Tiếp cận diễn ngôn của các đại biểu tự sự học cấu trúc luận cùng chuyện phân biệt hai chiều đồng-lịch đại và tính cách nguyên-thứ sinh của dụng ngữ Nói-Viết


Lê Thời Tân

Việc quên tính cách lịch đại của nói-viết đã tạo điều kiện cho việc nhận nhầm rằng diễn ngôn là nói thuộc về lời nói động còn văn bản là viết thuộc về ngôn ngữ tĩnh. Thực tế cái thao tác đồng đại hóa chia đôi nói viết đó qua một hồi luận giải về vấn đề gọi là các hướng tiếp cận (ngôn ngữ học) đối diễn ngôn rất có thể đã dẫn ta đến với một sự lẫn lộn các bình diện (ngôn ngữ-lời nói) của ngôn ngữ học cấu trúc luận. Việc đó đồng thời cũng khiến ta lẫn lộn khu vực nghiên cứu của các tác giả phân tích diễn ngôn. Hậu quả chính là việc quy một cách giản tiện rằng cặp diễn ngôn/văn bản là đối ứng đồng đẳng với cặp lời nói/ngôn ngữ của ngôn ngữ học cấu trúc luận F.de Saussure.

Thực ra, viết đi sau hay đi kèm nói vẫn là phần thuộc về nửa lời nói song song với nửa ngôn ngữ trong thế lưỡng phân của F.de Saussure. Diễn ngôn được tạo nên từ cả nói lẫn viết và nó thuộc về lời nói. Dù gì đi nữa thì ta cũng phải thấy rằng sự thể diễn ngôn nằm trong quang cảnh lời nói, diễn ngôn chồng trùng lên hay thuộc về hoạt động ngôn ngữ. Tổ sư ngôn ngữ học cấu trúc luận F.de Saussure có nói đến tương lai có thể hình thành nên một khoa “ngôn ngữ học của lời nói” trong khi ngôn ngữ học ngôn ngữ mà ông đã xây dựng lại sẽ là tiền đề của ngành lớn hơn – ngành kí hiệu học. Có thể xem nghiên cứu diễn ngôn ngày nay là khoa học của lời nói hoặc bao quát hơn khoa học của hoạt động lời nói. Nếu bằng lòng với cách gọi “khoa học diễn ngôn” với ít nhiều sắc thái “phiếm chỉ” như thế thì ta sẽ thấy khoa học này có nhiều hướng nhiều nhánh. Có hướng “siêu ngôn ngữ” muốn trực diện với đời sống đích thực của lời nói đối thoại phức điệu của Bakhtin hồi đầu thế kỉ XX. Đến cuối thế kỉ XX lại có hướng đặt lại vấn đề diễn ngôn trong bối cảnh hậu-giải cấu trúc luận của J.Derrida, M.Foucault. Giữa thời gian đó có việc các nhà ngữ pháp tạo sinh, ngữ pháp chức năng muốn thoát ra khỏi tù túng của lưỡng phân ngôn ngữ-lời nói của ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển trong lúc các nhà tự sự học quay lại lập trường ngữ pháp cấu trúc luận để tiếp cận diễn ngôn truyện kể. Quên mình trong đồng đại hóa viết-nói dễ rơi vào ảo tượng viết tạo văn bản tĩnh/nói tạo diễn ngôn động, gây chướng ngại cho việc tiếp cận tồn tại đích thực của diễn ngôn.

Mặt khác chúng ta còn phải thấy rằng trong cả dụng ngữ nói lẫn viết đều tồn tại vấn đề “nguyên sinh” và “thứ sinh”. Chào hỏi hàn huyên là nguyên sinh mà dân hỏi bộ trưởng trả lời hay tuyên thệ nhậm chức là thứ sinh; viết mẩu giấy nhắn việc hay ghi nhắc thời gian ấp mẻ trứng vịt lộn là nguyên sinh mà viết bản tường trình hay sáng tác một truyện ngắn là thứ sinh.  Chúng tôi cho là tự nhiên khi trích dẫn câu thơ “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp” kèm việc chú rõ tên tác giả “Hồ Chí Minh”, nhưng lại thấy băn khoăn khi đọc thấy đề thi văn trích dẫn câu “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối” kèm tên Nam Cao đặt trong đóng mở ngoặc đơn liền đó. Ý thức được vấn đề “nguyên sinh” và “thứ sinh” trong dụng ngữ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội một loạt vấn đề liên quan đến diễn ngôn. Ở đây xin đặc biệt chú ý thêm đến tính cách đặc biệt của thể loại sáng tác tự sự ngôn từ như là một thể loại ngôn ngữ thứ sinh độc đáo. Những sáng tác tự sự viết ra bởi một tác giả nhà văn (không phải viết như viết một bức thư hay bản thông báo ngôn ngữ nguyên sinh) đó là một sự thể hòa vào ở nó kể-thuật/tả-viết/qua hàng/bỏ lửng,v.v. Nó là một văn bản để ta đọc nhưng cũng là câu chuyện để ta nghe. Khi một người già vẫy kẻ ít tuổi xung quanh lại hỏi “có muốn nghe kể chuyện đời xưa không” thì đó là dụng ngữ nguyên sinh. Nhưng khi cụ ta cất lời kể và kể cho đến hết thì cái diễn ngôn tạo ra đó là một dụng ngữ thứ sinh. Ai ngăn cản được cụ già này bên cạnh việc sử dụng một ngôi thứ ba gây ảo giác “truyện đang tự nó diễn ra” còn “diễn nhại” lại một “lời trực tiếp” từ ngôi nhân xưng thứ nhất? Một việc diễn nhại phỏng dụng mà nếu ta cần “viết nó ra” thì đã có sự hỗ trỡ của các kí hiệu “văn bản viết” từ dấu hai chấm, gạch nối dẫn lời thoại hay dấu ngoặc kép biểu thị “nguyên văn”, v.v. Viết và nói/ngôn ngữ nguyên sinh và ngôn ngữ thứ sinh quan hệ với nhau sinh động và tinh tế ở tác phẩm tự sự. Không phải vì nói viết truyện mà hiểu rằng văn bản truyện là văn viết cũng chả phải vì chuyện kể dân gian mà bảo rằng đó là khẩu ngữ sinh hoạt. Truyện kể là tấm thảm dệt lên từ các nhóm lời nói quan hệ theo nhiều mối với nhau. Ý thức các chiều lịch-đồng đại của nói-viết cùng như tính cách nguyên-thứ sinh của dụng ngữ tự sự là một điều cần thiết trong quan sát chúng như là một sự thể diễn ngôn.[1]

Lẫn lộn các chiều lịch đại và đồng đại nói-viết cùng việc thiếu đi một sự chú ý phân biệt tính chất nguyên-thứ sinh của dụng ngữ gây rối rắm trong tiếp cận diễn ngôn. Và một trong nhưng hệ lụy dễ thấy nhất là không thấy được những khác biệt trong ý hướng phân tích diễn ngôn của các học giả. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới bài viết công phu “Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh. Hướng đầu tiên mà tác giả trình bày chính là hướng tiếp cận ngôn ngữ học. [2] Có thể đồng ý với cách gọi “hướng tiếp cận ngôn ngữ học” đối với diễn ngôn nhưng tác giả nên thực hiện việc phân luồng xếp ô cho các đại biểu lấy ra làm dẫn chứng (điều này có liên quan đến mục 1.Sự phức tạp của khái niệm và những khó khăn trong chuyển ngữ của bài viết). Trên thực tế các đại biểu R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette không  phải là những nhà ngôn ngữ học thực sự. Cứ như những gì họ đã làm thì họ là những người vận dụng tinh thần ngôn ngữ học cấu trúc luận vào nghiên cứu văn bản tự sự. Các nhà tự sự học này tiếp nối tinh thần gạt qua một bên câu chuyện lời nói để nghiên cứu sáng tác tự sự dưới góc nhìn ngữ pháp học cấu trúc luận. Cần thấy ngay từ đầu loại diễn ngôn mà R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette tiếp cận là loại diễn ngôn tự sự – là lời nói thứ sinh đặc biệt. Không phải ngẫu nhiên mà Tz.Todorov đã tuyên xưng danh từ “tự sự học” để gọi hướng nghiên cứu mà cho đến thời điểm ông viết “Ngữ pháp Chuyện Mười Ngày” người ta vẫn quen nghĩ đó là thi pháp học. Các nhà tự sự học cụ thể như R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette đã “văn bản hóa” sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyện kể để tiếp cận nó theo cách mà F.de Saussure xưa kia từng dùng tiếp cận ngôn ngữ. Chúng tôi nghĩ rằng lẽ ra trong mục 2.1.Hướng tiếp cận ngôn ngữ học này tác giả phải nói đến N.Chomski, M.Halliday, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Hiệp. Nói tóm lại dù là đang liệt kê các đại biểu phục vụ cho việc thuyết minh vấn đề chuyển dịch thuật ngữ “diễn ngôn” (mục 1 bài viết) hay chứng minh sự tồn tại của hướng tiếp cận ngôn ngữ học đối với diễn ngôn (mục 2.1.Hướng tiếp cận ngôn ngữ học trong bài viết) thì tác giả bài viết vẫn luôn cần chú ý đến sự khác biệt giữa G.Yule, M.Halliday cùng Diệp Quang Ban (xem “bảng tóm tắt” – mục 1 của bài viết) với R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette (lần lượt được dẫn đến ở cả hai mục 1 và 2.1 của bài viết) nếu như vẫn còn muốn đặt tất cả các đại biểu đó dưới cái bóng che của cái ô  hướng tiếp cận ngôn ngữ học đối với diễn ngôn. Thực tế tiếp cận diễn ngôn của các nhà tự sự học cấu trúc luận yêu cầu ta phải dành cho R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette một “không gian” riêng. Chúng tôi sẽ dừng lại ở ba đại biểu tự sự học này trong một nỗ lực làm rõ hơn về vấn đề cần phải chú ý tới việc phân biệt nói-viết, phân biệt ngôn ngữ nguyên sinh-ngôn ngữ thứ sinh và ý hướng đặc biệt của các nhà nghiên cứu văn học cấu trúc luận khi tiếp cận diễn ngôn.

Rõ ràng là ta không thể lập luận một cách đơn giản rằng truyện kể là văn bản viết do đó cho Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Barthes là phân tích ngôn ngữ. Cần thấy rằng tác giả của công trình có tính cách dẫn luận cho một lí thuyết mới này tuy trực diện với một loại ngôn bản ngôn ngữ thứ sinh đặc biệt – tự sự truyện kể nhưng tinh thần của Barthes vẫn là ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển. Ông cố ý đông kết các diễn ngôn tự sự truyện thành đơn vị đồng đẳng với đơn vị câu của ngôn ngữ học hình thức để tái phát hiện cấu trúc ngôn ngữ tiềm ẩn. Có thể nói Barthes không phải không ý thức tới tính chất “lời nói” của truyện kể nhưng ông chỉ muốn quy chúng về ngôn ngữ, xem chúng là những văn bản tự sự kết quả của những sự vận dụng các khuôn ngữ pháp tự sự trừu tượng. Nếu cho rằng thuật ngữ “ngôn bản” đã có sự chú ý tới “lời nói” (ngôn) thì trong trường hợp Barthes trọng tâm vẫn là “ngôn ngữ” (bản). Cái ý hướng cấu trúc luận mạnh tới nỗi khiến cho Barthes thậm chí tìm cách định nghĩa lại tác gia và việc viết để “cắt chặn” tính hướng ngoại – vốn là đặc tính tự nhiên của diễn ngôn. Trong tác phẩm phê bình đầu tiên Độ không của Viết (1953) R.Barthes có phân biệt viết (văn) và khẩu ngữ, sáng tác và nói năng: “Viết biểu hiện ra tính phong bế khác với khẩu ngữ. Viết hoàn toàn không phải là phương tiện giao lưu, cũng chẳng phải con đường mở rộng cho thông hành của ý hướng ngôn ngữ”.[3] R.Barthes nói “Dùng từ “vănhọc”, tôi vừa không chỉ một người cũng chẳng chỉ một loạt tác phẩm. Thậm chí cũng chẳng chỉ một thứ giao lưu xã hội hay diễn giảng mà là chỉ những quanh co phức tạp của một lối đi thực tiễn – thực tiễn của viết. (… …)  Văn học tức là viết hoặc văn bản”.[4] R.Barthes cho rằng nói hướng ra bên ngoài, là một cách giao lưu với người khác. Viết hướng vào bản thân hành vi viết, là giao thiệp với chính mình. Phân biệt này chuyển hóa thành một sự phân biệt tác gia với người viết. Trong S/Z nhân phân tích sáng tác Flaubert, R.Barthes nhắc lại “Bản chất của viết cự tuyệt trả lời câu hỏi – ai đang nói?” – một câu hỏi mà trước đó R.Barthes đã nêu lên trong đầu đề một cuốn sách (câu mở đầu Tác gia và Người viết:[5] “Ai nói? Ai viết?”). R.Barthes nhận thấy có một số tác giả viết đúng là để miêu tả một cái gì đó. Những người này thông qua việc viết khiến người ta chú ý tới đối tượng mà họ miêu tả. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là để thực hiện mục đích đó. Với những nhà văn đó, ngôn ngữ giúp đỡ chứ không cấu thành thực tiễn viết. R.Barthes gọi kiểu nhà văn này là “người viết”, gọi phương thức viết của họ là kiểu viết “cập vật”. Còn tác gia thực sự lại là những người mà việc viết ở họ không khiến ta chú ý tới những thứ bên ngoài nó mà dắt dẫn ta hướng về bản thân sự viết. Họ viết làm sản sinh viết, họ là tác gia “bất cập vật”. R.Barthes nói, viết ở những người mà ông gọi gọi là “người viết” khi nào cũng là để tức khắc nói lên điều mà họ suy nghĩ. Cái công năng viết biểu đạt trực tiếp tương tự khẩu ngữ của những người mà R.Barthes gọi là “người viết” đó đối lập với cái công năng viết thực sự ở những kẻ gọi được ông gọi là “tác gia”. Phân biệt tính cập vật của lối viết “người viết” và tính bất cập vật của sự viết “tác gia” đó gần gũi về mặt tinh thần với  phân biệt “công năng chỉ xưng” và “công năng thi ca” nơi ngôn ngữ của R.Jacobson.

 Xin nhắc lại không phải các nhà cấu trúc luận như R.Barthes hay Tz.Todorov không chú ý tới hoạt động ngôn ngữ lời nói. Todorov thậm chí  khi bàn về các thể loại văn học đã chú ý phân biệt văn bản texte với discous diễn ngôn. Thử đọc một đoạn chuyên luận “Xung quanh Khái niệm Văn học” của Tz.Todorov (La Notion de Littérature et Autres Essais, Seuil xuất bản 1983): [6] “Thể tài chính là chủng loại văn bản. Định nghĩa này đã sử dùng thêm một thuật ngữ thế nhưng vẫn không che khuất đi được một đặc trưng đồng nghĩa trở đi trở lại: thể tài tức chủng loại, văn học tức vănbản. Thêm một tên gọi chả bằng đi tìm hiểu nội hàm của khái niệm. Điều đầu tiên cần tìm hiểu là văn bản hoặc dùng một từ đồng nghĩa khác để nói – từ diễn ngôn (discous). Văn bản hoặc diễn ngôn như người ta nói, là một chuỗi câu. Ấy thế nhưng cũng chính vì quan điểm đó mà sự hiểu nhầm đầu tiên đã hình thành. (Người trích tô đậm và lược đi một đoạn) Câu là một thực thể ngôn ngữ cũng là một thực thể của nhà ngôn ngữ học. Nó là tổ hợp từ ngữ có thể chứ không phải là một hành vi lời nói  cụ thể. Cùng một câu có thể được nói trong những hoàn cảnh khác nhau. Đối với nhà ngôn ngữ học mà nói, thân phận câu đó không có gì thay đổi dù ý nghĩa thì đã thay đổi tùy theo hoàn cảnh ngôn thuyết. Diễn ngôn không phải là do câu cấu thành mà là do câu được trần thuật cấu thành. Hoặc nói đơn giản hơn do câu trần thuật tổ thành. Vậy mà việc giải thích sự thực nói năng đó một mặt bị quyết định từ câu được trần thuật, mặt khác cũng chịu quyết định từ bản thân hành vi nói năng. Hành vi nói năng này bao gồm người nói, người nghe, thời gian-địa điểm, lời phía trước và lời phía sau;  tóm lại, nó bao gồm một ngữ cảnh. Nói cách khác, lời nói trước sau và thế tất phải là hành vi nói năng (acte de parole)”. Đây là một đoạn trong phần I (Nguồn gốc thể tài) của chuyên luận La Notion de Littérature et Autres Essais. Đoạn đó cho ta thấy Todorov có chú ý phân biệt văn bản texte với discous diễn ngôn. Thế nhưng tiếp đó ở phần II bước sang phân tích các sản phẩm “do câu được trần thuật cấu thành” như Chuyện Mười Ngày, Gulliver Du thì ông trước sau chỉ quan tâm tới cấu trúc ngôn ngữ. Todorov trên thực tế đã mở đầu phần II nhan đề “Hai nguyên tắc của tự sự”  bằng việc dẫn dụng Propp (Hình thái truyện cổ tích Nga). Tới lúc kết thúc phần này,  cha đẻ của danh xưng “tự sự học” (narratologie) lại viện dẫn R.Jacobson – người được xem là đã khai sinh danh xưng “chủ nghĩa cấu trúc”. Và ngay sau khi luận giải về sự khu biệt ẩn dụ và hoán dụ (đi kèm với việc chỉ rõ thơ chịu sự chi phối của của nguyên tắc tính tương tự trong lúc văn xuôi hoạt động trong quan hệ tương cận) của Jacobson, Todorov đã đề xuất quan điểm cho rằng tiếp nối và chuyển hoán là hai nguyên tắc của tự sự. Nói tóm lại ông hoàn toàn đứng trên lập trường ngôn ngữ học cấu trúc luận. Một lần nữa ta lại thấy mô tả của tác giả Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương về hai mối quan hệ tổ hợp lân cận đồng hiện (syntagmatique) và  liên tưởng  tiềm tàng (inabsentia) đổ bóng xuống thao tác phân tích cấu trúc thơ ca và văn xuôi nơi R.Jacbson, R.Barthes và Tz.Todorov như thế nào.[7]

Dường như lập trường cấu trúc luận nhị nguyên kiểu F.de Saussure mà R.Barthes và Tz.Todorov bộc lộ ra khi phân tích diễn ngôn tự sự nói trên đã được cải thiện ít nhiều nhờ việc đề xuất phương pháp tam phân chú ý thêm tới hành vi trần thuật bên cạnh câu chuyện và lời kể ở G.Genette.[8] Theo chúng tôi việc đề cập thêm chiều hành vi trần thuật ở tác phẩm tự sự chứng tỏ sự chú ý của học giả này tới tính động của nói ở lời kể, tính cách hướng ngoại của chủ thể tự sự. Nói cách khác G.Genette cố gắng tiếp cận truyện kể trong nỗ lực hướng về nó như hướng về diễn ngôn chứ không chỉ là hướng về ngôn ngữ.

Nói tóm lại, cách làm coi văn bản tự sự là một đơn vị như câu và thực hiện quy nạp hình thức hóa ngữ pháp cao độ đối với diễn ngôn truyện kể nói một cách quá quắt – có khác gì việc phân tích các hư từ trong ngữ pháp ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển? Các nhà nghiên cứu văn học theo cấu trúc luận đã gạt tính cách diễn ngôn lời nói của các tác phẩm văn xuôi tự sự (truyện kể) ra và làm việc với các tác phẩm đó như làm việc với một đơn vị cấp trên câu – đơn vị văn bản. Mà với thực thể diễn ngôn thì những nhị nguyên chủ-vị, âm-nghĩa, nội dung-hình thức không phải chuyện cơ bản. Tiếp cận cấu trúc luận kiểu đó đã đánh rơi các giá trị – mượn cách nói của Cao Xuân Hạo – “giá trị ngôn trung” và “giá trị xuyên ngôn”[9] của giao tiếp tự sự truyện kể. Bởi vì mỗi một tác phẩm văn chương dù có thể phân quy được thành cặp bình diện năng biểu và sở chỉ, nhưng để có thể thưởng thức nó ta còn muốn thấy bình diện dụng pháp. Ta muốn biết vì sao nhà văn lại dùng hình thức đó, anh ta giao tiếp với người khác (ngay cả trong trường hợp “độc thoại” viết cho mình) về chủ đề gì? Ngữ pháp của một thiên truyện là kết quả một quy nạp cấu trúc nhưng thiên truyện được viết để đi vào đọc-nghe-xem (tức đi vào ngôn quyển tự ngã – tha nhân hoán đổi khôn cùng) chứ đâu phải chỉ để chờ ngày được phát hiện thấy một cấu trúc trừu tượng nào đó.

Trong lúc đó ngôn ngữ học hậu cổ điển cụ thể là ngữ pháp tạo sinh và cải biến, ngữ pháp chức năng tuy không chuyên biệt hóa loại diễn ngôn TRUYỆN kể (chứ không phải là CHUYỆN kể; tức không đặt vấn đề “ngôn ngữ thứ sinh”) thành đối tượng quan tâm riêng nhưng lại ý thức rất rõ về việc thoát ra khỏi sự chật chội của ngôn ngữ học cổ điển để đưa lời nói vào trong tầm nhìn của mình. Nhận xét của Cao Xuân Hạo “Dù ngữ pháp chức năng của giai đoạn hiện nay vẫn còn là một ngữ học của ngôn ngữ nhiều hơn là một ngữ học của ngôn từ (hay của lời nói) thì nó cũng khác hẳn ngôn ngữ học cấu trúc cổ điển” giờ đây có thể đã phần nào lạc hậu nhưng sự phân biệt giữa hai hướng nghiên cứu mà ông nêu ra thì vẫn còn nguyên đó. Vấn đề có thể là trong ngôn ngữ học, ngữ pháp chức năng là tiến bộ  nhưng trong nghiên cứu cấu trúc luận văn học làm như R.Barthes cũng không hẳn là bảo thủ. Điều đáng phàn nàn có chăng chính là ở chỗ phân tích cấu trúc hình thức hóa cực đoan cuối cùng đã khiến cho hình thức hóa không còn là công cụ phương tiện mà lại biến thành mục đích tự thân. Trong nghiên cứu sáng tác tự sự ngôn từ (loại diễn ngôn ngôn ngữ thứ sinh nhìn ở lao động sáng tác của nhà văn ta có thể gọi là viết nhưng nhìn trong giao tiếp tiếp nhận thì đó là nói-kể) đây là điều cần phải phê bình.

Thế nhưng trách móc là việc dễ, tìm hiểu nguồn gốc của cái tạm gọi là “tội tổ tông” phạm ngay từ thủa gạt lảng Lời-Nghĩa sang một bên của ngôn ngữ học cấu trúc luận mới là việc khó. Vả chăng ở đây còn có vấn đề giới hạn tự thân của phương pháp và công cụ. Hoặc nói như Chomsky khi nhận xét về ngôn ngữ học cấu trúc luận – đó là “hạn chế cần thiết”. Thái độ chấp nhận “hạn chế cần thiết” trong khoa học xã hội nhân văn xa lạ với cái năng lực kiến tạo những đại diễn ngôn tràn đầy vốn từ kiểu song song đẩy mạnh đồng thời nâng cao… Trong khoa học và lí luận chấp nhận một phương-pháp là chấp nhận một con đường gắng đi trọn. Dù đâu đó nghe nói có những chủ nghĩa bách chiến bách thắng và học thuyết muôn năm đang khư khư với chân lí của riêng mình.

Hà Nội tháng 2-2013;  viết lại tháng 5-1013

                                                          Trăm năm ngày mất F.de Saussure

                            Ba mươi năm xuất bản bản dịch Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương

                                                                   


[1] “M.Bakhtin là người đầu tiên đề xướng quan niệm, theo đó các thể loại văn học nghệ thuật cần được nghiên cứu trong cùng một dãy với các thể loại lời nói, bắt đầu từ những lời đối đáp chỉ có một tiếng cho tới những cuốn tiểu thuyết nhiều tập” (Lã Nguyên tuyển dịch, Lí luận văn học Những vấn đề hiện đại, Nxb.ĐHSP, 2012, tr.7). Nhưng đọc Bakhtin ta cũng chớ quên phải chú ý đặc biệt tới tính cách độc đáo của các sáng tác ngôn từ tự sự bên cạnh các thể loại văn học khác. Bất kể là đang tiếp cận cái thực thể tác phẩm truyện này từ hướng nào thì vẫn phải thấy việc để nó cùng mâm cùng chiếu với các phong cách ngôn ngữ khác là một việc khá bất đắc dĩ. Chỉ cần chứng kiến thực tế một thiên truyện đã “nuốt chứa” không hạn chế và với đủ phương cách vào trong nó mọi phong cách lời nói là đủ thấy vấn đề.

[2] Công bố trên phebinhvanhoc.com.vn. Theo chúng tôi, cứ  như những gì mà thực tế bài viết này đã trình bày thì có lẽ không nên nói là “tiếp cận khái niệm diễn ngôn” (xem đầu đề và mục 2 bài bài viết) mà là tiếp cận sự thể diễn ngôn.

[3] Susan Sontag, “Writing Degree Zero”, A Barthes Reader, New York: Hill & Wang Inc., 1982, p.38. Dẫn lại từ  耿 秋壯,“书写的神话-西方文化中的文学-The Myth of Writings: Literature in Western Culture”, 中国人民大学出版社 – China Renmin University Press, 2006.

[4] Roland Barthes, “Inaugural Lecture, College de France”, A Barthes Reader, p.406. Dẫn lại từ sách vừa dẫn.

[5] Xem thêm Lã Nguyên dịch: R. Barthes, “Nhà văn và Người viết”, in trong Lí luận và Văn học – Những vấn đề hiện đại, Nxb. ĐHSP, HN 2012, tr.248. Tuy rất đồng ý với cách dịch của Lã Nguyên nhưng vì vấn đề “ngữ trình” cụ thể của đoạn văn bài viết nên chúng tôi vẫn dùng cách gọi “tác gia và người viết”. Cũng xin nói thêm các cụm từ “cập vật” và “bất cập vật” ở đây tương đương với hai từ “nội động” và “ngoại động” ở bản dịch của Lã Nguyên.

[6]Chúng tôi dịch lại từ bản dịch tiếng Trung –

“巴赫金-对话理论及其他” 托多洛夫著蒋子华张萍译百花文艺出版社2001年版 Bản tiếng Trung đã dịch discous là “thoại ngữ” (Tz. Todorov,  Bakhtin, lý thuyết đối thoại và các vấn đề khác, Tưởng Tử Hoa, Trương Bình dịch. Nxb. Bách hoa, Thiên Tân, 2001). Chúng tôi cũng đọc thấy tên gọi công trình “Проблемы речевых жанров” (bản dịch tiếng Việt của Lã Nguyên “Vấn đề thể loại lời nói”) trong tiếng Trung là “話語的各種形式” (các hình thức thoại ngữ – âm Hán Việt “thoại ngữ đích các chủng hình thức”).

[7] Chúng tôi cũng có luận giải thêm về vấn đề  giải thích hai nhóm quan hệ in praesentiain absentia trong cấu trúc tác phẩm văn học ở bài “Nhận thức lại vấn đề kết cấu tác phẩm văn học dưới góc nhìn Cấu trúc luận” (2009).

[8] Chúng tôi từng đề cập đến Genette trong bài “Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết” (2008). Khi đó chúng tôi dùng từ “thoại ngữ” với nghĩa tương đương với từ “diễn ngôn” mà bài chúng tôi đang viết ở đây dùng. Nói như vậy cũng có nghĩa rằng trong bài đã viết, từ “diễn ngôn” được chúng tôi dùng với nghĩa hẹp hơn nghĩa của từ “thoại ngữ”. Xin đọc một đoạn trong bài đã viết: “Học giả người Pháp Genette đi tiên phong đề xuất phương pháp tam phân (Discours du recit. Seuil, 1972. J.E.Lewin dịch  ra tiếng Anh Narrative Discourse. Ithaca: Cornell Univ. Press, 1980. Discours du recit là một bộ phận trong sách Figures III, Paris: Seuil, 1972): 1) câu chuyện (histoire) tức nội dung được kể; 2) thoại ngữ tự sự/trần thuật (récit) tức diễn ngôn kể, đó là văn bản tác phẩm tự sự mà độc giả đọc; 3) hành vi trần thuật (narration) tức quá trình hoặc hành động làm nảy sinh thoại ngữ. “narration” trong tam phân của Genette đề cập đến quan hệ người nói/tác giả (“tiếng nói” tự sự) và người nghe/độc giả (kẻ thụ thuật). Có thể tạm hình dung tam phân của của Genette chính là tiếp tục nhị phân thoại ngữ tự sự thành diễn ngôn lời kể và hành vi sản sinh lời kể. Genette nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của hành vi tự sự: không có hành vi tự sự thì không có thoại ngữ tự sự, tức cũng không có chuyện được kể ra”. Với một chút thay đổi – khẳng định “ba bình diện đó phải được hình dung là tam diện nhất thể, chúng đồng sinh đồng tồn”, chúng tôi đã chuyển hóa tam phân của Genette thành hình ảnh “tam giác tự sự”.

[9] Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, Nxb KHXH, 2005, tr.14.

Nguồn: Bản tác giả gửi Phê bình văn học. Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply