Tiểu thuyết hiện đại hay nghệ thuật của tự sát


Dương Thắng

Có ba lĩnh vực trong đời sống tinh thần của nhân loại mà các nhà triết học, các nhà đạo đức học và rất nhiều “nhà” khác , do không được trang bị những công cụ cần thiết, sẽ không bao giờ có thể nắm bắt được, có thể hiểu được tường tận về chúng, đó là Sự điên loạnCái chết và những Kẻ khác.Thực vậy, làm sao chúng ta có thể phát biểu gì về cái chết khi chúng ta chưa có một chút trải nghiệm nào về nó và chưa từng đặt chân lên Vương quốc của Thần Chết. Nếu chúng ta còn đang suy nghĩ,nếu chúng ta còn đang dựa vào sự “khôn ngoan” để sinh tồn, chúng ta liệu có thể hiểu được những suy tưởng điên loạn, một thực thể khác tồn tại và vận động theo những quy tắc khác…Và với những Kẻ khác, luôn khép kín những suy nghĩ của mình trong thế giới riêng biệt khác hoàn toàn thế giới của ta, làm cách nào để chúng ta có thể hiểu biết được những gì đang diễn ra trong đó… (DT) 

Văn học có thể giúp chúng ta hiểu biết gì về cái chết ?

Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta cần tiếp cận vấn đề từ những góc độ khác nhau và bằng những câu hỏi khơi gợi khác nhau: Cái Chết đã xuất hiện trong văn học từ bao giờ, vì sao hình ảnh về Cái Chết trong văn chương đã đi từ những cái chết  “huyết áp thấp”,  những cái chết “yên ả tự nhiên” (trước thế kỷ XIX) để rẽ ngoặt thành những chết “ huyết áp cao” , những cái chết đột ngột, dữ dội và mang nhiều sắc thái cá nhân ( từ thế kỷ XIX đến nay)? Vì sao lại xẩy ra những vụ tự sát của các nhà văn nổi tiếng, những vụ tự sát đã gây ra cho chúng ta những cảm giác choáng váng, mở ra trước mắt chúng ta những vực thẳm kinh hoàng (trường hợp Nerval, Crevel, Montherlant, Gary, Debord, Stefan Zweig,…). Các nhà văn lớn suy tư thế nào về Cái Chết, tại sao lại có những thái độ ủng hộ ( ở Montesquieu, Nietzche,Malraux..) hay phản đối ( ở Montaigne,Satre, Camus…) đối với hành động tự tử ? Dựa vào tiêu chí nào để có thể hệ thống hóa và đánh giá lại những cái chết đã từng biết đến (của các nhân vật) trong văn học? Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo, chúng ta sẽ hạn chế khảo sát ở đây trong việc nhìn nhận về những hành động tự sát , những “cái chết tự nguyện” của các nhân vật văn học thông qua một vài ví dụ trong lịch sử văn học thế giới, chúng đóng một vai trò quan trọng trong văn chương, như một tín hiệu “ bật đèn xanh” cho hành động tự sát , hành động trước đây đã từng bị lên án trong một thời gian dài.

 

“ Dân chủ hóa” hành động tự sát 

Sẽ là khó khăn để có thể liệt kê đầy đủ về những khuynh hướng viết về những “ cái chết tự nguyện” trong văn học. Tần xuất xuất hiện của nó thay đổi ở từng nhà văn khác nhau và trong từng thời kỳ khác nhau.Trong thời kỳ Trung cổ, các vụ tự sát ít xuất hiện trong văn chương, nguyên nhân là sự lên án nặng nề của những đức tin Thiên chúa giáo đối với việc tự sát. Sự đối lập càng trở nên rõ nét hơn nếu chúng ta so sánh văn học của thế kỷ XVII và XVIII với thế kỷ XIX, chúng ta sẽ thấy trong các tác phẩm của Balzac, Flaubert, Zola hay Hugo, tự sát đã trở thành một biểu tượng “ cao quý” trong văn học ( chúng ta nhớ tới truyền thống tôn vinh của xã hội Nhật Bản đối với hành động tự sát của các chiến binh, sự tôn vinh kéo dài cho tới tận ngày hôm nay- ND). Càng lý thú hơn khi chúng ta nhận thấy hiện tượng tăng vọt về số lượng các vụ tự sát trong các vở kịch của thời kỳ Phục hưng và thời kỳ cổ điển, các motif tự sát kiểu đó đã được kế thừa lại và luôn dành cho các vai danh tiếng trong các vở bi kịch của Voltaire . Cũng từ giữa thế kỷ XIX bắt đầu có sự phân hóa, hành động tự sát vẫn tiếp tục là một đặc quyền của tầng lớp tinh hoa trong các tác phẩm của Hugo (Hermani, Ruy Blas ) hay của Vigny ( Chatterton) nhưng nó đã bắt đầu xuất hiện nơi tầng lớp tư sản như trong  tác phẩm của Flaubert hay tầng lớp bình dân như ở Zola.

Sự“ dân chủ hóa”  này kéo theo (cho đến hiện tại) ba hệ quả rõ ràng: Thứ nhất, hành động tự sát là một sự kiện lãng mạn.Điều đó giải thích vì sao trong các vở kịch của Ionesco chỉ có duy nhất một vụ tự sát, còn ở các vở kịch của Beckett, các nhân vật chỉ mộng mơ tự sát mà không có khả năng thực hiện nó.Thứ hai, nó phản ánh nhiều hơn nữa tâm tính của thời đại ( tầm quan trọng của Tự sát chính trị nơi Malraux, Quan hệ đồng tính gâychết chóc trong những tiểu thuyết của Crevel hay các vở kịch của Genet..) .Thứ ba nó tạo ra một “chất thơ” của hành động tự sát.

Cái chất thơ này chính là căn cứ quan trọng nhất để xác lập tính độc đáo của những hành động tự sát trong văn chương.Nó mang tính biểu tượng hai mặt.Trước hết nó tạo ra một thảm kịch lãng mạn ở đó nhà văn đã thiết lập một liên hệ lô gic giữa hành động cuối cùng , thường nằm trong màn cuối của những vở kịch hay các chương cuối của tiểu thuyết, với những sự kiện xẩy ra trước đó, cái liên hệ thường không nhất thiết tuân theo các lô gic thông thường. Nhận định trên tỏ ra hoàn toàn chính xác khi chúng ta nói về vụ tự tử của nhân vật Madelaine deSainte Colombe trong cuốn tiểu thuyết Những buổi sáng của thế giới( Tous les matins du monde) của Pascal Quignard. Là con gái của Sainte Colombe một nhạc sĩ tài năng, sống xa lánh thế giới, một người theo thuyết khổ hạnh,Madelaine de Sainte Colombe đã phải lòng nhạc sĩ trẻ Marin Marais , người đã coi cô như một thú vui tiêu khiển và bỏ rơi cô ngay sau đó.Cô mang thai và sinh ra một đứa trẻ chết ngay khi mới chào đời.Rồi cô bị nhiễm căn bệnh đậu mùa, rồi cô gặp lại người tình cũ của mình, đang ngây ngất với những thành công ở triều đình, trong cuộc sống “thực” điều này không thể làm sự việc trở nên trầm trọng tới mức( như trong tiểu thuyết) khi  cô quyết định quấn sợi dây thừng quanh cổ để tự tử…

Một yếu tố khác đã tăng thên tính thơ của những cái chết tự nguyện đầy lãng mạn này,đó là sự mô tả trong tiểu thuyết. Nếu như trong kịch nói, ngoài việc đưa vào trong những giai  điệu , sự mô tả này chỉ có thể gói gọn trong một câu nói hay một cử chỉ ( giống như câu nói nổi tiếng “ Cô ấy đang thở hắt ra , thưa Đức Ông” của Panope trong vở Phèdrevà Hippolytecủa Racine ) thì trong văn xuôi tác giả có độ tự do hơn khi lựa chọn giữa một ghi chú rất ngắn gọn kiểu như “… anh ta nhìn thấy những khoảng khắc cuối cùng đang đến với anh ta” như trong Một tăm tối tuyệt đẹp ( Un beau ténébreux ) của Julien Gracq hoặc là một sự trần thuật được triển khai chi tiết. Kiểu mô tả này cho phép dựng nên những khung cảnh mang tính tượng trưng hơn, phù hợp hơn chiều sâu văn chương của việc tự sát ( ví dụ như trongNhững người khốn khổ của Hugo, mầu đen kịt của sông Seine và màn đêm dầy đặc đã thúc đẩy Javert tìm đến cái chết), nó cũng cho phép kéo dài thời gian của hành động tự sát ( đó là sự hấp hối kéo dài và đẫm máu của nhân vật Werther của Goethe ).Kiểu mô tả này cũng cho phép nhấn mạnh tới các chi tiết như khi Quignard đã môtả về vụ tự tử của Madelaine de Sainte Colombe “ Cô lúng túng khi đạp đổ chiếc ghế đẩu, cô hẩy chân và nhẩy múa rất lâu trước khi chiếc ghế đổ nghiêng, khi hai bàn chân cô chạm vào khoảng không trống rỗng, từ cổ họng cô thoát ra một tiếng kêu , một sự lạnh giá đột ngột xâm chiếm toàn bộ đôi chân cô”

 

Từ Racine đến Bataille 

Những hành động tự sát trong tưởng tượng này có gì giống với những vụ tự sát trong cuộc sống thực ? Câu trả lời là : Giống và cũng không giống. Giống là bởi vì những cách thức tự sát trong văn chương, trừ một số ngoại lệ, là khá hấp dẫn (nhân vật Porcie của Garnier nuốt than hồng để chết, nhân vật Albine trong cuốn Lỗi lầm của Tu viện trưởng Mouret ( La Fautede l’abbé Mouret ) đã tự đầu độc mình bằng mùi hương của các bông hoa).Giống bởi vì cách thức của nó khá trùng hợp với những cách thức trong cuộc sống thực (bằng vũ khí, trẫm mình xuống nước, treo cổ hay nhẩy lầu, uống thuốc độc..), nó còn giống bởi vì, như Durkheim đã phát biểu trong cuốn sách nổi tiếng của ông với nhan đề Tự Sát ( Le Suicide) , rằng tất cả những vụ tự sát đều mang một phần cái nguyên nhân “ ích kỷ” bởi sự thiếu hòa nhập với xã hội.Vậy đâu là sự khác biệt giữa cái vụ tự sát trong văn chương và tự sát trong đời thực? Trước hết đó là tỷ lệ những vụ tự sát trong văn chương cao hơn hẳn những vụ tự sát trong đời thực. Theo con số thông kế chính thức trong năm 2007,trên thế giới, trung bình cứ 100.000 cư dân có 14, 7 vụ tự sát nhưng trong Tấn trò đời ( La Comédie humaine )của Balzac người ta đã tính được tỷ lệ là 849 trường hợp tự tử trên 100.000 cư dân  còn ở một nhà văn gần chúng ta hơn là Bataillethì cứ 21 cái chết được nhắc tới sẽ có 9 cái chết là do tự tử. Một sự khác biệt nữa giữa những vụ tự sát trong văn chương và trong cuộc sống đến từ những tiêu chuẩn riêng của văn chương, từ sức mạnh tưởng tượng của văn chương.Ví dụ trường hợp người nghệ sĩ tuyệt vong đã tự sát trước giá vẽ của mình trongTác Phẩm ( L’œuvre ) của Zola hay chàng thiếu niên tự bắn vào trái tim mình bởi ý nghĩ chán chường khi bắt buộc phải bước vào tuổi trưởng thành , bước vào thế giới người lớn trong Ma chơi ( Le Feu follet ) của Drieu la Rochelle… Nói ngắn gọn , theo một cách nào đó các vụ tự sát trong văn chương đã mở ra một “thế giới” khác. 

Phải chăng khi nói về cái chết, các nhà văn đang lặp lại, đang nói về một điều đã biết từ lâu ? Thẳng thắn mà nói , chúng ta có thể khẳng định rằng dẫu rằng các nhà văn có tiếp cận bao nhiêu lần , có lý giải bao nhiêu điều về cái chết , đó cũng chỉ là những cách tiếp cận gián tiếp , những ánh mắt nhìn vào cái bóng của sự vật trong một chiếc gương. Và bí ẩn vềCái Chết không bao giờ có lời giải đáp trọn vện.Cùng đưa ra những câu chuyện về Cái Chết, mỗi nhà văn khác nhau sẽ kể ra những điều khác nhau, phù hợp cho thời đại và những chờ đợi của các độc giả của họ. Như Valery đã nói “Cái chết luôn được quan sát bằng con mắt của những kẻ đang sống” , những cái chết trong văn chương sẽ luôn phải “vay hình mượn dạng” từ những gì đang tồn tại trong cuộc sống và cũng sẽ chẳng bao giờ trùng khớp hoàn toàn với cuộc sống. Nhưng thử hỏi thể loại văn chương nào, có sản phẩm hư cấu nào của trí tưởng có thể trùng khít hoàn toàn, là bản sao “nguyên xi”  của cuộc đời thực.Nếu như thế thì nó có còn ý nghĩa gì không?

 

Dương Thắng Tổng hợp và biên dịch từ “ Dossier :Ce que la littérature sait de la mort” Le Magazine Littéraire.  11/2012. Bài đã đăng trên Văn Nghệ Trẻ số ra ngày 19/5/2013

Leave a Reply