Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 1/3)*


LTS: Cuối thế kỷ 19, người Pháp đã xâm chiếm xong toàn bộ Việt Nam và lập tức xây dựng chế độ thuộc địa dưới các hình thức khác nhau ở ba miền. Từ đó, xét về văn hóa, người Việt Nam đã không chỉ tiếp xúc với văn hóa Pháp qua những thương nhân hay nhà truyền giáo, mà bắt đầu phải chung sống với văn hóa ấy trong các tình huống khác nhau, có thể là cưỡng bức, tự phát hoặc tự giác. Từ đó, một quá trình tiếp biến văn hóa đã diễn ra và làm thay đổi cơ bản rất nhiều quan niệm, thói quen, tập quán, đặc biệt là phương thức tư duy,… để rồi, văn hóa Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới mà nhiều dấu ấn còn nguyên vẹn tới hôm nay. Được sự đồng ý của PGS. Phan Ngọc, http://phebinhvanhoc.com.vn  trích đăng một phần từ công trình nghiên cứu của ông về tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp, qua đó góp phần lý giải một số căn nguyên của sự thay đổi mà dường như tới hôm nay, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thấu đáo…

                                                                                  Phan Ngọc

Việt Namvà các nước trên thế giới đã bước vào một giai đoạn mới trong lịch sử, giai đoạn tìm hiểu nhau để cùng phát triển. Và có những vấn đề trước kia ảnh hưởng rất lớn, giờ đã và đang thuộc về quá khứ, thí dụ vấn đề chế độ thực dân. Lại có những vấn đề mới đặt ra, nhưng sẽ thu hút toàn thể nhân loại, thí dụ vấn đề giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau để cùng chung sống hòa bình, cùng phát triển trong hòa bình.

Đây thực sự là vấn đề mới, và hết sức khó. Để góp phần vào công việc này, góp phần vào việc lý giải mơ ước của mọi tư tưởng triết học tiến bộ, cần phải xây dựng một quan niệm mới về văn hóa, về bản sắc văn hóa của mỗi tộc người, khảo sát khách quan xem trong quá trình tiếp xúc với các văn hóa khác, nền văn hóa này đã có những thay đổi gì và có cái gì không thay đổi về mặt quan hệ làm thành cách nhìn của nó về văn hóa. Tôi nói quan hệ, không nói hiện tượng, bởi vì xét về hiện tượng, hiện tượng nào mà chẳng thay đổi, nhiều khi thay đổi một cách cực đoan. Dĩ nhiên công việc này là hết sức khó và dễ sai lầm. Nhưng khó mấy cũng phải làm. Và dù có sai sót, thì Sai sót của một người sẽ giúp cho những người khác dần dần đi đến cái đúng. Để đi con đường này, cách thuận tiện nhất là xét xem một văn hóa đã ứng xử như thế nào, sau khi đã hình thành, để tiếp xúc với các nền văn hóa khác nó. Vấn đề tiếp xúc văn hóa trở thành đối tượng số một. Người viết chọn giai đoạn tiếp xúc văn hóa với Pháp, vì giai đoạn này một phần chính mình đã chứng kiến, và thậm chí đã tham gia…

Độ khúc xạ của Nho giáo và sự du nhập của Thiên chúa giáo

Trong mọi cuộc tiếp xúc của ViệtNamvới văn hóa nước ngoài, đã diễn ra nhiều hiện tượng phức tạp, mâu thuẫn nhau, mà nếu ta không nắm lấy hai yêu cầu cơ bản của văn hóa ViệtNam, thì mọi sự đánh giá đều dễ chủ quan. Văn hóa ViệtNamnhư một cây đại thụ. Nó bắt nguồn từ môi trường Đông Nam Á, nên nó mang những nét của văn hóa Đông Nam Á. Chỉ cần nêu vài nét hiện nay vẫn còn, đặc biệt là ở miền Bắc: địa vị quan trọng trong gia đình của phụ nữ bên cạnh nam giới; cách tổ chức thành làng có chính quyền, thờ cúng, nghi lễ, phong tục, tế tự riêng; việc thờ cúng tổ tiên chung cho cả nước; trong sinh hoạt nghề trồng lúa nước; trong ăn uống lấy cá, cơm, rau làm thức ăn chính, đặc biệt các thứ mắm; trong tình cảm, rất quí trọng quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm. Nó có một hệ tư tưởng bàng bạc trong tục ngữ, dân ca, văn học dân gian rất gần các nước ở Đông Nam Á, cái gọi là minh triết dân gian, rất khác Khổng giáo Trung Quốc, nhưng chưa có ai hệ thống hóa nó. Cách đây trên hai ngàn năm, có sự tiếp xúc văn hóa với Trung Quốc, và sau đó có sự tiếp hợp (greffage) với Nho giáo. Sự tiếp hợp này là do bản sắc văn hóa qui định. Bản sắc văn hóa ViệtNamđòi hỏi trước hết là độc lập và thống nhất đất nước. Bất kì cái gì không gây thiệt hại cho độc lập, thống nhất đất nước, có kết quả thực tế cao hơn cách làm cũ, đều được tiếp thu rất nhanh chóng, và thay thế cái cũ không cần một sắc lệnh nào hết.

Chỉ nhìn xã hội Việt Nam, văn hóa, tư tưởng trong giai đoạn 1930 – 1940, cũng đủ thấy sự Âu hóa đi nhanh như thế nào. Người nhìn bên ngoài, tưởng đâu là bắt chước. Hoàn toàn không phải. Đó là do bản sắc văn hóa yêu cầu. Khi cần đổi mới để đối phó với tình thế mới thì không ai quyết tâm đổi mới bằng ViệtNam; và khi chủ trương đổi mới từ trên đưa xuống thì toàn dân theo ngay, không có xáo động to lớn trong xã hội. Đó là điều làm cho ViếtNamkhác mọi nước. Sự đổi mới có thể là cực đoan, quyết liệt, nhưng cách diễn ra lại êm ả. Với một điều kiện: mọi sự đổi mới đều phải góp phần củng cố độc lập, thống nhất, và khi đất nước bị nô lệ thì nó phải góp phần giành lại độc lập thống nhất. Lịch sử văn hóa ViệtNamchứng kiến ba lần đổi mới, và đều là vì yêu cầu độc lập dân tộc. Lần thứ nhất là theo hẳn Nho giáo, nhập vào khối văn hóa Hán. Lần thứ hai là theo văn hóa Pháp. Lần thứ ba là theo chủ nghĩa xã hội. Cả ba lần đều tạo nên một sự tháo gỡ cấu trúc cũ, cấu trúc hóa lại theo kiểu mới. Và cả trong ba lần này, động cơ thúc đẩy vẫn là bản sắc văn hóa. Người ViệtNamđổi mới để cứu nước, không phải để làm nô lệ. Do đó, kết quả không phải là Hán hóa văn hóa ViệtNammà là ViệtNamhóa văn hóa Hán, không phải là Pháp hóa văn hóa ViệtNammà là ViệtNamhóa văn hóa Pháp. Cũng vậy, chúng ta đang đứng trước các cố gắng ViệtNamhóa chủ nghĩa xã hội.

