Tiếp nhận Edgar Allan Poe trong nghiên cứu phê bình ở Việt Nam giai đoạn trước 1945


Hoàng Kim Oanh

Trong giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và quốc tế, so với các nền văn học khác, văn học Mỹ đã du nhập vào Việt Nam khá sớm nhưng không trực tiếp ở mốc khởi đầu. Nhịp độ phát triển cũng không bình thường do chịu sự chi phối có tính quyết định của hoàn cảnh lịch sử, chính trị đặc biệt, đầy biến động của đất nước. Ngay buổi giao thời của nền văn học chữ quốc ngữ mới hình thành, Edgar Allan Poe, một hiện tượng độc đáo, kì lạ của văn học Mỹ thế kỉ XIX, người góp phần khai sinh nền văn học Mỹ, người đầu tiên đại diện cho cả một nền văn học bên kia đại dương đã có mặt ở Việt Nam, và đã được tiếp nhận trong một bối cảnh giao lưu khá đặc biệt: từ ảnh hưởng văn hoá – văn học Pháp.

Khi chưa có tác phẩm nào của Edgar Poe được dịch ra tiếng Việt, các thế hệ trí thức Tây học đầu tiên đã tiếp cận ông qua những bài bình giảng văn chương (Pháp) trong nhà trường Pháp – Việt, rồi bài giới thiệu Thơ Baudelaire của Phạm Quỳnh. Cái tên Edgar Allan Poe còn được Tự lực văn đoàn đề cao qua bài giới thiệu Vàng và Máu của Khái Hưng. Cũng có thể, nhiều người đã tìm đọc những Con quạ, Con cánh cam vàng… của Poe từ trước đó qua các bản tiếng Pháp, tiếng Anh. Song việc đem những quan điểm thẩm mỹ kỳ lạ, những kỹ thuật sáng tác độc đáo của Edgar Poe đến với văn chương Việt Nam, có thể nói nhờ công “vỡ đất” của giới nghiên cứu phê bình. Do vậy, dựa vào những văn bản sưu tầm được, chúng tôi không đi theo diễn trình tiếp nhận quen thuộc: dịch thuật – mô phỏng – sáng tác – phê bình như nghiên cứu tiếp nhận một số tác giả khác mà chọn khảo sát sự tiếp nhận Edgar Allan Poe qua hoạt động giới thiệu, nghiên cứu phê bình, con đường Poe được tiếp cận đầu tiên. Đồng thời, cũng bởi “phê bình là một trình độ cao của tiếp nhận, một sự tiếp nhận có ý thức và phương hướng”(1).

1. Những bài viết về ảnh hưởng văn học Pháp trong văn thơ Việt Nam có đề cập đến ảnh hưởng của E.A. Poe xuất hiện từ năm 1934 đến 1942, đây là lúc cuộc gặp gỡ phương Tây đã đi đến tột cùng con đường thăng hoa của nó; cũng là lúc nhiều phương pháp lý luận phê bình phương Tây được du nhập và được vận dụng vào thực tiễn văn học nước ta. Chính khi đó, việc tiếp nhận E. Poe cũng phần nào phản ánh sự thay đổi trong tư duy nghiên cứu văn học theo hướng Tây hóa.

Không kể cái mốc năm 1917 lần đầu tiên cái tên “Edgar Poe” được Phạm Quỳnh nhắc đến trong bài nghiên cứu Thơ Baudelaire, Poe chính thức xuất hiện trên văn đàn Việt Nam trong năm bài viết và công trình đầu tiên của các dịch giả, các nhà nghiên cứu phê bình Việt Nam. Đó là lời giới thiệu Vàng và máu của Khái Hưng (1934), bài giới thiệu tiểu sử E.A. Poe được in cùng hai bài thơ đầu tiên của Poe được dịch ra tiếng Việt trong tập Danh văn Âu Mỹ của Nguyễn Giang (1936), lời tựa và kết trong chuyên luận Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại (1941), bài tổng kết về Thơ Mới Một thời đại trong thi ca mở đầu Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh (1942), và bài viết về Thế Lữ, Khái Hưng trong Nhà văn Việt Nam hiện đại của Vũ Ngọc Phan (1942).

Xét về chủ thể tiếp nhận, cả năm độc-giả-đặc-biệt-đầu-tiên này của E.A. Poe đều là những trí thức Tây học nhưng vốn xuất thân từ gia đình có truyền thống Nho học. Khái Hưng (1896-1947) từng học ở trường Albert Sarraut, đỗ tú tài, dạy học ở trường tư thục Thăng Long, là một trong những người khai sáng và là nhà văn trụ cột của Tự lực văn đoàn. Vũ Ngọc Phan (1902-1987), Hoài Thanh (1909-1982), Trần Thanh Mại (1911-1965) là những tú tài tây học, nhà nghiên cứu phê bình uyên bác, đồng thời cũng là những nhà văn, nhà giáo mẫu mực có nhiều công trình bất hủ. Bản thân Nguyễn Giang (1910-1969) con của học giả uyên bác Nguyễn Văn Vĩnh, cũng là một nhà thơ, từng du học bên Pháp, chủ trương Âu Tây tư tưởng và Đông Dương tạp chí. So với tầng lớp công chúng đông đảo của xã hội Việt Nam thời bấy giờ, năm tác giả này thuộc lớp trí thức có trình độ văn hoá, kiến thức văn học cao, là thành phần ưu tú trong xã hội đồng thời cũng là những nhà văn, nhà phê bình chuyên nghiệp. Tuy vậy, xuất phát từ những hoàn cảnh xuất thân khác nhau, mục đích tiếp nhận khác nhau, quan điểm thẩm mỹ khác nhau, mỗi người đã có một hướng tiếp cận Edgar Poe cụ thể khác nhau.

Khái Hưng đi theo chủ trương của Tự lực văn đoàn – “một hàn lâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng xa gần thừa nhận”(2) – vớ́i tôn chỉ ” Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam” nên mong mỏi “sẽ có nhà văn dung hợp được văn Thái Tây với văn Á Đông, để gây một lối viết theo óc khoa học mà vẫn giữ được thi vị của văn Tàu”(3). Năm 1934, khi đọc một số truyện kinh dị của Thế Lữ, cả Khái Hưng và Nhất Linh đều sửng sốt, hết lời ngợi khen phong cách viết truyện mới mẻ “có óc khoa học của Edgar Poe”. Vì sao Khái Hưng đánh giá cao những truyện kinh dị và trinh thám ảnh hưởng Edgar Poe của Thế Lữ? Tuy cũng mang tâm lý của người Việt Nam vốn quen đọc những truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh từ bé, nhưng với con mắt một nhà phê bình, từng tiếp xúc với văn học phương Tây, Khái Hưng đã sớm nhận ra sự bịa đặt dễ dãi trong lối kể chuyện của họ Bồ, chỉ dựa vào trí tưởng tượng, “có khi không cần hợp lý chút nào”(4). Do đó, ông đề cao cốt truyện gần sự thực và nhất là óc khoa học trong truyện Vàng và Máu của Thế Lữ. Hơn nữa, với chủ trương không muốn đứt gãy với truyền thống văn chương Việt, nhưng vẫn giúp con người An Nam theo kịp đà tiến bộ của phương Tây, các nhà văn chủ trương Tự lực văn đoàn rất đề cao óc khoa học trong các truyện của Edgar Poe, cho là cái hay ở chỗ “tuy vẫn làm cho ta phải rùng mình, và nhờ có óc khoa học mà khiến truyện Vàng và Máu huyền mà không hoặc chút nào”(5). Trong thực tế, những truyện duy lý kiểu Edgar Poe của Thế Lữ đã giúp Tự lực văn đoàn thu hút đông đảo công chúng và khá thành công trong việc đả phá óc mê tín dị đoan, nâng cao dân trí như tôn chỉ của văn đoàn.

Vũ Ngọc Phan từng tìm đọc say mê nguyên tác các truyện kì dị của Hoffman và Edgar Poe ở thư viện Trường Viễn Đông Bác Cổ, do vậy dễ nhận ra ảnh hưởng Edgar Poe và Hoffmann trong sáng tác của Thế Lữ. Nhưng với óc phân tích của một nhà sư phạm, dịch giả, nhà phê bình chuyên nghiệp, ông cũng tinh tế thấy rằng ở hai tác giả này “chỉ những truyện căn cứ vào khoa học, vào sự thiết thực mới thật hay, còn những truyện huyền hoặc của hai nhà văn ấy cũng ít khi cảm được người ta”(6). Với ông, cả thơ và truyện của Edgar Poe chỉ “bày tỏ rặt một ý tưởng u sầu, những ý tưởng não nùng, ghê rợn trong bài Con quạ hay Mơ trong mộng (Le Corbeau và Un rêve dans un rêve, do Mallarmé dịch ra chữ Pháp) của nhà thi hào Mỹ cũng không xa lạ gì những ý tưởng rùng rợn của ông trong tập Contes extraordinaires (Truyện kì dị do Charles Baudelaire dịch ra Pháp văn)”(7).

Nhận xét văn Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng kĩ thuật viết truyện ngắn của Khái Hưng tuyệt hay, quan sát lão luyện, vừa linh hoạt vừa “thường ngụ một ý thật cao” nhất là ở đoạn kết của truyện “bao giờ tác giả cũng để cho người đọc có một cảm tưởng xa xăm man mác”(8). Có lẽ nhà nghiên cứu này muốn nói đến lý thuyết xây dựng truyện ngắn của Poe về hiệu quả của câu chuyện nơi người đọc nên đã dẫn chứng hai truyện ngắn HạnhGiọc đường gió bụi và cho rằng lối lập luận của Khái Hưng chính là học tập “của Anatole France, của Hoffmann, của Edgar Poe, toàn những nhà văn chủ trương thuyết hoài nghi”(9).

Chắc chắn nhờ kinh nghiệm từng đọc không ít tác phẩm của Poe – cả nguyên tác tiếng Anh lẫn những bản dịch tiếng Pháp – người đọc đặc biệt này đã nhìn thấy được sự khác biệt giữa hai tác giả Thế Lữ – Edgar Poe và cách lập luận giống Poe trong sáng tác của Khái Hưng – cây bút quan trọng của Tự lực văn đoàn. Đây là một cách đọc Poe khá chính xác của một ngòi bút chuyên nghiệp những năm đầu tiếp cận Poe mà nhiều độc giả cùng thời đồng cảm nhận. Yêu mến nhưng có chọn lọc và chừng mực, đó cũng là phong cách vốn có của Vũ Ngọc Phan.

Edgar Allan Poe của Nguyễn Giang được thể hiện trong tuyển tập Danh văn Âu Mỹ năm 1936, cũng là bài giới thiệu đầu tiên về E. Poe ở Việt Nam. Có nhiều khả năng E. Poe đã từng được ông tiếp cận từ ngay trên đất Pháp. Poe là người có cuộc đời đầy huyền thoại, nhiều ý kiến đánh giá trái ngược nhau, khen chê, khích bác, thậm chí còn bôi nhọ miệt khinh, nhưng bản tóm tắt của Nguyễn Giang khá chính xác và đi theo hướng ca ngợi là chính. Đánh giá tài năng của Edgar Allan Poe, dịch giả đã tỏ ra đồng cảm sâu sắc: “Cái tài của nhà thi sĩ Poe cũng giống cái đời của tiên sinh. Đọc thơ của tiên sinh ta cảm thấy một cuộc đời ba đào, sầu thảm, cay đắng lạ lùng”(10). Nguyễn Giang đã chọn dịch bài thơ Con quạ (Le Corbeau), chính là bài thơ làm nên tên tuổi của Poe ngay từ khi nó ra đời, và bài Mộng ảo (Un Rêve dans un Rêve) cũng là bài thơ mang bóng dáng cuộc đời cô độc, bất lực đau buồn của Poe. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, thơ của Poe đã gặp được tâm hồn tri âm của nó ở Việt Nam với một sự đồng cảm, trân trọng. Nhưng qua mấy dòng ngắn ngủi của bài giới thiệu, người đọc có thể nhận ra ở góc độ đạo đức, ít nhiều, Nguyễn Giang vẫn có thái độ phê phán con người bê tha “rượu chè quá chén” của người thi sĩ tài hoa bất hạnh mà ông ngưỡng mộ này.

Trong chuyên luận Hàn Mạc Tử, Trần Thanh Mại cho thấy những biến chuyển trong tình cảm và cách nhìn nhận của ông về Hàn Mạc Tử bằng cách mượn lời nhà thơ Mỹ W. Whitman nói lên thái độ ác cảm ban đầu nhưng rồi sau đó lại khâm phục tài năng và yêu mến luôn con người Edgar Poe. Trích dẫn ý kiến đó, suy ra, Trần Thanh Mại ban đầu cũng không yêu mến Poe như chính ông từng ác cảm, lạnh nhạt với thơ Hàn Mặc Tử. Nguyễn Bá Tín trong Hàn Mặc Tử – anh tôi có tiết lộ: “Ông Mại coi anh Trí như thằng điên (nguyên văn) và không nhận lời giới thiệu văn thơ Anh mà ông ta xét chẳng ra gì”(11). Nhưng “nhà thơ điên” Edgar Poe đã chinh phục được ông như từng chinh phục W.Whitman khi ông kết luận: “không còn chi đúng hơn là mượn câu của Walt Whitman, nhà thi sĩ Mỹ đã được nhắc đến ở trang đầu sách, khi tác giả tập Lá cỏ (Feuilles d’herbe) phê bình Edgar Poe”(12). Tuy có ý kiến cho rằng Trần Thanh Mại hơi cực đoan, “đao to búa lớn” nhưng thiết nghĩ, ông đã rất thành thực khi nêu lên sự thay đổi thái độ của mình với Hàn Mặc Tử – cũng có thể coi là với Edgar Poe – từ ác cảm đến yêu mến, ngưỡng mộ. Theo ông, lý do là nếu ông công nhận lối thơ tượng trưng mà Hàn Mặc Tử cùng với các môn đệ của chàng chủ trương, thì cũng có nghĩa là “công nhiên thừa nhận sự bí hiểm của văn thơ, nghĩa là sự phá sản của tư tưởng”(13). Điều này đối lập với quan niệm thơ của ông: phải giống như thơ W.Whitman “trong sáng như ánh mặt trời, tươi mát như hơi gió thoảng, cứng cáp và mạnh mẽ như sức khoẻ…”(14). Còn thơ và đời của Hàn Mặc Tử thì lại giống thơ và đời Edgar Poe, mang bóng hình của: “Con người trong giấc chiêm bao ma quái ấy, có thể biểu tượng cho Edgar Poe, cho thiên tài ông, cho thân thế ông, và thi phẩm ông, những thứ ấy, toàn thị cũng là những giấc chiêm bao ma quái nữa”(15).

Soi lại lý thuyết tiếp nhận, đây là một trường hợp đọc cụ thể khá lý thú. Sống cùng một thời đại, cùng trình độ văn hoá như nhau, cùng là nhà văn nhưng Khái Hưng và Nguyễn Giang ngay từ khi tiếp xúc đầu tiên đã rất thích thú với những truyện của Edgar Allan Poe, còn với Trần Thanh Mại, tại sao lại phức tạp hơn, ban đầu dè dặt, ác cảm và phải đi đường vòng mới đến được với Poe? Căn cứ vào lịch sử tiếp nhận và những tác động giao thoa trong quá trình tiếp nhận, bước đầu kết hợp với lịch sử sáng tác, hiện tượng này cho thấy, rõ ràng, khoảng cách thẩm mỹ trong tiếp nhận Edgar Poe đã phụ thuộc những “tố chất” luôn thay đổi của các thế hệ độc giả như thành phần xã hội, môi trường tiếp nhận, tình thế tiếp nhận và chất lượng tiếp nhận, cũng như các cơ sở lịch sử, văn hoá, xã hội, tư tưởng, quan niệm văn học nghệ thuật mà người đọc trong mỗi giai đoạn lịch sử luôn chịu sự tác động nhất định của nó. Theo Trương Đăng Dung, tình thế tiếp nhận gồm “cái giây phút mà tác phẩm ra đời, những chờ đợi của tác giả, nhu cầu của người tiếp nhận tiềm ẩn, các thể loại văn học của một thời nhất định”(16). Còn chất lượng tiếp nhận thể hiện trong sự đọc hiện tại, nghĩa của tác phẩm so với khi nó ra đời đã được soi sáng qua một tầm nhìn mới. Khoảng cách tiếp nhận này phải chăng do những tố chất “táo bạo, đôi chút cực đoan”; do nguồn gốc xuất thân của Trần Thanh Mại vốn từ một gia đình quan lại của xứ Huế cổ kính, nền nếp, chừng mực; và nhất là tâm lý giáo huấn trong quan niệm sáng tác của ông vẫn còn nặng, khiến tác giả chưa thể chấp nhận ngay những gì ngoài tầm thẩm mỹ quen thuộc vốn có?

Hoài Thanh, người được coi là đứng đầu trường phái phê bình văn học “nghệ thuật vị nghệ thuật”, một anh “le nhà quê” lại đến với Poe một cách bình dị hơn. Khác với Trần Thanh Mại, ông xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo xứ Nghệ, từng tham gia phong trào yêu nước của học sinh, bị bắt, bị kết án treo, bị đuổi khỏi trường… Cũng như nhiều trí thức cùng thời, có lẽ Hoài Thanh đã tiếp cận Poe từ những năm học tiếng Pháp ở trường Quốc học Vinh (Collège de Vinh) và trường Bưởi. Giới lý luận phê bình vẫn cho rằng phương pháp phê bình ấn tượng của Hoài Thanh mang đầy tính chủ quan. Song, muốn có cái chủ quan yêu ghét rạch ròi không dựa vào sách vở nào khác ngoài những rung động của chính mình ấy, người viết chắc chắn phải nắm rất vững đối tượng và phải có một trình độ, bản lĩnh nhất định để trình bày tư tưởng, quan niệm riêng của mình – điều không phải ai cũng làm được. Hoài Thanh cho rằng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên đều chịu ảnh hưởng Edgar Poe qua Baudelaire nhưng con đường này là một sự tổng hợp: “Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến Thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe…”(17). Với ông, thơ Chế Lan Viên “như một niềm kinh dị”, cái thế giới thơ lạ lùng và rùng rợn ấy như một giấc mơ dữ dội khiến ông choáng váng, không còn biết mình là người hay ma. Còn vườn thơ Hàn Mặc Tử cũng là một thế giới kì lạ, điên cuồng, “rộng rinh không bờ bến càng đi xa càng ớn lạnh”(18) đến độ người đọc phải “mệt lả”. Cả hai đều ảnh hưởng từ Edgar Poe qua Baudelaire. Có lẽ ấn tượng của ông về Poe cũng không khác hai nhà thơ mà ông cho là ảnh hưởng rất nặng này là mấy. Đọc lại Hoài Thanh theo cái nhìn hiện tại, dưới ánh sáng mỹ học tiếp nhận, cái “choáng váng”, cái “mệt lả” ấy gợi đến trường hợp chủ thể tiếp nhận đứng trước những tác phẩm quá mới mẻ, đòi hỏi họ phải thay đổi những kinh nghiệm thẩm mỹ vốn có trước đó.

2. Qua những phát hiện, nhận định bước đầu, có thể thấy ngay từ khi Poe có mặt ở Việt Nam, tác phẩm của “văn hào nước Mỹ”, “tài năng kì lạ” này đã được giới sáng tác và nghiên cứu phê bình chú ý tìm đọc với nhiều thái độ khác nhau. Tái hiện tình thế tiếp nhận của năm “siêu độc giả” đầu tiên phát hiện Edgar Allan Poe ở Việt Nam, có thể thấy, hình ảnh con người kỳ lạ này qua cách đọc của các nhà phê bình trước 1945 hiện lên khá rõ nét: Poe – lý thuyết gia của phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, “cha đẻ” của truyện kinh dị và trinh thám duy lý. Song, bức chân dung này lại được đúc kết từ nhiều góc nhìn khác nhau. Cùng một không gian Hà thành, cùng một mốc thời gian 30-45, thậm chí trước sau nhau chỉ có một năm, nhưng có bốn cách tiếp nhận rõ rệt: Nguyễn Giang với quan điểm đạo đức nên tuy đề cao tài văn thơ nhưng lại phê phán con người bê tha. Khái Hưng, Hoài Thanh vừa gặp đã yêu mến và hết lời ca ngợi tài năng của Poe trong truyện ngắn lẫn thơ ca. Vũ Ngọc Phan, nhà giáo, nhà nghiên cứu thì chừng mực, từ tốn, có khen, có chê một cách khách quan hơn. Chỉ riêng Trần Thanh Mại thì phải qua một đường vòng: ác cảm, phê phán rồi nhìn nhận lại và cuối cùng mới đồng cảm, yêu mến, đề cao.

Theo Trương Đăng Dung: “không có sự đọc “đầu tiên”, bởi vì tất cả mọi sự đọc, trong thực tế đều là “sự đọc lại”, sự đọc “không bao giờ kết thúc”, nó tồn tại trong sự bất tận của các văn bản”(19). Thực tế tiếp nhận E. Poe ở Việt Nam cho thấy đó là quá tŕnh phong phú bất tận. Mỗi người đọc Poe, mỗi lần Poe được đọc lại đều là mỗi cuộc khám phá, truy tìm khác nhau. Và có lẽ, trong thực tế, tầng lớp độc giả chuyên nghiệp này còn đọc nhiều hơn tư liệu chúng ta có, bởi thế hệ các nhà văn, nhà thơ nhà phê bình hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam này vốn là những trí thức Tây học, hầu hết có trình độ từ tú tài hoặc cao đẳng, đó là không kể một số du học từ Pháp về. Việc tiếp xúc với các tác phẩm văn học tiếng Pháp (và cả tiếng Anh) không phải là điều khó khăn đối với họ. Tiếc rằng tác giả các công trình trên chỉ mới nêu những dấu hiệu có bóng dáng E. Poe mà chưa làm rõ hơn tình thế tiếp nhận giữa các nhà văn, nhà thơ này đối với một nhà văn Mỹ như Poe, và vì sao họ tìm ra sự gần gũi với Poe?

Đội ngũ nghiên cứu phê bình tiếp nhận Poe trước 1945 cơ bản vẫn là một “thiểu số trí thức Tây học chọn lọc”, song do những “tố chất” riêng đã dẫn đến những cách biệt trong nhìn nhận đánh giá E. Poe như đã phân tích ở trên. Điều này lại chứng minh, tuy qua những thăng trầm, Edgar Allan Poe, thiên tài đa dạng và độc đáo của văn học Mỹ thế kỉ XIX, ngay từ “cái buổi ban đầu” ấy đã là một hiện tượng thực sự tạo sức hút với giới nghiên cứu phê bình Việt Nam. Như một cơ duyên của lịch sử, tiếp nhận tái tạo Edgar Allan Poe đã góp phần không nhỏ trong bước đầu xây dựng nền lý luận phê bình hiện đại Việt Nam theo hướng Âu hoá những năm đầu thế kỉ XXq

_________________                    

(1) Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương: Lý luận văn học – vấn đề và suy nghĩ. Nxb. Giáo dục, TP. HCM, 1995, tr.157.

(2) Nguyễn Huệ Chi: Thử định vị Tự lực văn đoàn. Tham luận hội thảo Tự lực văn đoàn tại Cẩm Giàng ngày 9/5/2008.

(3), (4) Phạm Đình Ân (giới thiệu và tuyển chọn): Thế Lữ – về tác gia v tác phẩm. Nxb. Giáo dục, Quy Nhơn, 2006, tr.416.

(5) Phạm Đình Ân, Sđd, tr.417.

(6), (7) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại, Tập 1 (Quyển 1, 2, 3). Nxb.Văn học, H., 2008, tr.684.

(8), (9) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại, Tập 2 (Quyển 4). Nxb.Văn học, H., 2008, tr.42, 43.

(10) Nguyễn Giang: Danh văn Âu Mỹ. Imprimerie D’Extrême-Orient, H., 1936, tr.155

(11) Nguyễn Bá Tín: Hàn Mặc Tử, anh tôi. Nxb. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.

(12), (13), (14), (15) Trần Thanh Mại: Hàn Mạc Tử (1912-1940). Nxb. Tân Việt, H., 1941, tr.184, 14, 14, 184.

(16), (19) Trương Đăng Dung: Tác phẩm văn học như là quá trình. Nxb. Khoa học xã hội, H., 2004, tr.197, 416.

(17), (18) Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam (tái bản). Nxb. Văn học, H., 1997, tr.32, 196.

Nguồn: Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9/2013. Bản đăng trên Phê bình văn học do tác giả gửi

1 phản hồi

  1. Khách nói:

    Phải đọc luận án TS của cô này mới biết trình độ đích thực của cổ

Leave a Reply