Tiếp nhận “Thủy hử” giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX ở Việt Nam


Nguyễn Phương Thảo

Thủy hử, kiệt tác tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, đã được tiếp nhận ở Việt Nam từ rất sớm; đặc biệt, việc chuyển sang quốc ngữ và việc nghiên cứu, phẩm bình Thủy hử ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, bằng việc nhận thức và tiếp thu kinh nghiệm văn học nước ngoài, đã góp phần tích cực vào quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ và văn học dân tộc. Theo quan sát của chúng tôi, bản dịch Thủy hử sang chữ quốc ngữ đầu tiên được thực hiện bởi Nguyễn An Khương (1906), và sau đó, việc giới thiệu, nghiên cứu Thủy hử tiếp tục phát triển mạnh trên các báo Đông Dương tạp chí, Nam Kỳ tuần báo, Thanh nghị… Những nghiên cứu này, với từng góc độ tiếp nhận khác nhau như Bốn pho tiểu thuyết Tàu hay nhất của Trúc Đuỳnh, Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa của Thúc Ngọc Trần Văn Giáp, Tiểu thuyết Tàu của nữ nhà văn Mỹ Pearl Buck (Lê Đình Chân dịch), Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử của Mộng Tiên, v.v… đã góp phần phân tích, định hướng và làm sáng tỏ một số vấn đề về tác giả, văn bản, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm độc đáo này. Trên cơ sở khảo sát việc chuyển dịch và nghiên cứu Thủy hử, bài viết đặt vấn đề tiếp nhận Thủy hử ở Việt Namgiai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 chủ yếu trên dữ liệu là các công trình nghiên cứu, biểu hiện ở những tiếp nhận về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật.

1. Theo khảo sát của chúng tôi, Bốn pho tiểu thuyết Tàu hay nhất của tác giả Trúc Đuỳnh in hai kỳ liên tiếp (số 1 và 2) trên Đông Dương tạp chí năm 1937 là bài viết đề cập đến Thủy hử xuất hiện sớm nhất trong giai đoạn này. Bài viết có bốn phần, mỗi phần tập trung giới thiệu một tiểu thuyết trong “tứ đại danh tác” của Trung Quốc (Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Hồng lâu mộng). Phần viết về Thủy hử không dài, song cũng giúp bạn đọc có được một hình dung sơ lược về nội dung, tư tưởng tác phẩm. Trúc Đuỳnh cho rằng: “Đọc Thủy hử, ta lại còn hiểu thêm về những phong tục khốc liệt của Tầu: cầm vợ, bán con, lấy máu rửa thù, giết người tế sống… nói tóm lại những truyện của ta có thể đọc thấy ở trên mặt các tờ báo Tầu hàng ngày”(1). Theo Trúc Đuỳnh, cái xã hội Tàu thời phong kiến xưa, nơi có bóng dáng của những tửu quán, trà lâu, những khách giang hồ đi mãi võ,… đã hiện lên rõ nét, đầy đủ, chân thực và hết sức sống động qua những trang viết của nhà văn. Ở đây, quan hệ hai chiều giữa tác phẩm – người đọc trong tiếp nhận văn học được thể hiện rõ: một mặt, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn kiến thức, kinh nghiệm về đời sống; mặt khác, tác phẩm trở nên sống động qua chính những tưởng tượng của người đọc.

Tiếp sau đó, năm 1942, báo Thanh nghị đăng bài viết của Trần Văn Giáp bàn về tiểu thuyết Tàu và Thủy hử. So với bài của Trúc Đuỳnh thì Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa của Trần Văn Giáp có dung lượng lớn hơn. Bài này được in trên 7 kỳ (số 8, 9, 11, 14, 15, 18, 19) và phần viết về Thủy hử có ở các số 8, 9 và 11. Bên cạnh những nghiên cứu về vấn đề văn bản, tác giả, tác phẩm, Trần Văn Giáp còn bàn thêm về ảnh hưởng và những giá trị của Thủy hử: “Truyện Thủy hử là một truyện rất có giá trị chắc chúng ta ai cũng biết tiếng”(2), “văn Thủy hử thật là một áng văn đại bút”(3). Với việc nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp nhấn mạnh văn chương Thủy hử – “một áng văn đại bút” – đã cho thấy xu thế tiếp nhận Thủy hử ở Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 là theo hướng khẳng định, đề cao tác phẩm.

Cùng bàn về giá trị bộ Thủy hử,năm 1944, trên Thanh nghị tiếp tục đăng bài Tiểu thuyết Tàu của nữ nhà văn Mỹ Pearl Buck do Lê Đình Chân dịch. Nữ nhà văn này cho rằng bộ tiểu thuyết Thủy hử không những nổi tiếng ở Tàu, Việt Nam, Nhật Bản,… mà còn được yêu thích ở khắp các nơi trên thế giới. Bức tranh về cuộc sống, cảnh sống của đất nước Trung Hoa trong tác phẩm hiện lên sống động, đa sắc màu. Chân dung nhân vật các anh hùng, hảo hán – có nhân vật được xây dựng bằng trí tưởng tượng phong phú của nhà văn, có nhân vật vốn có thực trong lịch sử – được miêu tả, tô vẽ hết sức chi tiết, tỉ mỉ. P. Buck nhận định: “Giá trị bộ Thủy hử là ở tính cách hoàn toàn nhân loại của nó. Bộ sách đó bao giờ cũng đúng với sự thực, ngày xưa cũng thế, ngày nay cũng thế. Những trang truyện là những bức tranh rất linh hoạt phác vẽ một cách rất đúng cảnh đời sống dân tộc Trung Hoa”(4). Dưới góc nhìn của một người Mỹ, một học giả phương Tây bàn về tác phẩm văn học phương Đông, P. Buck đã có những nhận xét thực sự sâu sắc và thú vị về tiểu thuyết Thủy hử.

Cuối cùng, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến bài viết Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử? của tác giả Mộng Tiên, được đăng trên Nam Kỳ tuần báo (số 61, 62, 65) vào năm 1943. Có thể coi đây là một trong những bài nghiên cứu đáng chú ý nhất bàn về Thủy hử giai đoạn đầu thế kỷ XX. Tác giả Mộng Tiên đặt ra nhiều vấn đề tiếp nhận tác phẩm Thủy hử. Trong phần mở đầu, Mộng Tiên khen ngợi: “chưa có bộ sách nào có được cái ma lực sánh nổi với bộ tiểu thuyết này”(5). Sách có “ma lực” hẳn phải là sách có sức cuốn hút, làm say mê người đọc, khiến họ thích thú, mê mẩn đến độ quên ăn, quên ngủ: “Có điều, mọi người đều phải công nhận, không chối cãi chi được, là hễ đã đọc một truyện Tàu nào là mê truyện ấy còn hơn mê sắc lịch nữa, có khi bỏ cả cơm, quên cả ngủ. Không những chỉ hạng bình dân hạ lưu, chỉ người Việt Nam ta, mà dẫu hạng trí thức, người Tàu hay người Âu Tây cũng đều như vậy”(6). Tiếp đến số 65, Mộng Tiên bàn về vấn đề tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc và cả Việt Nam. Mộng Tiên cho biết, có một giai đoạn, tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc theo chiều hướng phê phán, phản biện, tiếp nhận ngược, “phản tiếp nhận”, hoặc thậm chí phủ nhận, cấm đọc và cấm lưu hành tác phẩm. Việc này xuất hiện ngay từ đương thời, khi Thi Nại Am từ quan về ở ẩn để viết Thủy hử. Tuy nhiên, tác phẩm vừa viết xong đã bị tịch thu, còn chính nhà văn thì bị bắt giam. Quân sư Lưu Bá Ôn vốn là bạn đèn sách với Thi Nại Am cho rằng nguyên nhân bạo loạn của nhiều cuộc khởi nghĩa là do truyện Thủy hử, nên ông ta đã cho quân lính tịch thu và thiêu hủy tác phẩm. Người nào lén đọc hay tàng trữ Thủy hử sẽ bị xử phạt. Thi Nại Am khi bị bắt phải giả bộ điên cuồng. Trong ngục, ông viết những chuyện quái dị và sau này được tập hợp lại thành sách Tam toại bình yêu. Mộng Tiên viết về việc này như sau: “Bỗng một hôm, Thi áo quần lượt thượt đến phủ Lưu xin vào yết kiến và trình một bộ sách vừa sáng tác xong. Đó là bộ Tam toại bình yêu. Trong bộ sách này, Thi Nại Am tả toàn là những chuyện yêu quái dị đoan, không kém Tây du, Phong thần, Liêu Trai chí dị, tuy văn chương lưu loát, mà bố cục lộn xộn, tầm thường, chẳng khác một cuồng sĩ viết trong khi loạn. Xem hết truyện, Lưu Bá Ôn cười thầm, tự bảo: “Anh chàng họ Thi đã rút hết đầu óc ra tạo nên bộ truyện Thủy hử, bây giờ gan ruột đã rỗng không, hóa điên, hóa cuồng rồi vậy. Hôm sau, Lưu Bá Ôn ra lịnh cho quân canh để mặc Thi Nại Am muốn đi đâu thì đi…”(7). Tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc, bên cạnh khuynh hướng phản biện, phê phán như đã nói ở trên, còn có xu hướng yêu thích, đón nhận, đề cao. Mộng Tiên cho biết, thời xưa người Thôi An ở Trung Quốc rất thích đọc Thủy hử: “Truyện Thủy hử ra đời, người Thôi An tranh nhau đọc trước rồi chuyền tay nhau chép nên không biết bao nhiêu bản khác lan rộng khắp nơi”(8); người đời nhà Minh cũng say mê Thủy hử: “Người đời nhà Minh, trong số tác phẩm được hoan nghênh hơn hết, không bộ nào bằng bốn bộ này: Tam quốc chí, Tây du ký, Kim Bình Mai Thủy hử truyện. Người sau cho là bốn bộ sách lớn lao và kỳ lạ xưa nay”(9). Đời Minh, người ta cho rằng ai mà chưa đọc sách này thì bị coi là người ít học, ít đọc. Bước sang thời hiện đại, trong những năm đầu thế kỷ XX, người Trung Quốc tiếp nhận Thủy hử chủ yếu theo hướng yêu thích, khen ngợi, đề cao. Học giả Hồ Thích từngngợi ca giá trị Thủy hử, coi đây là bộ truyện “không tiền khoáng hậu” và yêu thích đến độ mất cả tháng thức đêm để đọc.

Đồng thời với việc khen ngợi giá trị nội dung Thủy hử khi được tiếp nhậnở Việt Nam, Mộng Tiên còn đánh giá cao bố cục của cuốn truyện: “Nói về văn chương thì bộ Tam quốc chí đang đứng đầu sổ, song nói về dụng tâm của tác giả và cách bố cục của truyện (nội dung) thì tác giả bộ trên phải nhường cho tác giả Thủy hử…(10). Như vậy, qua bài viết Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử, chúng ta đã thấy được một số vấn đề nổi bật trong tiếp nhận Thủy hử ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.

Khảo sát quá trình tiếp nhận Thủy hử giai đoạn này còn cần chú ý đến những ý kiến phản biện, phê phán tác phẩm. Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo từng chê Thủy hử và một số tiểu thuyết Tàu khác là văn chương non nớt, tưởng tượng hoang đường: “Đến như các chuyện Chinh đông, Chinh tây, Bình nam, Bình bắc, Đông du, Tây du, Phong thần, Thủy hử, v.v…thì toàn là văn hoang đường, người làm chuyện bịa đặt ra những sự vô lý, muốn làm cho vui tai mắt người ta, mà té ra hại đến tâm thuật của người ta, vì những sự hoang đường ấy, dễ làm cho kẻ ngu si mê tín mà rồi thành ra cứ mơ màng những chuyện hão huyền. Vả văn chương các truyện ấy, phần nhiều là văn non nớt, tự sự lôi thôi, tưởng không phải là của tay danh bút làm ra…”(11). Một cách tổng thể, chúng tôi cho rằng tiếp nhận Thủy hử ở Việt Nam qua các bài viết, các công trình nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 đa phần theo hướng tích cực. Ý kiến nhận xét của các học giả, các nhà nghiên cứu văn học về tác phẩm này chủ yếu trên tinh thần khen ngợi, đánh giá cao.

2. Trên phương diện nội dung,chúng tôi chú ý đến những ý kiến đánh giá, nhận định xung quanh các vấn đề hình tượng nhân vật, tư tưởng, chủ đề, cốt truyệntrong tác phẩm Thủy hử. Có thể thấy rằng, một trong những thành công của Thủy hử là ở cách thức xây dựng hình tượng nhân vật. Tác giả Thủy hử phải là người có năng lực sáng tạo và trí tưởng tượng vô cùng phong phú mới có thể phác họa, tô điểm, kiến tạo hình ảnh 108 anh hùng Lương Sơn Bạc với đầy đủ những nét tính cách sinh động khác nhau. Bàn về vấn đề này, Mộng Tiên viết: “Truyện Thủy hử, đứng về phương diện miêu tả mà nói thì Thi Nại Am đã sáng tạo ra một quan điểm đủ kiểu người. Thử xem bọn Tống Giang cả thảy một trăm lẻ tám người, thế mà Thi Nại Am tả được mỗi người một tánh riêng, chẳng ai giống ai, mỗi người một hoàn cảnh khác biệt, không hoàn cảnh nào tương tự hoàn cảnh nào; tài tình đến nỗi lối xuất thân của mỗi nhân vật trong truyện và địa phương của mỗi nhân vật ấy cũng khác nhau nữa!”(12). Có thể nói, nhận định này khá chính xác, bởi lẽ chỉ cần phân tích nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, hành trạng cuộc đời, dung mạo, trang phục, ngôn ngữ, cá tính của một số nhân vật tiêu biểu trong truyện sẽ thấy rõ được sự đa dạng về cách miêu tả nhân vật của tác giả truyện.

Thành công trong việc xây dựng nhân vật Thủy hử còn được thể hiện ở việc tác giả miêu tả nhóm nhân vật điển hình với những nét tính cách khác nhau. Sự đa dạng hóa tính cách nhân vật làm câu chuyện thêm phần sinh động, hấp dẫn. Lỗ Trí Thâm, Lí Quỳ là những nhân vật nóng tính, thô lỗ, Sử Tiến thì bồng bột, trong khi Lâm Xung, Võ Tòng lại hết sức bình tĩnh, suy trước nghĩ sau,… 108 anh hùng là 108 cá tính hoàn toàn khác nhau, người thì nóng nảy, thô lỗ; người nói nhiều, người nói ít; người trầm tĩnh, người lại nổi loạn. Theo P. Buck,nhân vật trong Thủy hử đa dạng, phong phú với đủ loại người, đủ loại tính cách: “Trong truyện thực có đủ các tai mặt: sư cũng có mà gái giang hồ cũng có, nhà buôn, nhà nho, đàn bà chính chuyên, đàn bà đĩ thõa, nhớn bé già trẻ cả đến thằng bé con tinh ma quỷ quái cũng không thiếu. Có nhẽ chỉ thiếu vai này: vai một ông tân học Trung Hoa tốt nghiệp ở một trường đại học Tây phương tay xan xoe với cái văn bằng”(13). Khi nói đến phương diện miêu tả nhân vật trong Thủy hử, tác giả Mộng Tiên cũng viết: “Thi Nại Am sáng tạo ra đủ loại người, mỗi người một tánh cách riêng, chẳng ai giống ai”(14).Với việc xây dựng được một hệ thống nhân vật đa dạng, đa tính cách, tác giả truyện Thủy hử đã thực sự tạo ra sự khác biệt, làm say mê bao thế hệ bạn đọc.

Vấn đề tiếp nhận tư tưởng, chủ đề, cốt truyện Thủy hử cũng được bàn luận  khá sôi nổi. Đa phần các thuyết cho rằng tác phẩm này phản ánh cuộc khởi nghĩa nông dân. Cũng có thuyết cho rằng Thủy hử là tác phẩm “tuyên truyền tạo phản” hoặc “đầu hàng – ủng hộ” (chỉ việc quân Lương Sơn chiêu an và theo về tòng phục triều đình Tống Huy Tông). Trong khi cốt truyện Thủy hử thì khá đơn giản – truyện nói đến hoạt động của một nhóm người chống triều đình mà trở thành giặc cướp. Còn nội dung phản ánh trong Thủy hử chủ yếu là vấn đề trọng nghĩa và đề cao lý, trí, dũng. Trần Văn Giáp xác định: “Trong truyện Thủy hử, tác giả chú trọng về hai điều: Trí và Dũng, khiến người đọc truyện thấy cực rộng rãi tâm lí. Truyện Thủy hử có một đoạn quan hệ nhất đối với tiểu thuyết đời Tống, là truyện Ngô Dụng Trí với Sinh Thìn Cương lấy ở sách Tuyên Hòa di sự(15). Dưới ngọn cờ “Thế thiên hành đạo” (Thay trời hành đạo), các anh hùng Lương Sơn luôn đặt ra nguyên tắc “Lộ thượng bất bình, bạt đao tương trợ” (Giữa đường thấy sự bất bình chẳng ngơ). Họ thay biển 聚義堂 (Tụ nghĩa đường) thành 忠義堂  (Trung nghĩa đường) để nhấn mạnh và đưa vị trí hai chữ trung – nghĩa lên địa vị tối thượng.

Tiểu thuyết chương hồiThủy hử chủ yếu miêu tả hành động “thế thiên hành đạo”, “bảo cảnh an dân”, “bạt đao tương trợ”, v.v… của các anh hùng hảo hán. Nhà văn P. Buck bàn đến việc trước tình cảnh nhà Tống bạo loạn, vua quan tham tàn, kẻ yếu thì bị chà đạp ức hiếp, chỉ có những anh hùng hảo hán mới có thể ra tay cứu giúp họ. Đây cũng là tư tưởng chính trong Thủy hử: “Đời Huei Chung (Huệ Tôn) nhà Tống, bấy giờ trong nước đã bắt đầu loạn. Bọn giầu thì giầu lên, bọn nghèo thì nghèo đi. Khi nhà vua không còn đủ binh lực bênh kẻ yếu hèn thì bọn “hảo hán” trọng nghĩa khinh tài ra đời để thay trời hành đạo – đây, tình thế xã hội Tần bấy giờ là thế, ai đã xem qua Thủy hử thì rõ hết”(16). Liên quan đến tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử về mặt tư tưởng còn thể hiện ở việc xác định lứa tuổi nào được đọc, lứa tuổi nào không nên đọc. Người Trung Quốc có câu: “Già chẳng đọc Tam quốc, trẻ không xem Thủy hử”. Vềvấn đề này, nhà văn P. Buck có lý giải: “Trẻ không nên xem Thủy hử, già chớ nên xem Tam quốc – Tại sao? Bọn thanh niên trẻ tuổi mà đọc Thủy hử thì chỉ muốn đi ăn cướp, mà các ông già đọc Tam quốc thì còn sức đâu mà làm những việc kinh thiên động địa như những vai trong truyện? Nếu Thủy hử là bức tranh linh hoạt của đời sống dân Tàu thì Tam quốc là bộ truyện về chiến tranh, chính trị và ngoại giao, và Hồng lâu mộng là bộ truyện gia đình và ái tình”(17).

Tựu chung lại, nghiên cứu chủ đề, cốt truyện là một phần quan trọng trong nghiên cứu tiếp nhận nội dung tiểu thuyết Thủy hử. Chủ đề Thủy hử phản ánh sâu sắc tư tưởng không chỉ của tác giả Thủy hử mà còn là nguyện vọng ngàn đời của nhân dân lao động Trung Quốc, đó là ước mơ về công lý, về một cuộc sống ấm no, tự do, bình đẳng.

3. Trên phương diện tiếp nhận nghệ thuật Thủy hử, chúng tôi chú ý các vấn đềthể loại và kết cấu tác phẩm. M.Bakhtin cho rằng, thể loại là “bộ xương của đời sống văn học”, là “nhân vật chính của tiến trình văn học”. Nghiên cứu thể loại là một trong những nội dung quan trọng khi tiếp nhận tác phẩm văn học. Thể loại trong văn học có sự thống nhất, quy định chặt chẽ các loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, hệ thống nhân vật, kết cấu và hình thức nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu xác định Thủy hử thuộc thể loại tiểu thuyết truyền kỳ anh hùng: “Thông qua quá trình phát triển tính cách của các nhân vật anh hùng để phán ánh cuộc sống xã hội của một giai đoạn lịch sử nhất định, nó gửi gắm lý tưởng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân”(18). Cốt truyện Thủy hử bắt nguồn từ trong chuyện kể dân gian. Tích chuyện và nguồn gốc truyện Thủy hử tới nay chỉ thấy có trong thoại bản Tuyên Hòa di sự chép truyện Tống Giang cùng đồ đảng 36 người. Về mặt ngôn ngữ, những tiểu thuyết truyền kỳ anh hùng thiên về miêu tả sự tích và cuộc đời nhân vật anh hùng. Đánh giá về lối hành văn của loại tiểu thuyết truyền kỳ anh hùng nói chung và Thủy hử nói riêng, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất cho rằng đó là lối văn hùng hồn, tinh tế. Trần Văn Giáp cho biết, Thủy hử được tôn vinh đến mức được dùng làm sách học cho hoàng đế đời Minh (Trung Quốc): “Truyện Thủy hử thì khác hẳn: lấy tưởng tượng mà đặt ra truyện không đâu. Thế mà khi miêu tả, cách dàn xếp có khác chút nào không? Chỗ đó là chỗ nát gan của tác giả. Văn Thủy hử thật là một áng văn đại bút. Tương truyền lúc đời Minh, trong Hoàng cung lấy truyện Thủy hử là sách học của đức hoàng đế. Coi Thủy hử cũng như Tứ thư, Ngũ kinh. Xét kỹ ra, văn Thủy hử có thể đem so sánh với văn Sử ký Tư Mã Thiên được”(19). Từ phương nam, tác giả Mộng Tiên cũng dành lời khen cho văn chương Thủy hử: “Thi Nại Am đã sử dụng ngòi bút một cách linh động kỳ diệu, đã nhận xét một cách tế nhị ly kỳ, đã sẵn có một khối óc nhớ giai tuyệt đối”(20)

Theo sách Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc của Phạm Thị Hảo, kết cấu “trỏ hình thức sắp xếp và cấu tạo bên trong của tác phẩm văn nghệ”(21). Lý luận văn học cổ đại Trung Quốc rất coi trọng kết cấu. Lưu Hiệp có nói: “Khê yếu sở tư, chức tại dungtài, ẩn quát tình lý, kiểu nhu văn thái” (thiên Dung tài – Văn tâm điêu long). Câu trên có nghĩa là lối đi phải có đường có hướng, cốt yếu là phải theo đường hướng đó mà làm, mà cắt sửa uốn nắn, trau chuốt văn thái. Lý Ngư đời Thanh cũng cho rằng đối với một tác phẩm văn học, “kết cấu là quan trọng”. Ở Việt Nam, bàn về kết cấu Thủy hử, Trần Văn Giáp nhận xét: “văn Thủy hử thật là hùng hồn, tinh tế, kết cấu đường hoàng”(22). Ở đây, “kết cấu đường hoàng” chính là sự sắp xếp nhân vật, sự kiện một cách hợp lý, logic và hoàn chỉnh. Kết cấu của Thủy hử tuân theo lối tự sự “đoản thiên” truyền thống và tiếp nối liền mạch với nhau. Một hoặc một vài thiên nhỏ này tương ứng với câu chuyện cuộc đời một anh hùng. Ví dụ, Lỗ Trí Thâm – Lỗ Đề Hạt xuất hiện đầu tiên ở hồi thứ 2 và hồi thứ 3 (Lỗ Đề Hạt giữa chợ giết người), Lâm Xung xuất hiện hồi thứ 6 (Báo Tử Đầu lạc vào đường Bạch Hổ), Tống Giang xuất hiện ở hồi thứ 17 (Tống Công Minh vì tình thả Tiều Thiên Vương), Võ Tòng xuất hiện ở hồi thứ 22 (Núi Cảnh Dương, Võ Tòng đánh hổ),… Chính vì vậy có thể đọc Thủy hử bằng nhiều cách, hoặc chỉ cần đọc một vài chương nói về một vài anh hùng, hoặc theo dõi qua một vài sự kiện cũng đủ hình dung về cuộc đời, tính cách, tâm lý nhân vật. Một điều dễ thấy nữalà độ ngắn dài, cách kết cấu khác nhau ở mỗi thiên, có thiên kéo dài hàng chục trang, cũng có thiên chỉ gồm vài đoạnngắn. Theo Thánh Thán ngoại thư: “Truyện Thủy hử mỗi một người xuất hiện ra, lại là một thiên liệt truyện. Đến như sự tích quãng giữa, lại theo từng đoạn, tự thành một lối văn tự. Cũng có nơi hai ba quyển thành một thiên, mà cũng có nơi năm sáu câu cũng thành một thiên”(23). Cuối cùng, kết cấu các chương trong Thủy hử thường theo phép khởi thừa chuyển hợp. Mỗi anh hùng xuất hiện, bao giờ cũng có một vài đoạn giới thiệu về thân thế, sau đó mới bắt đầu vào chuyện. Và khi kết một hồi bao giờ cũng có câu 且聽下回分解“Thả thính hạ hồi phân giải” (Muốn biết xin xem hồi sau sẽ rõ). Kiểu kết cấu chương hồi truyền thống này cũng thường được sử dụng trong các tiểu thuyết chương hồi – đoản thiên liên hoàn khác.

4. Có thể nói, qua những công trình nghiên cứu Thủy hử ở Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, chúng tôi nhận thấy, các tác giả chủ yếu tập trung bàn luận, đánh giá về tác giả, nội dung và nghệ thuật Thủy hử. Khảo sát những vấn đề tiếp nhận Thủy hử thông qua nội dung, hệ thống nhân vật, tư tưởng, chủ đề, đồng thời bàn đến sự tiếp nhận các phương diện hình thức nghệ thuật, thể loại, kết cấu và văn chương tác phẩm Thủy hử qua các công trình nghiên cứu giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy sự tiếp nhận như vậy là tương đối thống nhất. Có lẽ một phần do tính chất hư cấu của tiểu thuyết (so với Tam quốc diễn nghĩa chẳng hạn), đã khiến việc nhìn nhận về nghệ thuật tự sự của Thủy hử được các tác giả chú trọng. Đây cũng là một hậu thuẫn tích cực cho sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này, trong ý thức ngày càng xa rời tính chất chức năng để bước vào địa hạt hư cấu. Tiếp nhận Thủy hử ở Việt Nam cách nay một thế kỷ, vì vậy, không những giúp cho người đọc đương thời hiểu biết sâu sắc hơn về tác phẩm, mà phần nào đó, còn thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

_____________________

(1) Trúc Đuỳnh: “Bốn pho tiểu thuyết Tàu hay nhất”.Đông Dương tạp chí, số 1, 1937, tr.16.

(2) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp:“Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa”.Tạp chí Thanh nghị, số 8, 1942, tr.13-14.

(3) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp: “Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa”.Tạp chí Thanh nghị, số 11, 1942, tr.13.

(4) Pearl Buck:“Tiểu thuyết Tàu” (Lê Đình Chân dịch).Tạp chí Thanh nghị, số 85, 1944, tr.13.

(5) Mộng Tiên: “Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?”.Nam Kỳ tuần báo, số 61, 1943, tr.3.

(6) Mộng Tiên: “Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?”.Nam Kỳ tuần báo, số 62, 1943, tr.3.

(7), (8), (9) Mộng Tiên: “Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?”.Nam Kỳ tuần báo, số 65, 1943, tr.12-13.

(10) Mộng Tiên: “Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?”.Nam Kỳ tuần báo, số 62, Tlđd, tr.4.

(11) Phan Kế Bính: Tác giả, tác phẩm, (tái bản). Nxb. Thanh niên, H., 2004, tr.666.

(12) Mộng Tiên: “Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?”.Nam Kỳ tuần báo, số 61, Tlđd, tr.3.

(13) Pearl Buck: Tiểu thuyết Tàu (Lê Đình Chân dịch).Thanh nghị, số 85, 1944, tr.13.

(14) Mộng Tiên: Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?.Nam Kỳ tuần báo, số 61, 1943, tr.3.

(15) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp: Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa.Thanh nghị, số 8, 1942, tr.14.

(16) Pearl Buck:“Tiểu thuyết Tàu”, Tlđd, tr.22.

(17) Pearl Buck:“Tiểu thuyết Tàu”, Tlđd, tr.13.

(18) Lê Huy Tiêu: “Thử so sánh thi pháp của Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử”.Tạp chí Văn học, số 2-1996, tr.25.

(19) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp: Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa.Thanh nghị, số 11, Tlđd, tr.13.

(20) Mộng Tiên: “Vì sao Thi Nại Am viết truyện Thủy hử?”.Nam Kỳ tuần báo, số 61, Tlđd, tr.3.

(21) Phạm Thị Hảo: Khái niệm và thuật ngữ Lý luận văn học Trung Quốc.Trung tâm Quốc học & Nxb. Văn học, H., 2008, tr.43.

(22) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp: Lược khảo về tiểu thuyết Tàu – phụ thêm tiểu thuyết Việt Nam xưa.Thanh nghị, số 11, Tlđd, tr.13.

(23) Thi Nại Am:Thủy hử, tập I,(Á Nam Trần Tuấn Khải dịch). Nxb. Văn học,  H., 2005, tr.34.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2013

Leave a Reply