Đối với những người chỉ xét những biểu hiện bên ngoài, thì xã hội, văn hóa Việt Nam đã từng bị xem là bản sao của Trung Quốc, của Pháp, của một nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng nếu nhìn từ bên trong, thì thực tế lại rất khác. Một thí dụ về sự ViệtNamhóa Nho giáo.

Nho giáo Trung Quốc không nói đến Tổ quốc. Kết quả là Nho giáo Trung Quốc chỉ tạo nên được một bộ máy quan lại phục vụ hoàng đế. Khi bộ máy này thối nát, đất nước bị chia rẽ, thì ngoại tộc tràn vào, nhiều khi chiếm cả Trung Quốc. Chữ trung Trung Quốc chỉ có nghĩa là hi sinh với người đối xử tốt với mình, nuôi mình chu đáo. Thời Chiến quốc, các thuyết khách sớm Sở, tối Tần chẳng có khái niệm gì về Tổ quốc. Người ta ca ngợi Điển Vi trung với Tào Tháo, Quan Vũ trung với Lưu Bị, Chu Du trung với Tôn Quyền, mà chẳng quan tâm đến chỗ ba ông này chia cắt đất nước. Chính vì vậy người Trung Quốc có quan niệm “Thiên hạ hợp rồi lại phân, phân rồi lại hợp, đó là lẽ trời”. Cho nên cái nước đông người nhất, và văn hóa cao nhất thế giới trước thế kỷ XVI luôn luôn bị chia cắt, bị những ngoại tộc mà về số người, kinh tế, văn hóa kém gấp hàng chục lần xâm chiếm, thậm chí là cai trị. Nhà Thanh cai trị Trung Quốc từ năm 1644 đến năm 1911, kéo dài 267 năm là một thí dụ. Còn các nhà Nho? Họ trung với ngoại tộc, đàn áp các cuộc nổi dậy, hy sinh cho triều đình ngoại tộc và tự hào về điều ấy.

Khi Việt Namtiếp nhận Nho giáo thì Tổ quốc Việt Namđã hình thành xong từ lâu. Tổ quốc ấy có lịch sử hình thành qua các cuộc đấu tranh để giành lấy đồng bằng từ tay biển cả, qua bao cuộc đấu tranh chống lại xâm lược phương Bắc; qua thơ Lý Thường Kiệt, chữ “Sát Thát” trên cánh tay con dân đất Việt, đặc biệt là qua Bình Ngô đại cáo khẳng định Việt Nam là độc lập về văn hóa, lãnh thổ, chủ quyền, phong tục, truyền thống giữ nước và cứu nước. Kết quả của sự tiếp hợp (grafting) với Nho giáo, là sự Việt hóa Nho giáo theo bản sắc văn hóa sẵn có. Các khái niệm Nho giáo như hiếu, nhân, nghĩa, dũng, trí… đều bị phân đôi, thành tiểu và đại. Cái gì chỉ liên quan trực tiếp giữa người với người, như chính Nho giáo quan niệm đều gọi là tiểu, cái gì thông qua môi giới tổ quốc và nhân dân thì đều gọi là đại. Nguyễn Trãi nói đến đại hiếu, đại nghĩa, chí nhân, chí dũng… là chỉ bổn phận đối với nước, với dân. Tức là mọi tư tưởng từ ngoài đến, dù từ Trung Quốc, Pháp, Tây Âu hay Liên Xô, khi thể hiện thành hành động ở Việt Nam đều trải qua một độ khúc xạ mà thành ViệtNam. Chỉ sau khi được Việt Nam hóa, có một nội dung mới, và phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, yếu tố văn hóa này mới trở thành động lực động viên toàn dân thực hiện nhiệm vụ mới. Tiếp biến văn hóa (acculturation) ở ViệtNam, do đó, là có phương hướng, có mục đích. Và cần phải xét sự tiếp biến qua yêu cầu của bản sắc văn hóa thì mới tránh khỏi những lệch lạc.

Thử xét sự tiếp xúc với Gia-tô giáo theo yêu cầu của bản sắc văn hóa. Về mặt chính trị của vấn đề, đã có công trình rất đầy đủ của anh Cao Huy Thuần Đạo thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam (Christianisme etcolonialisme au Vietnam 1857-1914, Hương quê, Los Angeles, Mỹ, 1988). Tôi sẽ không bàn đến câu chuyện quá khứ về mối liên hệ giữa công giáo với thực dân Pháp. Tôi chỉ xét mặt văn hóa, và kết quả của sự tiếp xúc.

Đặt chân lên ViệtNam, Công giáo có một số ưu thế rõ rệt.

Thứ nhất, về giáo lý, Thiên chúa giáo có hệ thống giáo lý rất chặt chẽ, nhất quán, có sức thuyết phục, dựa trên một thần học đồ sộ, chứa đựng một tinh thần nhân đạo: mọi người đều là con của Chúa, chính Chúa Giê-su đã hy sinh để cứu vớt nhân loại. Nó giáo dục tình thương và sự hy sinh. Tôn giáo ấy, qua sự thuyết minh của Augustin (354-430), đặc biệt là của Thomas d’Aquin (1225-1274) đã tiếp thu được một phần truyền thống văn hóa Hi Lạp – La Mã và văn hóa châu Âu, nên mang một diện mạo châu Âu. Từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII, thực tế Thiên chúa giáo là sợi dây tinh thần nối liền các nước châu Âu. Tiếng Latinh, ngôn ngữ nhà thờ, là ngôn ngữ văn học của cả châu Âu. Đến thế kỷ XVIII, một người biết tiếng này có thể dạy tại mọi trường đại học ở châu Âu. Và Giáo hoàng là ông vua của mọi ông vua, nhân danh Chúa cai trị châu Âu bằng một hệ thống nhà thờ, một hệ thống giáo sĩ giàu có dựa trên của cải nông nô, nông dân, thị dân. Nhân danh Chúa sự cai trị ấy là tàn khốc. Trong giai đoạn chiến tranh tôn giáo ở châu Âu, bảy triệu người đã bị tòa án Giáo hội xử tử bằng mọi cực hình vì chỉ một lời xúc phạm Giáo hoàng và Kinh Thánh. Tới thời Phục hưng, các nước dần dần tách khỏi quyền lực của Giáo hoàng, cuộc cải cách tôn giáo phá vỡ uy thế độc tôn này ở Đức, Hà Lan và những chi nhánh công giáo hình thành ít nhiều mâu thuẫn với nhà thờ La Mã, như ở Anh, Pháp. Nhất là khi phong trào khoa học phát triển, các học thuyết xưa kia bị xem là dị giáo, nay được xác lập, uy tín công giáo bị giảm sút. Thất bại ở phương Tây, các giáo sĩ muốn tìm cách thiết lập nó ở phương Đông. Say sưa nhất trong nhóm này là chi nhánh Dòng tên mà khẩu hiệu là “Vâng theo (Giáo hoàng) như một thây ma” (Obeire quasi cadaver). Họ là những người kiên trì nhất, chịu khó nhất, được đào tạo kĩ lưỡng nhất. A. de Rhodes là một thí dụ. Nhưng sự say sưa của họ làm chính nhiều nước châu Âu lo sợ. Do đó, hội Thừa sai tiếp tục việc này, và Dòng tên bị cấm, vì nước Pháp phải lo trước hết đến quyền lợi nước Pháp.

Thứ hai, đạo Thiên chúa là một lực lượng thế giới, rất am hiểu chính trị thế giới. Các giáo sĩ của họ là những con thoi có vô số mánh khóe để tranh thủ cảm tình, cầu xin viện trợ. Chính họ muốn mượn tay các nước thực dân để nô dịch các nước châu Á, thiết lập cái gọi là vương quốc của Chúa. Vương quốc ấy thế nào thì châu Âu đã biết, đã khiếp vía, và nước Việt Nam, ngay trong hoàn cảnh kháng chiến, cũng đã nếm một chút cái hương vị này dưới triều đình họ Ngô. Các giáo sĩ lắm thủ đoạn. Cách thứ nhất dễ thành công là biến ông vua thành người Thiên chúa giáo. Đó là mưu của Pigneau de Béhaine. Nhưng hoàng tử Cảnh phải mất ngôi. Va chạm thứ nhất. Cách thứ hai là gây nội chiến. Ta có vụ Lê Văn Khôi ở Nam Kì, vụ Tạ Văn Phụng ở Bắc Kì, vụ Hồng Bảo ở Trung Kì. Cách thứ ba là làm quân sư cho thực dân. Để chuẩn bị cơ sở, họ tìm cách tập hợp giáo dân ở những vùng riêng, bảo vệ chặt chẽ, dựng lên một nhà thờ, đồng thời là những pháo đài theo nghĩa đen. Họ biến vùng này thành một “quốc gia” trong nước ViệtNam, trong đó ông giáo sĩ chỉ huy tất cả. Tóm lại, một chữ: một quốc gia Trung cổ châu Âu ngay trong nước ViệtNam, mà bản sắc văn hóa là ý thức thống nhất và độc lập.

Không phải vì chống học thuyết Thiên chúa giáo mà xảy ra những vụ tàn sát. Người Việt không có thái độ kỳ thị tôn giáo; Phật giáo, Đạo giáo không hề bị xử lý thô bạo. Nói đến chuyện giết đạo, cũng phải nói đến việc người công giáo trả đũa. Trương Vĩnh Ký, một người công giáo trung thành với Pháp, nhờ am hiểu văn hóa dân tộc nên có đủ thẳng thắn để thừa nhận: “… sự thực là người Công giáo chẳng kém gì các người chống đối họ trong 99 trường hợp trong số 100 trường hợp đàn áp”. Sự thực là một cuộc huynh đệ tương tàn vô nghĩa đã diễn ra có lợi cho thực dân, có hại cho dân tộc. Chính Đô đốc Page cũng phải thừa nhận: “Cái chết lượn khắp nơi mọi đồn bốt: đã hơn một ngàn người đã nằm trến đất nước này… Mười tám đại đội lúc đầu tạo nên lực lượng của Rigault nay chỉ còn có sáu…” (Cao Huy Thuần, sđd). Ông chấp nhận lẽ phải của người đại diện Tự Đức đã nói với ông ta: “Nhưng người Pháp đến đây để đòi cho đạo Thiên chúa La Mã được rao giảng khắp nước, mỗi thành phố, mỗi làng đều dựng lên một nhà thờ Gia-tô. Nếu quả thật đó là ý muốn của Hoàng đế nước Pháp, thì không thể hòa giải gì được cả, mọi cuộc thảo luận sẽ vô ích, toàn quốc sẵn sàng chịu một cuộc chiến tranh diệt chủng, hơn là một điều trực tiếp như thế. Trái lại, nếu người Pháp không đòi hỏi điều đó thì chắc chắn sẽ có hòa bình” (Cao Huy Thuần, sđd.). Page và chính phủ Pháp đều muốn thương lượng, nhưng các cố đạo nước ngoài đã phá vỡ mọi thương lượng đẩy tới cuộc chiến tranh xâm lược.

 Đạo Thiên chúa đã phạm những lỗi lầm nghiêm trọng, mặc dầu đã có những đóng góp vào văn hóa ViệtNam. Dù thực dân Pháp có cai trị Việt Nam, và dù thực dân đứng hẳn về phía họ, bênh vực, che chở họ, chứ không phải đàn áp như các cố đạo đã đổ tội cho vua quan ngày xưa, dù cho Thiên chúa giáo có một đội ngũ giáo sĩ rất trung thành, có học vấn, dù có những tổ chức từ thiện làm việc hết mình xứng đáng với mọi lời ca ngợi, dù cho các trường công giáo có mặt khắp nơi và dạy học rất tốt – tôi học trung học ở một trường công giáo và thường đứng đầu môn giáo lý – dù nó có một số nhân cách mà người Việt Nam rất tôn trọng, suốt thời Pháp thuộc số trí thức, nhà Nho theo công giáo chẳng có bao nhiêu? Tại sao?

Sai lầm quan trọng của Thiên chúa giáo khi đến ViệtNamlà thái độ khinh thường của Thiên chúa giáo đối với văn hóa phương Đông và văn hóa ViệtNam. Phương Đông tuy có thua kém về kĩ thuật, đặc biệt về kĩ thuật quân sự, nhưng bản chất của văn hóa không phải là súng ống, máy móc, những nhà thờ – pháo đài, những lễ lạt rầm rộ. Nó là ở nhân cách. Nhân cách ViệtNamlà ở ý thức về bổn phận đối với mọi người, lòng trung thành vô hạn đối với quyền lợi đất nước, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, không kể địa vị, tài sản. Dù anh mạnh bao nhiêu, giầu đến mấy, quyền lực đến mấy, mà không có nhân cách thì người Việt Nam không phục, không yêu, dù cho nhất thời họ phải nghe theo. Hình ảnh của thực dân Pháp chẳng cách nào làm nhân dân ViệtNamcho là đẹp. Còn các cố đạo dù tuyên truyền đến đâu về tình yêu cũng chẳng đem đến một điều gì quen thuộc. Họ bứng người ViệtNamkhỏi môi trường tinh thần, gán cho anh ta những quan niệm xa lạ, làm anh ta khó chịu. Họ dạy vứt bỏ Tổ quốc để hi sinh cho vương quốc của Chúa. Nhưng xét cho cùng, làm gì có vương quốc của Chúa trời. Họ kéo người Việt khỏi sự thờ cúng tổ tiên, bởi Chúa tạo ra người. Chuyện xét cho cùng thì còn phải bàn. Nhưng trước mắt tôi, xét ngay trực tiếp, tôi là do cha mẹ sinh ra. Cha mẹ nuôi sống tôi, dạy dỗ tôi là chuyện có thực. Họ sùng bái những vị thánh ở đâu đâu, nhưng những còn người hi sinh cho đất nước, dân tộc thì không được nhắc đến.

Dù là tôn giáo nào thì cũng dựa trên một tiền đề không thể chứng minh được. Thiên chúa giáo, Phật giáo đều thế. Nhưng so với Phật giáo thì Thiên chúa giáo tự cho mình là độc quyền về chân lý. Thái độ độc quyền ấy là trái ngược với sự thực. Nếu xét về mặt triết học, thì Thiên chúa giáo kém xa Phật giáo. Nếu xét về mặt tu dưỡng con người thì Thiên chúa giáo kém xa Nho giáo. Đó là lý do dẫn tới sự khúc xạ của Thiên chúa giáo ở ViệtNam. Đa số con chiên đều thờ tổ tiên, làm giỗ cha, tôn trọng các vị anh hùng dân tộc. Họ vẫn thấy những người lương là đồng bào, là ruột thịt. Họ vẫn tôn trọng nhân cách theo quan niệm chung. Khi đã đi sâu vào văn hóa dân tộc, thì xuất hiện những nhà công giáo yêu nước mà Nguyễn Trường Tộ là một ví dụ. Rồi đến những người công giáo theo hai cụ Phan, theo Đảng Cộng sản. Các cố đạo phương Tây hi vọng người công giáo sẽ nhất tề theo Pháp, nhưng thực tế lại có nhiều người công giáo đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Bản sắc văn hóa dân tộc đã thắng, bắt buộc ngay các giáo sĩ công giáo ViệtNamcũng phải đứng về phía dân tộc. Thái độ khinh thị văn hóa phương Đông đã giảm đi, và chính Vatican cuối cùng đã chấp nhận việc kính Chúa đi đôi với yêu nước, với hy vọng chấm dứt sự chia rẽ vô lý giữa tôn giáo với Tổ quốc.

Sự tiếp xúc của ViệtNamvới đạo Gia-tô nêu lên một kiểu khúc xạ độc đáo.

Một hệ tư tưởng từ bên ngoài, một vật thể xa lạ gắn vào cơ thể ViệtNam. Vật thể ấy ở châu Âu, dù bị phê phán gay gắt, vẫn đã có một thời huy hoàng, và những vấn đề nó nêu lên cho đến giờ vẫn chiếm địa vị chủ đạo ở các nhà văn, học giả châu Âu, như: thượng đế, linh hồn, sự giải thoát, nhân cách. Khi nhập vào cơ thể ViệtNam, tất cả những vấn đề nó nêu lên đều bị gạt ra. Dù người ta có dùng võ lực cấy lên cái cơ thể này bằng súng đạn, sự tiếp xúc chẳng dẫn tới một điều mà các cha cố mong đợi. Thế Lữ, gốc công giáo là người mở đường cho Thơ mới, nhưng thơ và văn của ông chẳng hề dựa trên các nguyên lí công giáo. Nguyên Hồng, gốc công giáo là nhà văn hiện thực tâm lý cự phách và tiểu thuyết của ông là tiểu thuyết của dân nghèo thành thị ViệtNam. Nhà thơ lớn duy nhất có ảnh hưởng công giáo là Hàn Mặc Tử. Nhưng đó là mãi về sau, sau khi nhà thơ vì mắc bệnh mà sống trong Viện điều dưỡng của các bà phước công giáo. Sức lôi cuốn của các bài thơ không ở nhiệt tình công giáo mà ở cách Beaudelaire hóa cảm giác phương Đông. Còn trước đó, thơ anh vẫn là thơ của một trí thức ở thành phố ViệtNamgắn bó với nông thôn. Có một chút gì công giáo trong thơ Huy Cận, nhưng đây là công giáo Đông phương hóa, không phải công giáo châu Âu. Tức là chính sự khúc xạ tạo nên vẻ đẹp. Về hội họa, họa sĩ Lê Văn Đệ một thời được tán thưởng. Nhưng đây là bà mẹ ViệtNam, con người ViệtNam, tình cảm ViệtNamkhoác hình thức công giáo. Thuyết nhân vị của Ngô Đình Nhu là xuất phát từ nhân cách luận (personalisme) của Emmanuel Mounier. Trịnh Văn Thảo nhận xét: “Nó vay mượn của nhân cách luận cái ngôn từ trí tuệ, chủ nghĩa cải lương trí tuệ, nhưng lại tránh không theo nhân cách luận về lĩnh vực chính trị. Sau đó, do ảnh hưởng của sự thất bại về chính trị của chế độ, nhất là do chiến tranh tái diễn, nó chuyển về một bảo nguyên luận (intégrisme) kiểu Franco!”. Dù cho tên gọi “nhân vị” là một sai lầm về dịch thuật, cách chọn không tồi. Đối với người ViệtNam, cái thu hút quốc dân không phải là kinh tế, quyền lực mà là nhân cách con người. Nhưng nhân cách ViệtNamđã được thể hiện trọn vẹn bởi người cộng sản. Người Việt Nam tin theo, vì biết chỉ có họ mới đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập và thống nhất, vì họ có các tấm gương hy sinh mẫu mực và họ cần, kiệm, liêm, chính. Đằng này “nhân vị” chủ trương chính cái lý thuyết của các cố đạo Tây sặc mùi Trung cổ. Kết quả là, không chỉ nhân dân chống lại, mà cả tay chân của chính quyền. Tiền của từ nước ngoài đổ vào chỉ càng làm cho cơ sự hỏng thêm mà thôi.

 Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, ở Việt Nam, người theo công giáo là người tiên phong trong việc hiểu phương Tây, và là người đầu tiên có khả năng sử dụng phương pháp phân tích của phương Tây để khảo sát văn hóa, xã hội Việt Nam. Nếu như mọi người khác muốn tìm hiểu phương Tây chỉ có con đường của nhà trường và chính phủ thực dân, còn không, phải đi con đương bất hợp pháp, thì người công giáo còn có con đường của giáo hội. Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của là những thí dụ…

Phê phán Nho giáo

Khi thực dân Pháp đã làm chủ cả nước, khi những cuộc kháng chiến lần lượt thất bại (phong trào Cần vương chấm dứt với sự hy sinh của Phan Đình Phùng – 1895), các nhà Nho tự trọng không tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, chỉ còn một cách là về hưu, quay về làng sống cuộc đời thôn dã. Ở họ, diễn ra một sự tiếp xúc văn hóa khá tiêu biểu: họ cảm thấy nhục, họ thấy một xã hội nhố nhăng, một không khí nghẹt thở. Văn minh vật chất phương Tây, với các thói quen trái ngược, làm họ khó chịu. Để an ủi, họ tìm chỗ dựa ở làng xóm, ở thiên nhiên. Nhưng chính làng xóm cũng bắt đầu bị bần cùng hóa, để nhường chỗ cho những thành thị là nơi sống, và ăn chơi của một số người làm việc cho Pháp. Đó là xu hướng mà cụ Tam nguyên Yên Đổ là tiêu biểu nhất, bên cạnh những ẩn sĩ khác.

Sự phê phán Nho giáo ở bản thân học thuyết không bắt đầu ở Việt Nammà ở Trung Quốc. Sở dĩ như vậy là vì Nho giáo ở Việt Nam, tuy phổ biến rất rộng rãi, nhưng không sâu sắc. Tới lúc này, Việt Nam chỉ tiếp nhận một chi nhánh độc nhất của Nho giáo là Tống Nho, và học vấn chỉ có mục đích đào tạo ra những người mà tương lai sẽ ra làm quan, nếu thi đỗ từ cử nhân trở lên. Còn nếu thi đỗ tú tài, hay không thi đỗ, thì quay về làng xã, dạy học, làm thuốc, tham gia sinh hoạt làng xóm. Các sách đều là kinh truyện do các nhà Tống Nho giải thích, văn thơ cổ và cuốn Thông giám cương mục của Chu Hi. Đã thế, Việt Nam lại chỉ học loại sách rút gọn, lược bớt rất nhiều. Người làm công việc này là Bùi Huy Bích làm Tham tụng (Tể tướng) đời Lê, nên nhân dân quen gọi nó là loại sách Hàn Tham. Kết quả, nó giúp được người Việt trong việc viết văn làm thơ, nhưng không đào tạo được những học giả thực sự. Các học giả ViệtNam ngày xưa trở thành học giả chủ yếu là do tự học chứ không do lò khoa cử.

Xét về số lượng, thì ở triều Nguyễn từ năm 1804 đến năm 1918 qua 38 khoa Đình thí (thi Đình) và Hội thí (thi Hội) chọn được 558 tiến sĩ, tức là trung bình mỗi năm chọn được 4,8 tiến sĩ. Về số người thi Hương đỗ cử nhân, trong thời gian ấy có 6226 người. Số người thi đỗ và làm quan như vậy là rất ít, trái lại số người đi thi rất đông, và số người học chữ Hán lại càng lớn. Uy tín của những người đỗ đạt cao là rất lớn. Mà như đã thấy, muốn lãnh đạo nhân dân đánh giặc, thường phải là một tiến sĩ hay một cử nhân trong nước, trong danh sách 58 người trí thức Việt Nam thế hệ 1862 mà ông Trịnh Văn Thảo đã lập, tuy còn thiếu sót, vẫn có thể thấy: Hoàng Diệu (phó bảng), Hoàng Văn Hòe, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thượng Phiên, Phan Đình Phùng (đình nguyên), Đỗ Quang, Tống Duy Tân, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đôn Tiết, Hoàng Tăng Bí (phó bảng), Trần Quí Cáp, Đặng Nguyên Cẩn (phó bảng), Nguyễn Thượng Hiền (hoàng giáp), Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng (hoàng giáp), Phan Châu Trinh (phó bảng), Nguyễn Quang Bích (hoàng giáp). Tóm lại có 18 vị tiến sĩ tham gia phong trào cứu nước. Họ là những người mà thực dân rất muốn lôi cuốn, nhưng không làm sao lôi cuốn nổi. Qua đó, không thể nói Nho giáo ViệtNamchỉ có là phản động, cũng không thể nói họ thua kém bất kì tầng lớp nào về tinh thần yêu nước.

Nhưng muốn đổi mới Nho giáo bằng cách tiếp thu hệ tư tưởng phương Tây thì họ vẫn không có khả năng tự mình làm được. Họ bị học vấn Tống Nho hạn chế và những lý luận liên quan tới lý, tính, tâm, khí. Học vấn này lại quá thực dụng, chỉ lo đến văn chương, thơ, phú, kinh, nghĩa. Họ thừa dũng khí để hy sinh, nhưng thiếu phương pháp luận. Một khi cảm thấy hệ tư tưởng mà họ sùng bái không cứu được nước, mà lại để cho nước mất, các nhà Nho tất yếu đi tìm sự giải thích ở một nước khác cùng hoàn cảnh. Nước ấy chỉ có thể là Trung Hoa.

Sau chiến tranh Nha phiến năm 1840, Trung Hoa đã nhận thức nguy cơ xâm lược của phương Tây. Các trí thức Trung Hoa, do tiếp xúc nhiều với phương Tây qua sách vở, đặc biệt qua các bản dịch của Nhật mà người Trung Quốc có thể đọc dễ dàng, bắt đầu nhận thấy ưu thế của phương Tây trước hết là ở tư tưởng, không chỉ ở vũ khí. Tăng Quốc Phiên, Trương Chi Động tiếp thu khẩu hiệu “Trung học vi thể, Tây học vi dụng” tức là “tinh thần Trung Hoa, kĩ thuật phương Tây”. Nhưng để tiếp thu được kĩ thuật phương Tây, thì tinh thần Trung Hoa tự nó phải thay đổi mới có thể tiếp thu được. Nói theo giọng thao tác luận, muốn kết hợp thì phải qui đồng mẫu số hai phân số hết sức khác nhau về mẫu số.

Nhưng một nước xưa nay tự cao tự đại đến mức gọi mình là “thiên hạ” (dưới trời), Trung Quốc (nước ở giữa), Trung Hoa (nước văn hóa rực rỡ ở giữa thế giới), dĩ nhiên không thể dễ dàng vứt bỏ Nho giáo, nên nó đã sử dụng một biện pháp độc đáo. Đó là chứng minh rằng mọi ưu điểm của hệ tư tưởng phương Tây đều đã có sẵn trong đạo Khổng. Chỉ cần theo cụ Khổng là có tất cả. Điều này tự nó không có gì lạ: Trước ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội, Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo đều tự chứng minh mình là những học thuyết xã hội chủ nghĩa. Nghiêm Phục – dịch giả nổi tiếng nhất chứng minh Tuân Tử đi trước Spencer, Lão Tử đi trướcDarwin. Lương Khải Siêu lại chứng minh các quan niệm “dân bản”, “dân ý”, “dân quyền” của Mạnh Tử đã đi trước các quan niệm “chủ quyền nhân dân”, “ý chí nhân dân”; và khái niệm “vô vi” của Lão Tử đi trước quan niệm chính phủ không can thiệp vào kinh tế của phương Tây. Xét về mặt thao tác luận, các nhà cải cách Trung Hoa đã tìm cách qui đồng mẫu số để tạo nên sự phối hợp. Đó là cách làm hợp lý nhất. Tiếc là đã có sai lầm về phương pháp luận. Phương Tây đã thắng về tư tưởng. Phương Đông muốn sống, phải Âu hóa hệ tư tưởng của mình. Để tạo nên sự kết hợp phải lấy phương Tây làm chuẩn. Phải đập vỡ hệ tư tưởng Khổng giáo, đốt nó thành than, thì con phượng hoàng mới sống lại được.

Người cầm đầu trào lưu này là Khang Hữu Vi (1858-1927), nhưng người ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam lại là Lương Khải Siêu (1873-1929), nên ở Việt Nam người ta hay nói đến Khang – Lương. Vì thế hệ sinh sau năm 1910 vẫn còn nhiều quan điểm không chính xác về Khổng giáo, nên cần phải nói kỹ hơn một chút.

Chúng ta mới biết đời Thanh nổi tiếng nhất về mặt khảo chứng. Những tác phẩm khảo chứng đồ sộ nhất của lịch sử văn học Trung Hoa là xuất bản trong giai đoạn này, chỉ cần kể bộ Khang Hi tự điển mà nhà nào cũng có. Xu hướng khảo chứng là kế thừa xu hướng đời Hán, mà phủ nhận Tống Nho. Khang Hữu Vi, trước hết dựa vào Hán nho viết Tân học ngụy kinh khảo để chứng minh các văn bản Nho giáo mà Tống Nho lấy làm cơ sở đều là xuyên tạc, chẳng phải của Khổng Tử. Câu chuyện như sau: Sau khi nhà Tần đốt sách, vua Huệ đế nhờ các nhà Nho học thuộc lòng chép lại và, do đó, có một văn bản. Đó là văn bản vẫn lưu hành thời Tiền Hán. Sang thời Đông Hán, người ta phát hiện ở vách tường đền thờ Khổng Tử một văn bản khác viết bằng thứ chữ cổ gọi là chữ “nòng nọc”, vì hình dáng nó giống con nòng nọc. Lưu Hâm chuyển văn tự nòng nọc thành chữ mới. Tống Nho gọi văn bản này là “cổ văn” ý nói nó cổ xưa hơn, còn văn bản đời Hán là “kim văn”, và gạt bỏ kim văn chỉ chấp nhận cổ văn. Khang chứng minh ngược lại cho văn bản kim văn mới là thực, còn văn bản cổ văn là xuyên tạc. Chuyện chứng minh ai đúng ai sai nằm ngoài phạm vi của ta. Chỉ biết rằng muốn làm thế, Khang phải rất uyên bác. Khang dựa vào đấy viết Đại đồng thư để chứng minh mọi nguyên lý tạo thành cơ sở cho sự phồn vinh phương Tây như tự do, dân chủ, tiến bộ,… đều đã có ở Khổng Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử nhưng đều bị Tống Nho loại trừ tạo nên dẫn tới ngưng trệ. Lương Khải Siêu, là học trò Khang, không phải là nhà tư tưởng, nhưng lại là nhà tuyên truyền, giới thiệu vô địch. Đặc biệt ông có một lối văn cực kỳ lôi cuốn, đầy hình ảnh, rất xúc động; ở Việt Nam, lối văn này có ở Phan Bội Châu. Hai tác phẩm quen thuộc nhất của Lương là Ẩm băng thấtTrung Quốc hồn có thể tìm thấy ở mọi nhà đại gia xứ Nghệ.

Vào đầu thế kỷ XX, các sách của phái cải cách nhập vào Việt Namrất đều đặn. Người ta gọi nó là Tân thư, tức sách mới, đối lập với loại sách Tống Nho quen thuộc, gọi là sách cũ. Lần đầu tiên các nhà Nho vốn chỉ biết có văn chương cử tử, biết thế nào là chủ nghĩa đế quốc, duy lý luận của Descartes, thuyết giao kèo xã hội của Rousseau, thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu, thuyết tiến hóa của Huxley, thuyết cạnh tranh sinh tồn của Darwin. Có một sự tiếp thu phương Tây cực kì sôi nổi và hăng hái. Các nhà Nho yêu nước đã nhận ra con đường cứu nước mới. Tâm trạng giữ lấy đạo nhà, hay “độc thiện kì thân”, đã nhường chỗ cho tâm trạng phấn khởi, phá xiềng xích, lao vào thực tế để Âu hóa, dĩ nhiên là theo con đường bản sắc văn hóa qui định, con đường của nhân cách ViệtNam.

Lần đầu tiên, các nhà Nho ViệtNamhiểu được phương Tây. Và có một điều ngược đời, là không phải thực dân Pháp, dù đã cai trị ViệtNam, giới thiệu văn hóa phương Tây cho ViệtNam. Có lẽ vì sự có mặt của thực dân lúc đầu, ngoài sức mạnh võ khí, chưa có gì hấp dẫn. Về vật chất, đó là sâm banh, bánh mì. Về phong tục, là khiêu vũ, lúc ấy gọi là “nhảy đầm”. Về người, quanh chính quyền thực dân là những tay sai mà chính người Pháp cũng thừa nhận là cặn bã, hèn hạ. Các tân thư Trung Quốc đã làm họ tỉnh ngộ. Họ thấy phải đổi mới xã hội và đất nước để cứu nước. Họ hiểu được giá trị của các tư tưởng mới. Người ViệtNamkhông đánh giá một học thuyết ở tự thân nó. Người Đức, người Pháp làm được, điều này làm vinh dự cho văn hóa của họ. Người ViệtNamđánh giá một tư tưởng ngoài vào theo một tiêu chuẩn duy nhất: giúp được gì để giữ nước, cứu nước. Khi thấy làm được điều này, dường như người Việt lại có thái độ cực đoan: theo hẳn cái mới? Điều này giải thích lịch sử tiếp xúc văn hóa của ViệtNamvới những biến đổi đột ngột: theo văn hóa Hán, theo văn hóa Pháp, theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng theo theo kiểu ghép cây (greffage), chứ không phải theo kiểu lật đổ hoàn toàn kiến trúc cũ, để lắp một kiến trúc mới, bởi văn hóa không phải chỉ là một thượng tầng kiến trúc.

Thêm nữa, sở dĩ các tân thư lôi cuốn người Việt vì chúng được viết bằng một ngôn ngữ quen thuộc với họ: một ngôn ngữ Hán rất dễ hiểu, còn dễ hiểu hơn ngôn ngữ của các bài phú, cổ văn. Tâm trạng người Việt là tâm trạng dân mất nước, đau xót trước một triều đình hủ bại. Đặc biệt, cách giới thiệu là thông qua lăng kính Nho giáo, Phật giáo nên đọc là hiểu ngay, thấm ngay. Nhưng nếu ta xét đoán theo quan điểm thực chứng và hiện đại, khi hiểu tư tưởng phương Tây không kém gì phương Tây, thì khá nông cạn và hời hợt. Mặc dầu thế, điều người ViệtNamcần, tức là con đường cứu nước, đã hiện ra. Do đó có ba hiện tượng:

Thứ nhất, là sự đổi mới tư tưởng khá triệt để. Tuy khoa cử đến năm 1915 bị bỏ ở Bắc Bộ, và năm 1918 mới bị bỏ ở Trung Bộ, tuy sách đi thi vẫn là sách Tống Nho, nhưng các nhà Nho đều mê tân thư, đều là Thanh Nho. Phần lớn lúc này có người thi để làm quan, nhưng có người thi là để giành lấy một uy tín tinh thần có lợi cho cuộc vận động (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…). Có thể nói, cho đến năm 1925 xu hướng giới thiệu công khai hay bí mật sách báo, tư tưởng phương Tây là dựa trên sách báo Trung Quốc. Chính vì vậy tên đất, tên người phương Tây đều được đọc theo âm Hán Việt, nhiều khi khá kì quặc: Voltaire thành Phúc-lộc-đặc-nhĩ, Montesquieu thành Mạnh-đức-tư-cưu,… Ngay đến năm 1964, Marx còn được gọi là Mã-khắc-tư,… Còn tên đất về cơ bản là tên Hán – Việt, mãi đến giờ rút gọn lại lấy âm tiết đầu: Anh, Nga, Phổ, Pháp, Ý,… Ngược lại, dù địa vị người Pháp thay đổi song tên gọi vẫn là tên cũ: Ông toàn quyền vốn là từ chỉ Đại sứ đặc mệnh toàn quyền (plénipotentiaire), ông công sứ vốn là để chỉ lãnh sự (consul),… Cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc thất bại vào năm 1898, phái cải cách người thì chết (trong đó có vua Quang Tự), người thì chạy trốn (Khang – Lương). Các nhà cải cách oanh liệt một thời (Khang – Lương) sau này mất cả chí khí chạy theo bọn quân phiệt. Dù thế, tư tưởng cải cách vẫn được duy trì. Cách nhìn Nho giáo kiểu Khang Hữu Vi trở thành cách nhìn chủ đạo của Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc, của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và các nhà Nho yêu nước ở Việt Nam. Lý thuyết “dân vi quí” hiện vẫn được một số người cho là lý thuyết dân chủ,…

Ở đây có hai điều khác nhau: Thứ nhất, nếu xét một cách thực chứng thì các tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ, pháp luật,… không những không có mà thậm chí không tài nào có thể có trong óc Khổng Tử với tính cách con người của một thời đại cụ thể, cách đây trên 2500 năm. Tư tưởng một con người trước sau vẫn là sản phẩm một xã hội cụ thể. Vài thí dụ: trước thế kỷ thứ IV không một nhà tư tưởng nào ở châu Âu lại công kích chế độ nô lệ. Trước thế kỷ XVII mọi nhà tư tưởng đều than phiền về tình trạng xã hội ngày càng suy đồi, hạnh phúc là ở quá khứ, vậy làm gì có chỗ đứng cho tiến bộ? Trước thế kỷ XX, trừNew Zealand, chẳng có ai yêu cầu phụ nữ bình đẳng với nam giới về chính trị. Những điều hôm nay cho là hiển nhiên, thì mới hôm qua thôi, ngay cả các đầu óc sáng suốt nhất của loài người cũng không thấy… Nhưng mặt khác, tôn chỉ của đạo Khổng là đạt đến sự hài hòa trong xã hội trên cơ sở tu dưỡng bản thân, và để đạt đến điều này, người ta phải hiểu chữ “thời”, tức là không bám vào cái gì cứng nhắc. Chính Khổng Tử thực hiện điều này cho nên các câu trả lời của ông về hiếu, nhân, lễ, trí,… thay đổi tùy theo người, tùy theo trường hợp. Do đó, nếu dân chủ, tiến bộ, tự do… pháp luật tự chúng góp phần làm xã hội hài hòa thì theo Nho giáo phải tự tu dưỡng mình để tiếp nhận chúng và đưa chúng vào xã hội.

Thứ hai, là phong trào Đông Du. Từ cuối thế kỉ XIX Nhật Bản đã là một tấm gương ở chỗ nhờ biết tiếp thu khoa học, kỹ thuật phương Tây, và đã đổi mới được đất nước, giữ vững được độc lập. Đặc biệt là với Nhật, chiến thắng Nga năm 1905 được người Việt Nam chào đón như là chiến thắng chung của người da vàng đánh bại người da trắng. Người Việt Nam xem người Nhật là cùng văn hóa, cùng chủng tộc, cùng cảnh ngộ, và tìm giải pháp cứu nước theo con đường Nhật Bản. Đó là phong trào sang Đông, bằng con đường sang Trung Quốc để sang Nhật Bản, tìm biện pháp duy tân đất nước, đổi mới kinh tế, chính trị, đặc biệt học tập kinh nghiệm quân sự. Các tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch lúc này trở thành ngọn đuốc soi đường. Trên hai trăm người ưu tú ra đi. Phan Bội Châu (1867-1940) giải nguyên trường Nghệ năm 1900, là người lãnh đạo, cùng với Nguyễn Thượng Hiền (hoàng giáp), Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành và những thanh niên yêu nước sẽ tham gia những cuộc khởi nghĩa (Lương Ngọc Quyến, Trần Hữu Lực…).

Thứ ba, là những cuộc vận động cải cách sôi nổi trong nước. Lần đầu tiên, ta thấy nhà Nho bắt tay làm thương nghiệp. Hồ Tá Bang thành lập công ty nước mắm Phan Thiết (Liên Thành). Và Phan Châu Trinh bỏ công việc ở bộ Lễ để đi buôn. Những trường học tư nhân mở ra khắp nơi dạy chữ Quốc ngữ (chỉ riêng tỉnh Quảng Nam có 40 trường), đồng thời là nơi giáo dục tinh thần yêu nước, đổi mới đất nước. Nổi tiếng nhất là trường Đông Kinh nghĩa thục theo gương trường Khánh Ứng nghĩa thục của Nhật Bản. Trường hoạt động sáu tháng, tập hợp những nhà Nho yêu nước như Dương Bá Trạc, Lương Văn Can,… do Nguyễn Quyền làm hiệu trưởng. Những trường tương tự được tổ chức khắp các tỉnh. Người cầm đầu phong trào cải cách trong nước, chấn dân khí, hậu dân sinh là Phan Châu Trinh. Một phong trào đổi mới sôi nổi lôi cuốn toàn quốc, về một số điểm mang tính chất tư sản dân tộc. Linh hồn của phong trào là Phan Châu Trinh. Lúc này thực dân Pháp phạm điều sai lầm sẽ dẫn tới sự sụp đổ của đế quốc Pháp. Nó không hiểu rằng, cái nước mà nó chiếm quá dễ dàng thực tình có một lịch sử vinh quang, một truyền thống yêu nước vô song, một nhân dân thông minh chẳng mảy may thua kém người Pháp. Để nuôi bọn Tây đoan, bọn chủ đồn điền, chủ mỏ,… nó chỉ biết đàn áp. Không chỉ những người chủ trương vũ trang khởi nghĩa, mà cả những người đòi cải cách trong phạm vi hợp pháp cũng bị đàn áp, và đàn áp khốc liệt hơn: Trần Quí Cáp bị chém. Nhà tù Côn Đảo chật ních những con người hay chữ nhất của đất nước như: Huỳnh Thúc Kháng (hoàng giáp), Ngô Đức Kế (tiến sĩ), Đặng Nguyên Cẩn (phó bảng)… Thầy tôi, Phan Võ, thường nhắc lại lời than của cụ Đình nguyên Đặng Văn Thụy: “Bọn hay chữ đi Côn Đảo cả rồi, ở đây chẳng còn ai biết chữ nghĩa gì nữa!”.

Mọi con đường đều bị bế tắc. Con đường dựa vào Nhật chấm dứt sau khi Nhật cấu kết với Pháp trục xuất những người yêu nước. Con đường tự lực đổi mới đất nước theo gương châu Âu bị đàn áp. Dần dần, người Việt Nam nhận ra con đường duy nhất, vô cùng khó khăn nhưng cứu được nước. Nếu các đế quốc cấu kết với nhau, thì con đường cứu nước chỉ có thể là con đường theo Quốc tế III chống toàn bộ đế quốc chủ nghĩa.

Chủ nghĩa xã hội đã đến với văn hóa Việt Nam, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc. Bản sắc ấy dám đổi mới, dù cho đổi mới là cực đoan, là đoạn tuyệt với những điều trước đây được xem là thiêng liêng. Nhưng đổi mới là để cứu nước, không phải để làm đầy tớ người ta. Vài thí dụ. Không phải thực dân, mà chính các nhà Nho yêu cầu bỏ chế độ khoa cử, đoạn tuyệt với chữ Hán. Không phải thực dân, mà chính các nhà Nho truyền bá chữ Quốc ngữ, một văn tự Tây phương. Khác tất cả các nước đã có một truyền thống văn tự rực rỡ, Việt Nam dám đổi mã văn tự, theo hẳn châu Âu. Vào khoảng năm 1920, chữ Hán và chữ Nôm đều ở trong quá trình tàn lụi. Ngày trước, người Việt để búi tó. Từ năm 1907 có phong trào cắt búi tó để đoạn tuyệt với quá khứ. Đến năm 1920 búi tó biến mất, cũng vào khoảng ấy chế độ quân chủ, dù là lập hiến, cũng bị công kích, người Việt chỉ có thể chấp nhận chế độ dân chủ.

Ba xu hướng phê phán Nho giáo

Thực tế một quá trình Âu hóa đã diễn ra. Ai chống lại? Không phải các nhà Nho mà thực dân Pháp. Nhiều người hăng hái nhất bênh vực chữ Quốc ngữ bị đày đi Côn Đảo. Ai cắt búi tó vào năm 1908 đều bị tình nghi. Các trường học theo xu hướng cải cách bị đóng cửa, các hiệu buôn để mở mang kinh tế đất nước bị cấm.

Dưới đây, chúng tôi trình bày ba quan điểm khác nhau do ảnh hưởng của tiếp xúc văn hóa với phương Tây, với Nho giáo nói riêng, và truyền thống văn hóa nói chung. Nó là tiêu biểu cho ba giai đoạn.

1. Sự phê phán thứ nhất là theo xu hướng tư sản: Từ 1930, sau khi phong trào Việt Nam Quốc dân Đảng bị tan rã do sự đàn áp của thực dân, thực tế ngọn cờ giải phóng dân tộc đã chuyển sang xu hướng mới do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Xu hướng Việt Nam Quốc dân Đảng vốn mang tính chất trí thức tiểu tư sản thành thị, sau khi mất chỗ dựa về chính trị đã tìm một lối thoát trong văn học nghệ thuật. Tờ báo Phong hóa (1932) rồi Ngày nay (từ năm 1935) trong một thời gian dài đã có ảnh hưởng sâu rộng.

Người đứng đầu là Nguyễn Trường Tam (1906 – 1963), bút danh Nhất Linh, đỗ cử nhân khoa học ở Pháp. Dẫu sao, ông cũng thuộc lớp lớn tuổi so với thế hệ sinh sau năm 1910, cho nên có hai Nhất Linh trái ngược nhau: một Nhất Linh của Nho phong còn chịu nhiều ảnh hưởng Nho giáo và chưa có dấu hiệu báo trước con người của Phong hóa, Ngày nay; và một Nhất Linh cầm đầu Tự  lực văn đoàn, tập hợp những người em trai của ông là Nguyễn Tường Long (1907-1948) tức Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Lân (1909-1943) tức Thạch Lam và một số người bạn bè như Trần Khánh Giư (1896-1947) tức Khái Hưng, Nguyễn Thứ Lễ (1907-1989) tức Thế Lữ, Hồ Trọng Hiếu (1900-1976) tức Tú Mỡ, Tô Ngọc Vân (1906-1954), sau này thêm Ngô Diệu (1916-1985) tức Xuân Diệu, Cù Huy Cận (1919-2005) tức Huy Cận. Tuy nhiên ở đây, tôi chỉ nói đến ảnh hưởng của văn hóa Pháp tới sự phê phán Nho giáo. Với thế hệ mới, phần lớn sinh sau năm 1900, cái vốn Hán học thường là non yếu không cho phép họ tiến hành sự phê phán trực tiếp về học thuật. Cái vốn chủ yếu của họ là văn hóa Pháp tiếp thu trong nhà trường, nên họ sẽ sử dụng những chuẩn mực mới, những chuẩn mực của xã hội tư sản phương Tây để đả kích toàn bộ xã hội cũ.

Với tờ Phong hóa, ta bắt gặp loại nhà báo phương Tây mà trước đây ít thấy. Đó là những người chỉ chú ý đến sự kiện trước mắt, phê phán kịch liệt, không xét đến gốc gác, không đi sâu vào bản chất, chỉ nhìn ở hiện tượng. Đó là tờ báo châm biếm, đả kích bất cứ cái gì, lần này lượt khác, không biết chán, không mệt mỏi. Nhưng sự phê phán không đụng chạm bản thân chế độ thực dân, mà chỉ ở biểu hiện bên ngoài, lối phê phán ta thường gặp ở những tờ báo châm biếm của Pháp và là lối phê phán mà thực dân chấp nhận được để giữ vẻ ngoài dân chủ. Một tờ báo châm biếm cần có những bức tranh châm biếm sắc sảo. Về điểm này, tờ báo được sự giúp đỡ của hai họa sĩ bậc thầy là Nguyễn Gia Trí và Tô Ngọc Vân. Tranh châm biếm đã có từ trước. Những phải đến Phong hóa, mới có loại tranh châm biếm khắc họa các nhân vật có thực, hay hư cấu, tới mức điển hình, nhìn thấy là biết ngay, không một lời giải thích. Muốn làm thế, phải phân tích đối tượng để rút ra chi tiết điển hình, cấp cho chi tiết này một nội dung tư tưởng, đặt nhân vật vào những tình huống tiêu biểu để tính chất nhân vật được mọi người nhận thấy rõ ràng. Cái khó ở đây không chỉ ở tài năng vẽ mà trước hết ở một sự cấu trúc hóa đối tượng kiểu châu Âu. Cho nên Việt Nam trước khi tiếp xúc với phương Tây chưa có tranh biếm họa.

          (Còn nữa)

 Ghi chú

*Trân trọng cảm ơn nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa đã giúp http://phebinhvanhoc.com.vn có được bản vi tính để giới thiệu với bạn đọc công trình nghiên cứu quan trọng này của PGS. Phan Ngọc.Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply