn chảy xiết…  

 

 

LÀM THƠ CÓ CẦN NGHĨ TỚI TRÁCH NHIỆM HAY SỨ MẠNG?

(Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng thực hiện)

 

 

1 – Anh/chị đi tìm điều gì trong một bài thơ? Và có thường tìm thấy nó không?

 

MVP: Tôi thích câu này của Đỗ Phủ (Trung Quốc):  Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu (Lời không kinh động lòng người thì chết không yên). Thơ hay thường bất ngờ, chăm chú đi tìm không dễ thấy. Cái đọng lại trước hết sau khi đọc một bài thơ là cốt cách thi sỹ. Theo tôi, việc luyện Cốt quan trọng hơn luyện Chữ. Ở những nhà thơ lớn, cốt cách hiện rõ ngay ở những vấn đề tưởng như không đáng nói, như không có gì để nói. Những nhà thơ lớn ấy, tuy sống và viết ở những thời gian, không gian hay chính thể khác biệt, nhưng họ vẫn gặp nhau trong cách lý giải những vấn đề lớn, khá đồng nhất và cụ thể.

Tôi cũng thường chú trọng đến chất trí tuệ trong những bài thơ. Tôi đã tìm thấy mẫu mực trí tuệ của thơ ở các kinh bổn của những tôn giáo, nhất là Cựu Ước, Vệ Đà và những sử thi như Iliade, Mahbharata… Thực chất đó là những bản thánh thi siêu phàm, đến nỗi hậu thế không ít người đã hoài nghi về sự hiện diện tác giả của nó trên thế gian này. Những tác phẩm kinh điển ấy đã khiến thơ tồn tại được qua những thời hạn tệ hại nhất của loài người; và đã khiến người đọc thông tuệ hơn, cao thượng hơn, điều mà số đông các nhà thơ cận đại, hiện đại không mấy người làm được.

 

2 – Anh/chị đánh giá ra sao về nền thơ ở miền Bắc trước đây, ở miền Nam trước đây, ở hải ngoại, ở trong nước, đặc biệt là từ góc độ của một người không đứng cùng miền địa lý chính trị (xin lấy ví dụ: một người đang sống ở trong nước nhìn về thơ hải ngoại, hay một người đang sống ở hải ngoại đọc thơ trong nước)

 

MVP: Tôi không nghĩ đến tính địa lý và chính kiến của các nhà thơ. Tôi chú ý đến tác phẩm cụ thể. Có một thời kỳ bi thảm cho thi ca, một thời mà thơ chỉ gần giống như thơ, đúng hơn chỉ là thứ “ngụy thi”. Xin ai đó cứ việc viện ra sứ mạng gì đấy của thơ để bênh vực quyết liệt cho những thứ  lạm danh thơ đó, tôi xin khước từ tranh luận. Tôi sẽ bình tĩnh chờ đến lúc văn học sử nước nhà có một cuộc thanh toán thật khắc nghiệt để định giá trị cho Thơ của thời kỳ đó. Tôi không đánh giá gì về “thơ hai miền”, bởi đó là điều không cần thiết. Chỉ có nhận xét ngắn: Thời kỳ ấy, người viết thơ ở miền Bắc giống như những người thợ của công binh xưởng, ngày đêm rèn giũa sao cho mỗi câu thơ thành một “viên đạn bắn vào đầu thù”. Trong số họ có người tìm đến Maiakovsky, đến Aragon, Neruda… nhưng vẫn chỉ là để học cách chế tác thơ thành đạn mà thôi. Cũng thời kỳ ấy, ở miền Nam có nhà thơ danh tiếng mang khát vọng Bắc tiến để “Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ”…Và không ít bài thơ về những người lính tiền đồn thương những mẹ già chết đạn quân thù, và nhớ người tình hậu phương, những người em gái áo xanh, mắt nhung buồn (những mẫu hình còn sót lại từ thời Thơ Mới)… Khi bị (hoặc tự nguyện) đứng sau những mục đích phi thi ca, thì thơ chỉ đơn thuần là vật dụng, cho dù rất đắc dụng thì cũng không còn là thơ nữa. Ngay cả Henric Heine khi dùng thơ để công kích nền chuyên chế Đức đương thời bằng những câu: “…Đặt tổ quốc vào nước sôi lửa bỏng / Lại ba hoa về vũ trụ hư vô / Cả thế giới nhổ vào phường dối trá / Giễu cười bay “lũ ngốc nói mơ”… thì không phải là ông làm thơ, cho dù Heine là một thi hào (theo trí nhớ của tôi, Tế Hanh dịch bài này). Thời gian qua đi chỉ để lại rất ít tên tuổi thi sỹ cho nền thơ Việt Nam nói chung. Vậy theo tôi, không nên rạch ròi thơ miền Bắc hay thơ miền Nam, thơ hải ngoại hay trong nước. Chỉ nên nhận ra điều đáng buồn là có hiếm hoi những gương mặt cụ thể để chúng ta có thể đưa ra “đánh cược” cho tinh thần dân tộc mình mà thôi.

 

 3 – Theo anh/chị, thế nào là một bài thơ hay? Xin cho ví dụ (không phải là thơ của mình) và diễn giải về ví dụ đó.

 

MVP: Ý này, tôi đã nói ở trên. Một bài thơ hay, thậm chí có thể chỉ một câu thơ hay, cũng khiến người đọc thông tuệ và cao thượng hơn. Xin nhặt hú họa một câu của một nhà thơ đã chết: “Ngã xuống rồi… em ơi vẫn đất!” (Thơ ứng khẩu của nhà thơ Duy Khán khi ông say rượu, bị ngã).

 

4 – Theo anh/chị, thế nào là một bài thơ dở? Xin cho ví dụ và diễn giải về ví dụ đó.

 

MVP: Tôi nghĩ, không cần thiết phải đưa ra câu hỏi này, tuy không phải người làm thơ nào cũng hiểu được thế nào là thơ dở. Vì rằng, đó là sự hiển nhiên: không phải là hay thì sẽ là dở. Với Thơ, đường được, tàm tạm, vầy vậy… cũng có nghĩa là dở.

 

5 – Có nhiều ý kiến trái ngược nhau về thơ Việt Nam hiện nay. Nhìn chung, anh/chị thất vọng hay hy vọng về nó? Tại sao?

 

MVP: Chúng ta đang đứng trên một nền thơ khá thấp và thiếu vững vàng về lý thuyết. Số đông những người làm thơ yếu kém về kiến thức, về văn hóa và kỹ năng của một nhà thơ hiện đại. Bây giờ hầu hết chúng ta vẫn neo bám vào cảm xúc, bản năng và cái nhiệt tình “hành” thơ. Như thế mà có được thơ hay chỉ là chuyện ăn may, và trong cộng đồng thơ hiện đại sẽ không có chỗ cho chúng ta nếu không có sự tác động mạnh mẽ vào tình trạng trì độn này.

 

6 – Anh/chị nghĩ gì về trào lưu Hậu hiện đại trong thơ? Ảnh hưởng của trào lưu Hậu hiện đại lên một số dòng thơ hiện nay như thơ trẻ Sài Gòn, thơ giễu nhại, hay lên một số tác giả cụ thể, ra sao?

 

MVP: Hậu hiện đại là một trong những trào lưu tiền phong có từ hơn nửa thể kỷ trước. Nó chủ trương phá vỡ tính duy lý thống nhất, tính đơn cực, toàn trị… nhằm thiết lập một thế giới đa cực, đa tầng… Về mục đích, Hậu hiện đại cũng chỉ là giai đoạn quá độ để có thể đạt tới sự đồng thuận thống nhất ở cấp độ cao hơn… Ảnh hưởng của nó không chỉ với văn chương, mà còn điện ảnh, kiến trúc, âm nhạc, hội hoạ… Thơ Hậu hiện đại xuất hiện trong điều kiện Hậu hiện đại mới manh nha ở Việt Nam, nhưng đã tạo được dư luận trong đời sống văn học.  Nó giúp cho những người viết trẻ biết được vị trí và hướng đi của mình; và, cả cho những thế hệ đi trước biết tự chán mình nữa…

 

7 – Không thể không nói đến các khuynh hướng thể nghiệm như thơ ngôn ngữ, thơ cụ thể, thơ trình diễn, v.v… Anh/chị nghĩ sao về chúng, phản đối hay ủng hộ?

 

MVP: Các khuynh hướng sáng tác đều rất cần và làm phong phú thêm cho nền thi ca của chúng ta. Hiện chúng ta vẫn hồ nghi, vì còn quá ít tài năng cho những “thể nghiệm” được thuyết phục. Chữ “thể nghiệm” ở đây, theo tôi, chúng ta dùng chưa thoả đáng và thiếu công bằng với những tác phẩm thành công. Dĩ nhiên trong thời đại văn minh, những phát kiến, sáng tạo sẽ được khích lệ, ủng hộ. Nhưng ranh giới giữa chân tài và sự tầm thường dung tục trong nghệ thuật thường khó nhận biết.

 

8 – Thơ thế giới được dịch ra tiếng Việt ra sao? Phải làm gì để người đọc biết nhiều hơn đến thơ nước ngoài? Nhà thơ nước ngoài nào mà anh/chị thường đọc nhầt hay chịu ảnh hưởng nhiều nhất? Mặt khác, tình hình giới thiệu thơ Việt Nam ra thế giới hiện nay như thế nào?

 

MVP: Các dịch giả đã dịch thơ thế giới ra tiếng Việt có công lớn đối với thi ca đương đại. Nhưng đọc nhiều nhà thơ nước ngoài do một dịch giả Việt Nam dịch, thường thấy giọng điệu giống nhau về sử dụng ngôn ngữ, nhịp điệu… trong khi rõ ràng mỗi nhà thơ có một phong cách riêng. Dịch thơ vốn là chuyện nan giải, vì đó là chuyện hồn cốt. Còn hiếm những trường hợp như dịch giả – nhà thơ Hoàng Ngọc Biên đã tìm ra phong cách đặc trưng của thơ Joseph Brodsky. Hiện có khá nhiều nhà thơ và bạn đọc trẻ có thể đọc thơ nước ngoài trên nguyên bản. Đó là cách tốt nhất để tiếp nhận thơ đích thực. Như nhiều người làm thơ, tôi cũng trải qua những giai đoạn chuyển hóa (*). Với mỗi giai đoạn mới, tôi thường tìm đọc những nhà thơ nước ngoài gần gũi với mình để có thể nhận được một khích lệ vô tình nào đó, cũng như một sự gợi cảm để có năng lực tìm ra những điều mới. Nhưng, tôi không thích tác giả nào trọn vẹn và tự thấy mình chưa chịu ảnh hưởng của ai cả.

 

9 – Phê bình và lý luận về thơ có vai trò gì đối với sự phát triển thơ ca? Tình hình giới thiệu, xuất bản, phổ biến thơ hiện nay? Có một bài viết, một cuốn sách, một công trình, hay một hội nghị nào về thơ gần đây mà anh/chị đã đọc hay theo dõi và cảm thấy thú vị nhất? Tại sao?

 

MVP: Tôi không muốn bàn đến vai trò của phê bình và lý luận đối với thơ ca, vì rằng tôi đang tự hỏi: chúng ta đã có một nền lý luận phê bình văn học chưa? Tôi tự thấy mình không hề lãnh cảm với thơ Việt, (vì tôi đang làm thơ Việt mà!) Nhưng quả tình, dù luôn chăm chú, nhưng cho đến nay tôi chưa từng sửng sốt, hay ít ra là tim đập nhanh hơn bình thường về một hiện tượng thơ nào, tuy ở ta có khá nhiều hiện tượng thơ…

 

10Nhà thơ và trách nhiệm xã hội: anh/chị nghĩ gì về vấn đề này?

 

MVP: Thơ là thanh âm của tự nhiên: gió gào, chim hót, núi lửa phun trào, sóng gầm, đá lở… là lúc động tình, con Đực chồm lên con Cái… Lúc làm thơ tôi chẳng nghĩ phải cần trách nhiệm hay sứ mạng gì cả.

 

(Nguồn: hoiluanvanhoc.org)

 

TRẢ LỜI BÁO THỂ THAO VĂN HÓA (cuối tuần, 8/2010)

(Văn Bảy tổ chức chuyên đề)

 

 

Bài 3: Vùng trũng thiếu người san lấp (trích)

Các nhân vật phát biểu trong bài này tuy xuất phát từ điểm nhìn cá nhân, nhưng vì những kinh nghiệm giao lưu thực tế mà họ tích lũy được, đã vẽ nên được một phần diện mạo của giao lưu văn học ở Việt Nam.

 

– MVP: Như “người mù sờ voi”

Dù đã ít nhiều giao lưu với văn học thế giới trong mấy thập niên gần đây (tạm lấy mốc từ sau 1975), thực trạng văn học nước nhà, đặc biệt trên  lãnh vực thi ca  vẫn trì trệ và lạc hậu so với một số nước trong khu vực, như Thái Lan, In-đô-nê-sia, Ma-lay-sia…, chứ chưa dám so sánh với các “cường quốc thi ca” như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc… Sau hiện tượng Thơ mới (1930 – 1945) đến nay, chúng ta vẫn chưa có hệ thống lý luận cập nhật, hoàn chỉnh về các hiện tượng văn học trong nước cũng như các khuynh hướng bên ngoài, để nhìn nhận, đánh giá và định hướng cho thơ Việt đương đại. Khuynh hướng thi ca cũ kỹ, cách đây gần một thế kỷ, hiện vẫn được tôn vinh, thống trị quá lâu trên văn đàn, định hình quan niệm thẩm mỹ cho bạn đọc, làm khuôn mẫu cho sách giáo khoa trong hệ thống các trường học, từ bậc tiểu học đến đại học và cao hơn nữa… Đa phần các nhà thơ vẫn sáng tác theo khuynh hướng cũ, chỉ số ít tác giả dũng cảm “xé rào” tìm cho mình một hướng đi riêng biệt. Họ tự thu thập tài liệu, tự trang bị kiến thức, hệ thống lý luận cho riêng mình. Đã xuất hiện không nhiều những khuôn mặt  thơ tự tin và lộng lẫy, nhưng cũng không ít tác giả trẻ sa vào “ma hồn trận” chữ nghĩa và loay hoay giữa dòng trôi các trào lưu thi ca thế giới. Có thể gọi thế kỷ 20 vừa qua là thế kỷ của những khuynh hướng thi ca. Mỗi khuynh hướng, dù đã vĩnh viễn ra đi, đều để lại những tác giả tiêu biểu, mang gương mặt “nhân loại lớn”. Do không có/ đủ nhận thức lý luận kịp thời, nên đa số bạn đọc Việt Nam hiện nay không phân biệt được “chân – giả” trước những hiện tượng đổi mới. Họ chỉ đưa ra những khái niệm mơ hồ, áp đặt cho tất cả những tác phẩm khác với lối mòn thẩm mỹ của họ, như: tắc tị, rối rắm, phản cảm, đánh đố, làm dáng, xa lạ, dẫm phải “phân Tây… Trên dưới 10 năm gần đây, Internet bùng nổ ở Việt Nam đã mang lại nhiều sắc màu hơn trong giao lưu quốc tế, cả giao lưu văn học. Nhưng các nhà thơ và bạn đọc nước ta vẫn tiếp xúc với thi ca thế giới như những “người mù sờ voi”. Internet cũng như các phương tiện truyền thông giúp chúng ta ra được biển lớn, nhưng nếu không có hệ thống lý luận, chẳng khác gì người không biết bơi bị ném xuống nước. Tôi mong chờ các cơ quan chuyên trách, Viện Văn học… sớm có kế hoạch chiến lược về vấn đề này. Chúng ta nên tổ chức các hội thảo chuyên đề cho từng khuynh hướng, đăng lại các chủ thuyết, nhận định, tuyên ngôn hay tiêu chí, quan trọng hơn là các tác phẩm tiêu biểu cho từng trường phái. Điều đó tạo cho các nhà thơ và bạn đọc tầm nhìn phổ quát mang tính định hướng về thơ ca thế giới, tạo cơ hội để phát huy và làm phong phú thêm giá trị truyền thống của văn học Việt Nam. Các nhà thơ và bạn đọc cần trang bị cho mình vốn ngoại ngữ, có khả năng đọc trực tiếp văn bản gốc, cảm nhận được cái đẹp kỳ diệu và sự tinh tế trong ngôn ngữ khác. Bởi phần lớn các bản dịch thơ hiện nay đều đã bị “Việt hoá”, làm mất đi “cái tuyết” của ngôn ngữ thi ca đích thực, thậm chí có cả chuyện “tác dịch” thơ nữa… Giao lưu là điều kiện tất yếu để hội nhập, là cửa ngõ để nhận biết mình nhưng đồng thời là thách thức cho mỗi cá nhân trước những trào lưu mới. Tin rằng mỗi người cầm bút nhận thức rõ trách nhiệm, giữ được lòng tự trọng và bản chất của văn học nước nhà để không mơ hồ lạc lối… 

   

TRẢ LỜI BÁO ĐIỆN TỬ TỔ QUỐC 

Chuyên đề: văn học và hiện thực đất nước hôm nay

(Nhà lý luận phê bình Trần Thiện Khanh thực hiện)

 

 

– PV: Anh có cho rằng văn học phản ánh hiện thực không? Nếu văn học phản hiện thực, thì theo anh cần hiểu hiện thực và sự phản hiện thực đó trong văn học như thế nào cho đúng? Điều gì quyết định chất lượng và tầm vóc của một tác phẩm văn học?

 

– MVP: Hiện thực trong văn học không còn là hiện thực khách quan khi nó được mô tả thông qua con mắt nhà văn. Đó là kết quả quá trình nhà văn tích lũy, trải nghiệm vốn sống, là vốn kiến thức, nền tảng văn hoá của một cá nhân. Tác phẩm mà nhà văn đưa đến bạn đọc là siêu hiện thực của hiện thực. Ví như nhân vật Gregor Samsa (trong truyện ngắn Hóa thân của F. Kafka) một sớm thức dậy thấy mình biến thành con côn trùng, hay cái đuôi lợn của thằng bé cuối cùng trong dòng họ Buendya (trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G. G. Marquez) là cách phản ánh độc đáo hiện thực đời sống. Hiện thực trong thơ là luồng sáng phát ra từ bài thơ, để ta cảm nhận được bản chất và sự tế vi của đời sống thực. Bóng dáng thời đại ngả vào trang viết đến đâu quyết định tầm vóc tác phẩm của nhà văn đến đó, nhưng chất lượng một tác phẩm văn học còn tuỳ thuộc vào tài năng của mỗi người và nhiều yếu tố khác. Khái niệm văn học “phản” hiện thực là cách tưởng tượng độc đáo, cũng là một phản đề, “gợi ý” để bạn đọc hình dung, so sánh một hiện thực đời sống. Ở đây, bạn đọc chính là người đồng sáng tạo với nhà văn dựa trên văn bản tác phẩm. Thông qua khả năng cảm nhận riêng biệt, mỗi người sẽ hình dung hiện thực tác phẩm theo cách riêng mình. Giống như cùng một giai điệu trong bản nhạc, ai đó hình dung con tàu đang ra khơi, nhưng người khác cũng không sai khi nghe thấy những tiếng vó ngựa chạy trên thảo nguyên…

 

 

– PV: Quan niệm của anh về hiện thực đất nước hôm nay. Cuộc sống hôm nay đặt ra những vấn đề gì cho người viết. Anh thường quan tâm đến mảng hiện thực nào, vì sao?

 

– MVP: Hiện thực đất nước hôm nay ví như con thuyền nhỏ trôi ra giữa biển, có nhiều vận hội được mở ra, nhưng cũng không ít hiểm nguy rình rập, biến ảo khôn lường… Nhà văn cũng dễ bị “choáng” nếu không xác định được mình đang ở đâu và “con thuyền” kia sẽ trôi đi đâu. Nhà văn, theo tôi, không nên sa đà vào những vấn đề vụn vặt, tầm thường, câu khách… mà cần lý giải tận gốc rễ những căn nguyên hiện tượng đời sống, hoạch định chiến lược “mô hình” xã hội theo quan điểm riêng, cách nhìn riêng của nhà văn. Muốn thế, nhà văn cần trang bị cho mình kiến thức phong phú và sự trải nghiệm chín chắn để có thể suy nghĩ, sáng tạo độc lập, trước hết tránh được thói “a-dua” hoặc chửi đổng vô tích sự… Tôi làm thơ không chăm chú vào “mảng” hiện thực cụ thể nào. Đôi khi trong thơ tôi chỉ hiện lên những hình ảnh đời thường bình dị, nhưng khi sáng tác, hơi thở tổng hoà của đời sống xã hội và cả những ký ức từ xa xăm đâu đó cũng phả vào trang viết.

 

– PV: Mỗi khi đặt bút sáng tác, anh có quan tâm nhiều đến môi trường xã hội của sự viết và sự đọc hiện nay không. Theo anh, những loại sáng tác văn học nào hiện nay thu hút được sự quan tâm chú ý của người đọc, anh có bao giờ sáng tác để “chiều lòng” độc giả như thế không, vì sao?

 

– MVP: Tôi thường chuẩn bị kỹ trước khi đặt bút xuống. Có lúc tứ bài thơ vụt đến bất ngờ, tưởng như “của nhặt được”, nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó đã lâu. Một bóng cây lạ, ngôi nhà lá đơn sơ, một gương mặt… Tất cả tưởng như vô tình thoáng qua, nhưng vào một thời khắc đặc biệt, nó sẽ hiển hiện trong không gian thơ thật riêng biệt và lộng lẫy. Tôi chỉ viết khi thấy tứ bài thơ loé sáng trước mặt. Tôi hoàn thiện bài thơ như viên đạn, mũi tên xé gió về đích, để lại tất cả ở phía sau. Tôi đuổi theo, song hành với bài thơ để khai phá, hoàn thiện mình. Chỉ khi viết xong bài thơ tôi mới bình tĩnh và có thời gian suy đoán bạn đọc sẽ tiếp nhận nó thế nào. Tôi rất biết sở thích của số đông bạn đọc, nhưng không bao giờ có chủ ý làm thơ để “ve vuốt” sở thích đó. Thơ tôi là ngôi nhà của riêng tôi, ai muốn vào xin hãy gõ cửa và tuân theo những nghi thức nhất định.

 

– PV: Anh cho rằng văn học hiện nay có vị trí như thế nào trong xã hội? Điều gì thôi thúc anh cầm bút?

 

– MVP: Văn học luôn giúp con người hoàn thiện nhân cách, làm xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hơn. Lợi ích của văn học không như mùa vụ được gặt hái tức thì, mà phải chờ đến “lãi âm”. Có tác phẩm từng được tâng lên tận mây xanh, nhưng khi ý thức hệ mới thay đổi chút ít đã lặn đâu mất tăm. Nhưng có những tác phẩm từng chìm nổi trong dòng trôi lịch sử, nay vớt lên đích thực vàng mười… Chính sự công bằng và kỳ diệu ấy của văn chương đã thôi thúc tôi cầm bút.

 

– PV: Sau một thời gian cầm bút, anh thấm thía nhất điều gì trong nghiệp văn chương?

 

– MVP: Văn chương là hành trình đơn độc đi tìm cái đẹp. Tác phẩm văn học, trước hết quay lại hoàn thiện nhân cách, quan niệm thẩm mỹ và định hướng cho chính nhà văn ấy./. 

 

TRẢ LỜI BÁO VĂN NGHỆ TRẺ

(Nhà thơ Trần Vũ Long thực hiện)

 

 

– PV: Chúng ta vẫn đang tranh luận về những thay đổi có cả những cái đã được và chưa được của thơ trẻ hiện nay, vậy cá nhân anh/ chị đánh giá như thế nào về ý kiến trái chiều nhau đó?

 

– MVP: Mỗi thời đại thi ca mang một ý thức hệ riêng/ khác biệt. Thơ trẻ hiện nay tuy có phần khởi sắc và phong phú hơn so với thế hệ thơ thành danh sau năm 1975, nhưng chưa tạo được diện mạo riêng. Phần lớn tác phẩm của họ cảm xúc hời hợt, màu mè phù phiếm lý tưởng thi ca và ít nhiều nông cạn mặt bằng văn hoá.

 

– PV: Thời đại nào sẽ có sản phẩm của thời đại đó. Và chúng ta  đang được/ bị tận hưởng sản phẩm của thời đại @. Thơ trên mạng, thơ trên blog, web nhiều hơn thơ in báo, và cũng từ đó chúng ta lại được đọc, và hưởng thụ thơ nhiều hơn. Điều đó đem lại những cái lợi/ hại gì?

 

– MVP: Đáng buồn nếu đến giờ bạn đọc chỉ biết đến những tác phẩm đăng trên báo giấy. Tác phẩm trên Internet thường mang nội hàm văn chương đại chúng và đặc tuyển, thể hiện tinh thần tự do, dân chủ ở mọi quốc gia, không riêng ở Việt Nam. Ở đây, bạn đọc được tự do/ phải lựa chọn cho mình những tác phẩm thích hợp. Tôi vẫn chờ đợi những địa chỉ website văn học đủ uy tín, mang tính định hướng thẩm mỹ cho bạn đọc.

 

– PV: Có phải sự cách tân nào của thơ trẻ cũng bấn loạn hay không, hay chúng ta luôn khó tính với những cái mới, những cái khác với cái mà từ trước tới nay chúng ta quá quen?.

 

– MVP: Những giá trị mới thường bị đám đông nghi ngờ, thậm chí bị phản bác quyết liệt. Tôi cổ xuý cho mọi khuynh hướng cách tân, khuyến khích cả những tác giả vẫn còn loay hoay vận dụng thủ pháp của những trào lưu văn chương từng rực rỡ ở thế kỷ trước, như Siêu thực, Tượng trưng, Tân hình thức… Có được tinh thần tiên phong, chắc chắn các tác giả ấy sẽ sớm nhận biết để đến với những giá trị ưu tú.

 

– PV: Cây bút nào làm anh chú ý, và sự chú ý đầu tiên khi các anh đọc thơ là những cái tên (tác giả), nhóm tác giả hay chính là ở chất lượng thơ vậy

 

– MVP: Sau thế hệ U50, tôi thích đọc thơ Đinh Thị Như Thuý, Nguyễn Thị Từ Huy, Lê Vĩnh Tài, Khánh Phương, Trần Lê Sơn Ý… Tôi chú ý từng bài và thường đọc lại nhiều lần một bài thơ mình thích. Tên tác giả nhiều lúc cũng là “cái bẫy” tai hại. Một bài thơ dở của một tác giả mình từng yêu mến thường làm tôi thất vọng và buồn rất lâu.

 

– PV: Và điều cuối cùng là theo anh  thơ trẻ hiện  đang ở đâu?

 

– MVP: Đã thấp thoáng những gương mặt chân tài. Thái độ bình tĩnh của họ cho chúng ta hy vọng.

 

 

MAI VĂN PHẤN THONG DONG TRONG CÕI THƠ

(Nhà thơ Lý Đợi thực hiện)

1.

Mỗi tập thơ của anh trước đây là một sự chủ tâm đi vào một hai phong cách rõ rệt. Tự nhìn lại những tập thơ trước của mình, anh thấy chúng thuộc các phong cách nào?

 

MVP: Tập thơ đầu tay “Giọt nắng – 1992” tôi viết theo bản năng, nhằm giải tỏa tâm trạng và ám ảnh về đời sống lúc đó. Năm ấy tôi 37 tuổi, thời điểm tôi trở lại viết sau gần 20 năm đoạn tuyệt với thơ ca. Hai tập tiếp theo (Gọi xanh, Cầu nguyện ban mai) kết hợp truyền thống với tâm thức hiện đại. Tập thơ “Nghi lễ nhận tên” và trường ca “Người cùng thời” là cách tôi dò dẫm, vượt thoát khỏi hệ mỹ cảm cũ. Đến “Vách nước” là kết hợp có chọn lọc tổng hòa những khuynh hướng hiện đại (Siêu thực, Tượng trưng, Biểu hiện…). Năm 2009 tôi in hai tập với hai phong cách và khuynh huớng khác nhau. Tập “Hôm sau” là một hướng triển khai phong cách hậu-hiện đại kiểu Việt Nam. Và, “và đột nhiên gió thổi” thuộc cổ-điển-mới.

 

2.

Nhiều người suốt đời chỉ đi theo lối mòn, tại sao anh lại chọn hướng thể nghiệm và luôn thay đổi như vậy?

 

MVP: Tôi không bao giờ lặp lại mình. Bài thơ/ tập thơ sau khi ra đời đã hoàn thành sứ mệnh và cũng không để lại cho người làm ra nó một kinh nghiệm gì. Kinh nghiệm, ở đây có chăng, chỉ cho nhà thơ một khả năng tự vệ để anh ta không lao đầu vào con đườg cũ. Là một thi sỹ đúng nghĩa, nếu không sáng tạo, tức không làm ra những sản phẩm mới, coi như anh ta đã chết.

 

3.

Các phong cách và thủ pháp đa dạng là vậy, nhưng “sợi chỉ” xuyên suốt trong ý niệm về sáng tạo của anh [có lẽ chủ đạo] vẫn là siêu thực. Cảm hứng nào để anh đến với tinh thần siêu thực, khi chủ nghĩa này vốn xa lạ với sinh quyển thơ VN nói chung và miền Bắc nói riêng?

 

MVP: Nhìn lại 9 tập thơ, đó là cách tôi đi từ truyền thống đến hiện đại và tìm ra giọng nói thi ca riêng biệt như bây giờ. Ở tập thơ “Vách nước” hình ảnh siêu thực đa dạng và khá phồn tạp. Nhưng đến những tập thơ sau này, nhất là “Bầu trời không mái che” vừa xuất bản, tôi cố gắng tránh cách biểu hiện đó. Thực ra “Siêu thực” không còn mới mẻ, nhưng “vết bỏng” của nó vẫn ảnh hướng tới nhiều thế hệ sau này. Không riêng thơ ca, mà trong hội họa, thời trang,  kiến trúc… nhiều nghệ sỹ vẫn mượn cách biểu hiện siêu thực để đến với những chủ đích khác.

 

4.

Đọc tập thơ mới nhất của anh, có thể dùng 2 chữ là diễn tả được tinh thần chính: thong dong. Với những tác giả thường tình, thong dong đã khó, với những tác giả yêu thích sự thể nghiệm, vốn chuộng ý niệm, lý thuyết và phong cách, thong dong càng khó hơn. Tại sao lúc này anh chọn sự thong dong? Và từ nguồn cơn nào mà anh thong dong dễ dàng như thế?

 

MVP: Cảm ơn anh đã tìm ra từ “thong dong” đặt cho phong cách của tôi hiện nay. Sau khi đã băng qua những “sa mạc”, như Siêu thực, Tượng trưng, Biểu hiện, thơ Ngôn ngữ, Tân hình thức, Hậu hiện đại, Cổ điển mới…, tôi thấy sao chúng ta không tự tìm lấy một khuynh hướng, mà phải lệ thuộc vào “thằng Tây”? Những khuynh hướng ấy bên ngoài họ đã xếp vào viện bảo tàng từ thế kỷ trước, trong khi chúng ta vẫn lúng túng, tranh cãi… Vậy “thong dong” là cách tôi tìm về với cội nguồn thi ca, để cho cảm xúc trôi chảy tự nhiên và tìm cách nói hồn nhiên, tối giản, trong trẻo nhất.

 

5.

Quan niệm về thơ và công việc sáng tạo của anh bây giờ chắc khác trước đây nhiều lắm?

 

MVP: Tiếc những năm trước đây mình lay hoay, lúng túng lâu quá.

 

6.

Những ý khác của anh nhân tập thơ mới này?

 

MVP: Lại phải chuẩn bị cho một cuộc lên đường mới.

 

7.

Mong chờ ý kiến của anh. Chúc anh và gia đình năm mới bình an, như ý.

 

MVP: Cảm ơn anh!

 

SÁNG TẠO, TINH THẦN CHO ĐIỂM ĐẾN

(Nhà thơ Ko Hyeong Ryeol, Tổng biên tập tạp chí Thi Bình thực hiện)

 

Nhận lời mời của Ban tổ chức Festival Thi ca và Văn học Hàn Quốc-ASEAN “Korea-ASEAN Poets Literature Festival”, với chủ đề “Creativity of Asian Poets, Asian Spirit for Becoming” (Sáng tạo của nhà thơ châu Á, tinh thần cho điểm đến), nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Mai Văn Phấn đã đến Hàn Quốc tham dự từ ngày mồng 2 đến 7/12/2010. Hai nhà thơ đã đọc thơ, tham luận và giao lưu với bạn đọc xứ “Kim Chi” tại 3 thành phố (Seoul, Ansan và Sokcho). Trước khi đến Hàn Quốc, Nhà thơ Mai Văn Phấn đã trả lời tạp chí Thi Bình (Poem and Comment Magazine):

 

– Ko Hyeong Ryeol: Chào nhà thơ Mai Văn Phấn. Trước hết xin thay mặt Ban tổ chức cảm ơn ông và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhận lời tham dự Festival Thi ca và Văn học Hàn Quốc-ASEAN. Sau khi đọc kỹ các tác phẩm của ông, tôi có vài điều muốn hỏi liên quan tới tinh thần chủ đạo của Festival “Sáng tạo của nhà thơ châu Á, tinh thần cho điểm đến”. Điều này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ về ông hơn trước khi ông đến Hàn Quốc. Câu hỏi nhân loại, trong đó có các nhà thơ đang đi về đâu? Nhà thơ, anh là ai trong thế giới đương đại này là chủ đề tất cả chúng ta đang quan tâm. Vậy xin ông cho biết quan niệm riêng của ông về thơ ca?

 

– MVP: Các nhà thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới, hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất. Từ khi hình thành ngôn ngữ, tiếng nói loài người luôn bị biến dạng, vừa đào sâu vào bản chất sự vật… vừa làm chúng méo mó, dị hình trong vỏ bọc ngôn ngữ. Vậy phải chăng, thơ ca ngoài mục đích tải đạo, tuyên truyền, mô phỏng, diễn tả…, nó còn tìm cách đặt tên lại sự vật, định hình lại thế giới. Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kỳ lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn, phức tạp của con người. Một bình minh vừa rạng, con sâu trong nách lá, hay tiếng thở dài của một thiếu phụ… tất cả hiện lên trong thơ ca luôn tươi non, mới mẻ, như vừa được thấy lần đầu. Cùng một hiện tượng, sự vật đời sống, nhưng chúng hoàn toàn khác nhau trong cách nhìn mỗi nhà thơ. Có bao nhiêu nhà thơ là bấy nhiêu con đường đến với thi ca. Tầm vóc nhà thơ càng lớn dung chứa không gian thi ca càng rộng, càng riêng biệt, cũng như ảnh hưởng, áp lực lên cộng đồng càng mạnh. Nó như bóng cây lớn có thể làm râm mát thảo mộc ở gần. Nhà thơ là người được chọn (tạm gọi Thượng đế chọn), được “ơn gọi” trong tinh thần của Jesus Christ, gặp được “nhân duyên” trong Phật giáo. Là người được may mắn nhìn thấy một thế giới khác, mang hình hài nó, nhưng không phải nó. Gọi tên vẻ đẹp cụ thể nhưng khó nắm bất ấy chính là lý tưởng thi ca mà nhà thơ vươn tới. Vẻ đẹp này không phải lúc nào cũng hiển hiện truớc mắt nhà thơ, mà xuất hiện như một “cơ duyên”, hoặc đột khởi trong những biến động tinh thần con người. Thường được ra đời trong những cơn dư chấn, nên nhiều người đã lầm tưởng thơ ca chính là lòng phẫn nộ, nỗi tuyệt vọng, hay sự quá khích của hưng phấn. Tất cả đều nhầm lẫn và ngộ nhận. Mọi trạng thái tình cảm con người, như mừng, giận, yêu, ghét, buồn, vui, muốn… đều là cái cớ cho thi ca chứ hoàn toàn không phải mục đích. Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường, để trong không gian đặc biệt ấy, tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói, được công bằng như nhau trong một trật tự mới. Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lại hoặc tìm về với quá khứ, hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt.

 

– Ko Hyeong Ryeol: Trong tham luận gửi tới Ban tổ chức Festival, ông có nêu khái niệm “sáng tạo là phủ định bản ngã, một cuộc vong thân”. Vậy xin ông nói rõ hơn về tính phủ định trong nghệ thuật thi ca?

 

– MVP: Sáng tạo của nhà thơ hoàn toàn khác với sáng tạo của một nghệ nhân hay người thợ thủ công. Bài thơ vừa viết, tôi quan niệm không thuộc về tôi nữa, mà thuộc về người khác, về đám đông. Với bài thơ này, nhà thơ đã hoàn thành sứ mệnh, xin hãy coi như anh ta đã chết. Nhà thơ muốn tiếp tục tồn tại phải được tái sinh trong một bài thơ khác đang chờ đợi phía chân trời. Đó là cuộc lột xác khác, thêm một lần lên đường, một cú nhảy vượt thoát… Muốn thực hiện được hành trình tiếp theo, nhà thơ phải nhìn thấy lý tưởng thi ca, tức ánh sáng vừa mơ hồ vừa minh bạch đang soi rọi phía trước. Và nhà thơ tư duy và cảm xúc bằng ánh sáng đặc biệt đó. Do vậy, những hình ảnh tưởng chừng quá quen thuộc, từ bóng mây, bước chân, trảng cỏ… đến những đồ vật vẫn dùng, như bàn ghế, bát đũa, sách vở… khi tái hiện trong thơ ca nó được mang một tinh thần khác, tạo nên một thế giới khác.

 

– Ko Hyeong Ryeol: Trong bài trả lời phỏng vấn báo Hải Phòng cuối tuần, dịch đăng trên báo Poetry Kit của Anh Quốc ông có nói: “Bằng những quan niệm tiên tiến, đổi mới quyết liệt trong cách tiếp cận vấn đề, hoà đồng với hơi thở của đời sống đương đại, mỗi nhà thơ như vậy đều có trách nhiệm làm phong phú tính truyền thống”. Ông đồng thời cũng nhấn mạnh quan hệ giữa nội dung và hình thức. Vậy ông đã tìm được nội dung và hình thức mới cho mình chưa?

 

– MVP: Đổi mới thi pháp không phải như thay đổi mẫu mốt, hay thay bình cho rượu mà chính là “cuộc cách mạng” giữa nội dung và hình thức. Trong thi ca, hiện thực đời sống đ­ược viết đi viết lại nhiều lần như­ng vẫn giữ nguyên nội dung, thì đó mới là dạng chất liệu. Nội dung phải là chất liệu đã mang một hình thức đ­ược xác định và hình thức không bao giờ tồn tại độc lập với nội dung của chính nó. Hình thức được chuyển hoá thành nội dung, đó mới là đổi mới thực sự. Nội dung mới trong thơ tôi là những quan tâm mang tính thời đại và thời sự, như lý tưởng sống của thế hệ trẻ, vấn đề ý thức hệ, quan niệm về tự do, công bằng, dân chủ… Tôi đau đáu và trăn trở về đời sống khổ cực của những người dân nghèo đói, khao khát cho dân tộc tôi không thua kém bất kỳ dân tộc nào. Nội dung ấy phải được dung chứa trong hình thức mới của thi ca. Hình thức mới ấy nằm trong nhịp điệu, tiết tấu nhanh trong chuyển động tốc độ của đời sống hiện đại. Cách diễn đạt dứt khoát, tối giản, liên kết rời và xa nhau tạo cho thơ một hơi thở mới, người phương Đông chúng ta quen gọi là “Khí”. Theo tôi, “Khí” làm nên cốt cách thi sỹ và phân biệt được các thế hệ thi ca.

 

– Ko Hyeong Ryeol: Ông từng nói “Rất nhiều những bóng dáng đang loay hoay nằm ì trong bản năng với vẻ mặt coi thường học vấn”. Vậy xin hãy giải thích thêm về “học vấn”?

 

– MVP: Quan niệm học vấn đối với một nhà thơ không đơn giản như phải có học hàm học vị. Nhà thơ phải tự trang bị cho mình  kiến thức tổng hợp ở mọi lĩnh vực. Nhà thơ, theo tôi phải là nhà văn hoá. Kiến thức văn hoá ấy lắng sâu vào nhà thơ một cách tự nhiên, và tới một hoàn cảnh “hữu duyên” nào đó, nó đột khởi dâng lên thành cảm xúc thi ca. Lúc ấy tứ bài thơ vụt đến bất ngờ, tưởng như “của nhặt được”, nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó đã lâu. Một bóng cây lạ, ngôi nhà lá đơn sơ, một gương mặt… Tất cả tưởng như vô tình thoáng qua, nhưng vào một thời khắc đặc biệt, nó sẽ hiển hiện trong không gian thơ thật riêng biệt và lộng lẫy.

 

– Ko Hyeong Ryeol: Câu thơ “The silent lamp shines even brighter” (Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ) trong bài thơ Tắm đầu năm, theo tôi, dường như tiêu biểu cho phong cách thơ Mai Văn Phấn. Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc “giao tranh” giữa văn xuôi theo lối “tư bản” và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Ông có nghĩ rằng sự súc tích trong những bài thơ của ông ở một mức độ nào đó phù hợp với thi ca hiện đại?

 

– MVP: Về bài thơ Tắm đầu năm của tôi, nhà văn Bão Vũ đã viết: là sự tắm ánh sáng trong nỗi cô đơn chơ vơ vào một đêm đầu năm chống chếnh. Ánh đèn xối vào những góc khuất của tâm hồn làm sạch những ngóc ngách. Sự vệ sinh tâm hồn vào đêm đầu năm là sự thanh toán với quá khứ xám ngắt, một sự sám hối.  Cái ánh sáng ấy cũng bồng bềnh hoài thai, sắp sinh nở những điều rực rỡ mà ta đang kỳ vọng… Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ. Trong hoàn cảnh này, tôi gọi một ai đó, một người bất kỳ, cũng không một tiếng vang, không một sự  hưởng  ứng, nỗi cô đơn tột cùng. Ở đây chẳng có gì ngoài vừng sáng trong sạch và cao quý. Đúng như ông nói: Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc “giao tranh” giữa văn xuôi theo lối “tư bản” và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Khuynh hướng cách tân của tôi, là xoá nhoà ranh giới giữa văn xuôi và thi ca. Tôi đã từng thử nghiệm thành công, viết nhiều bài có hình thức văn xuôi, nhưng quyến rũ bạn đọc vào một không gian thơ rộng lớn và thậm phồn. Thơ hiện đại ít chú trọng vào nhịp điệu, tu từ, đặc biệt tránh dùng mỹ từ. Nhưng, những câu văn xúc tích, giản dị được đặt trong một “từ trường thơ”, có sức mạnh thôi miên gấp nhiều lần những câu mang nhịp điệu quen thuộc. Những bài thơ của tôi viết theo cách này, lúc đầu bị bạn đọc phản đối quyết liệt, bởi họ đã quá quen với quan niệm truyền thống. Nhưng thời gian qua đi, những giá trị thi ca đích thực vẫn còn đó. Những giá trị thi ca mới mẻ, thậm chí xa lạ hôm nay sẽ dần chinh phục được bạn đọc và nó sẽ trầm tích thành “truyền thống”. Tôi rất biết sở thích của số đông bạn đọc, nhưng không bao giờ có chủ ý làm thơ để “ve vuốt” sở thích đó. Thơ tôi là ngôi nhà của riêng tôi, truớc hết, ai muốn vào xin hãy gõ cửa và tuân theo những nghi thức nhất định.

– Ko Hyeong Ryeol: Cảm ơn ông!

(Nguồn: Tạp chí Thi Bình (Poem and Comment Magazine), Hàn Quốc, 12/2010), Báo Văn Nghệ Trẻ số 1-2/2011, tạp chí Cửa Biển số 113/2011)

 

NguồnThơ tuyển Mai Văn Phấn (thơ cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn), Nxb. Hội Nhà văn, 2011

Leave a Reply