Tình bạn lãng mạn và tình yêu đồng tính nữ


Lillian Faderman* 

 

Tình bạn lãng mạn say mê giữa đàn bà là một định chế xã hội được bao dung, được nhìn nhận rộng rãi trước thế kỉ … [hai mươi]. Thực sự, đàn bà được mong đợi tìm ra những tâm hồn đồng điệu và kết gắn bền chặt. Xã hội thừa nhận rằng trong khi một người đàn bà không thể tin cậy đàn ông bên ngoài gia đình chị, chị có thể tìm một người phụ nữ khác cho những bảo bọc cảm xúc và không sợ phản bội. Nếu một người đàn bà thuộc thời đại trước không cư xử với người bạn thân thiết … [đầy cảm xúc], chị hẳn còn bị coi là lạnh lùng một cách kì lạ nữa. Nhưng quan hệ của chị với một người phụ nữ khác vượt quá những trao đổi thân ái như thế. Thật không lạ lùng nếu một người đàn bà tìm trong tình bạn lãng mạn của chị trung tâm của đời mình, hoàn toàn tách biệt khỏi những yêu cầu của hôn nhân và gia đình nếu không thay thế những thứ đó. Tuy nhiên, khi vai trò của những người đàn bà trong xã hội bắt đầu thay đổi – khi những gì đàn bà làm cần phải được coi là nghiêm túc vì họ đạt được một số quyền lực khiến họ ra những con người trưởng thành – quan điểm của xã hội về tình bạn lãng mạn đã thay đổi.

Tình yêu giữa đàn bà – những quan hệ về mặt cảm tính (emotionally) không hề khác với những tình bạn lãng mạn của những thời đại trước – đã trở thành cái ác hoặc bệnh hoạn. Không chỉ là đàn ông bây giờ đã thấy động lực tính dục của phụ nữ một cách thực tế hơn. Nhiều quan hệ mà họ đã kết án chẳng dính líu gì mấy đến sự biểu lộ tính dục. Đúng hơn là tình yêu giữa đàn bà, kết đôi với sự tự do đang hiện xuất của họ, có thể quan niệm được là mang lại sự lật nhào của dục tính khác phái (dị tính) – điều này có nghĩa là không chỉ tính dục giữa đàn đàn ông và đàn bà mà còn là văn hoá phụ quyền, sự thống trị của nam giới, và sự quỵ luỵ của nữ giới. Biết được cái nhìn của xã hội về tình yêu giữa đàn bà, những phụ nữ bị bó buộc phải dồn nén cảm xúc tự nhiên; họ được dạy nhìn nhận đàn bà chỉ như những địch thủ và đàn ông như những đối tượng yêu đương khả dĩ duy nhất, hoặc họ bị bó buộc phải xem chính mình như “đồng tính nữ” (lesbian), điều này có nghĩa rằng họ bị “lệch lạc” hoặc về đạo đức hoặc về cảm xúc. Những gì đã là đáng yêu và nuôi dưỡng trong tình yêu giữa đàn bà, những gì đàn bà ở những thế kỉ trước biết rành, trở thành một trong những bí mật được giấu kín nhất của chế độ phụ quyền.

Trong thế kỉ hai mươi tinh vi những người đàn bà đã lựa chọn yêu đàn bà không còn có thể tự thấy mình như kết bạn lãng mạn, trừ khi họ tự bao quanh trong một sự ngây ngô hết sức hiện tượng và quên hẳn tâm lí học hiện đại, văn học, và những truyện tiếu lâm. Nếu họ kiên quyết trong tình yêu đồng-giới vượt quá tuổi thiếu niên, ít nhất họ sẽ phải cứu xét những gì xã hội đã nghĩ về những người đồng tính nữ, và họ sẽ phải quyết định mình sẽ nhập tâm những quan điểm xã hội đó tới mức độ nào. Nếu họ mạnh mẽ khác thường hoặc có một nhóm hỗ trợ mạnh mẽ, họ có thể thoát khỏi việc xem mình như những kẻ tội lỗi bệnh hoạn. Đối với nhiều người trong số họ, vì không có những gương mẫu để chỉ ra rằng tình yêu giữa đàn bà không phải sai trái hay không lành mạnh từ trong bản chất, những lời phát biểu của các chuyên gia về việc đồng tính nữ tác động như một sự tiên tri tự hoàn thành. Họ trở nên hoang mang và bị dằn vặt đúng như người ta nghĩ. Nhưng chỉ ở thời đại ngắn ngủi này trong lịch sử [thế kỉ 20] bi kịch và sự bệnh hoạn mới bị gán ghép mạnh mẽ đến thế cho (và có lẽ vì lí do đó quá thường thấy trong) tình yêu giữa đàn bà.

Điều này đã thay đổi sự hưng khởi của đợt sóng thứ hai về nữ quyền. Đã tạo ra một thách thức tổng quát với văn hoá phụ quyền, nhiều nhà nữ quyền trong thập niên vừa rồi [1970] đã bắt đầu thách thức những điều cấm kị của phụ quyền về tình yêu giữa đàn bà nữa. Họ xem như công việc của mình là phải tự trút bỏ tất cả những định kiến bị xã hội do nam giới thống trị nhồi nhét, để tái cứu xét mọi điều về đàn bà, và cuối cùng là để đòi lại ý nghĩa của tình yêu giữa đàn bà. Đã học hỏi để chất vấn cả cái trật tự xã hội khiến đàn bà là giới tính thứ hai cùng ý nghĩa đằng sau những điều cấm kị về tình yêu giữa đàn bà, họ quyết tâm sống đời mình qua những định nghĩa mới mà họ sẽ tạo ra. Họ tự gọi mình là đàn bà-xác định-là đàn bà, hoặc họ toan tính có ý thức để tháo gỡ cái vết nhơ khỏi từ “đồng tính nữ” (lesbian) và tự gọi mình là những người nữ quyền đồng tính nữ, bằng từ ngữ đó họ muốn nói rằng họ sẽ đặt đàn bà trước tiên trong đời sống của họ vì đàn ông đã chứng tỏ, nếu không dựa trên thước đo nhân thân thì là trên một thước đo văn hoá, là không thể tin cậy được. Những nhà nữ quyền đồng tính nữ thấy đàn ông và đàn bà là chênh nhau trong lối tiếp cận toàn diện với thế giới: đàn ông, theo thói thường, thì chuyên quyền, bạo lực, và lạnh lùng, còn đàn bà thì ngược lại. Giống như việc kết bạn lãng mạn trước họ, những nhà nữ quyền đồng tính nữ đã chọn đàn bà, những tâm hồn đồng điệu, làm đối tượng yêu đương. Tuy nhiên, không giống kết bạn lãng mạn, họ hiểu qua chủ thuyết nữ quyền về cái ý nghĩa chính trị xã hội của điều họ lựa chọn.

Những nhà nữ quyền đồng tính nữ khác với kết bạn lãng mạn trong một số cung cách. Một cách sáng nghĩa nhất, những người đàn bà trước đây thường không hi vọng việc thực sự sống đời với nhau mặc dù thường lặp lại những hoang tưởng rằng họ có thể; nhưng việc kết bạn lãng mạn như thế cũng không có một chủ thuyết hùng hồn giúp họ giải thích được tại sao họ có thể cảm thấy gần gũi với đàn bà hơn đàn ông. Và sự khác biệt cơ bản đã tác động lên mối quan hệ của họ với thế giới là việc kết bạn lãng mạn đó, không giống những nhà nữ quyền đồng tính nữ, ít khi có lí do để tin rằng xã hội thấy họ như những người phá luật – ngay cả khi họ cùng nhau bỏ trốn….

Những nhà nữ quyền đồng tính nữ hiểu, ngay cả khi họ thoải mái bên trong một nhóm hỗ trợ lớn, rằng thế giới bên ngoài xem họ như tội đồ và giảm thiểu tình yêu của họ thành một từ ngữ chê trách. Bất cứ mối giận dữ nào mà họ bắt đầu như những nhà nữ quyền đều được nhân lên vô số lần như những người nhà quyền đồng tính nữ ngay khi họ trải nghiệm, hoặc trong thực tế hoặc qua quan sát, sự hiềm khích của xã hội với cái điều vừa hợp lí và đẹp đẽ đối với họ. Dù cho họ không đau khổ về nhân thân – nếu họ không mất những đứa con ở toà hoặc nếu họ không bị cho nghỉ việc hoặc bị gia đình mình xua đuổi vì những sự dấn thân về tính dục-chính trị của họ – những nhà nữ quyền đồng tính nữ phẫn nộ khi biết rằng những khả tính như thế tồn tại và rằng nhiều đàn bà quả có đau khổ vì sự lựa chọn yêu những người đàn bà khác. Những người bạn lãng mạn không bao giờ biết giận qua tình yêu của họ.

Có lắm sự qua đó những nhà nữ quyền đồng tính nữ bất đồng ý kiến, chẳng hạn như những đề xuất liên quan tới giai cấp, nên chăng tạo những quan hệ độc hôn (monogamous), những đức tính của việc sống cộng đồng, sự cách li có cần thiết không để sống như một người nữ quyền đồng tính nữ, tính chất của hành động xã hội để có hiệu quả, vân vân. Nhưng tất cả họ đồng ý rằng đàn ông đã giao tranh thường xuyên chống lại đàn bà, đã phạm vào những sự ghê tởm hoặc tốt nhất cũng là bất công đối với họ, giảm thiểu họ thành những đứa trẻ đã lớn, và rằng một nhà nữ quyền không nên ngủ trong trại địch. Tất cả họ đồng ý rằng trở thành một đồng tính nữ thì dù nhận thức được một cách ý thức hay vô ý thức, một hành vi chính trị, một sự từ khước làm tròn hình ảnh của giống đực về thân phận đàn bà hoặc cúi đầu trước sự ưu thắng của giống đực. Có lẽ đối với những người bạn lãng mạn thuộc những thời đại khác mối quan hệ của họ cũng là một hành vi chính trị, mặc dù che đậy hơn nhiều: Với nhau họ có thể thoát khỏi những yêu cầu bị áp đặt từ bên ngoài về nữ tính đặc biệt khe khắt suốt phần lớn thế kỉ mười tám và mười chín. Họ có thể xem mình như những con người và giới tính hàng đầu chứ không phải là giới tính thứ hai. Nhưng họ không hi vọng rằng qua quan hệ của mình họ có thể thay đổi cấu trúc xã hội. Còn những nhà nữ quyền đồng tính nữ quả có hi vọng này.

Họ thấy chủ nghĩa nữ quyền đồng tính nữ của mình không chỉ như một lựa chọn thiết thân về mặt phong cách sống , mặc dù nó chắc chắn là một lựa chọn thiết thân. Nhưng nó cũng là một lựa chọn chính trị thách thức sự kì thị tính dục và dị tính. Nó là một lựa chọn thường được làm trong khung cảnh của phong trào nữ quyền và với một nhận thức về hệ tư tưởng đằng sau nó. Nó dường như là lựa chọn khả dĩ duy nhất cho nhiều đàn bà tin rằng nhân thân là chính trị (the personal is political), rằng bác bỏ ưu thắng của đàn ông trong trừu tượng, nhưng lại dấn vào quan hệ dị tính trong đó phụ nữ luôn luôn quỵ luỵ thì thực là vô nghĩa. Mặt khác, chủ nghĩa đồng tính nữ đương đại rất có nghĩa lí. Đó là một sự kết hợp của tình yêu tự nhiên giữa đàn bà, rất được khuyến khích trong thuở kết bạn lãng mạn, cộng với sự tự do của đàn bà thế kỉ hai mươi mà nữ quyền đã khiến có thể.

Trong khi những người bạn lãng mạn có độ rộng đáng kể trong sự bày tỏ của họ về sự thân thương thể chất đối với nhau, có lẽ rằng trong một thời đại khi đàn bà không được giả thiết là có tính dục, những khả tính tính dục về quan hệ của họ ít khi được thi triển. Đàn bà đương đại không thể nào còn ngây thơ như thế được nữa. Nhưng những khía cạnh tính dục của các mối quan hệ nữ quyền đồng tính nữ nói chung ít tạo nghĩa hơn sự hỗ trợ cảm xúc và cái tự do của việc tự định nghĩa. Trong khi nhiều quan hệ nữ quyền đồng tính nữ có thể và quả có tiếp tục lâu dài sau khi thành tố tính dục đã phai mòn, họ không thể tiếp tục mà không có sự hỗ trợ cảm xúc và cái tự do của việc tự định nghĩa. Những sự kết bạn lãng mạn của các thời đại khác hẳn là được cảm thấy hoàn toàn thoải mái trong nhiều quan hệ nữ quyền đồng tính nữ nếu như nhãn hiệu và vết nhơ đương đại được tháo gỡ đi.

Nhưng nhiều đàn bà ngày nay vẫn tiếp tục bị hoảng sợ bởi tình yêu giữa đàn bà vì sự hàm nghĩa chê trách của nhãn hiệu và vết nhơ đương đại vẫn còn rất thực đối với họ. Nỗi sợ hãi như thế hẳn phải tiêu biến trong tương lai khi người ta tiếp tục bác bỏ lối chính thống nghiêm ngặt trong quan hệ tính dục: Đàn bà sẽ càng ngày càng ít hoảng sợ bởi ý tưởng về tình yêu đồng tính mà không có sự cứu xét cái nó bao hàm vượt ngoài “sự bất thường tính dục” (sexual abnormality). Khái niệm của chủ nghĩa đồng tính nữ sẽ được trung hoà. Khi những phụ nữ được nuôi dạy để độc lập hơn, họ sẽ không cho rằng hôn nhân dị tính là cần thiết cho sự sống còn và sự hoàn thiện; mà họ cũng chẳng chịu chấp nhận những định nghĩa của giống đực về thân phận đàn bà hoặc phi thân phận đàn bà. Họ sẽ không có nhu cầu dồn nén những cảm xúc tự nhiên về sự thân thương tới những người đàn bà khác. Tình yêu giữa đàn bà sẽ trở thành cũng thông thường như tình bạn lãng mạn đã có trong những thời đại khác. Sự kết hợp của tình bạn lãng mạn trong thế kỉ hai mươi và sự độc lập của đàn bà sẽ tiếp tục cho ra chủ nghĩa nữ quyền đồng tính nữ.

Trong một thế giới lí tưởng thì chủ nghĩa nữ quyền đồng tính nữ, vốn nhiệt liệt loại trừ những quan hệ với đàn ông, hẳn không tồn tại. Và dĩ nhiên, sự kết tình bạn lãng mạn như thể, đàn bà được cho phép cư xử trong những thế kỉ khác – trong đó họ có thể là hầu hết mọi thứ với nhau, nhưng trong đó cũng một người bảo hộ nam giới nói chung là cần thiết để những mối này sống còn – hẳn cũng không tồn tại. Thay vì thế, trong một cõi không tưởng đàn ông sẽ không đòi sự ưu thắng dù là trong mối quan hệ xã hội hoặc nhân thân, và đàn bà sẽ không cảm thấy rằng họ phải từ bỏ một phần chính mình để quan hệ với đàn ông. Những người đàn bà với tham vọng và sức mạnh và một cảm thức về tự thân sẽ không có lí do gì để xem đàn ông như kẻ thù bên ngoài kia để chinh phục và khuất phục. Và hẳn cũng chẳng có bất cứ toan tính nào để nhồi sọ giới nữ với khái niệm rằng để được bình thường chị phải chuyển tình yêu sớm chị cảm thấy đối với mẹ trước hết sang cha và rồi sang một kẻ thay thế cha – một người đàn ông hơn chị về mọi mặt: lớn tuổi, cao vóc, học thức, thông minh, mạnh mẽ hơn. Đàn bà cũng như đàn ông sẽ không lựa chọn những đối tượng yêu đương trên cơ sở về chính trị tính dục, trong sự đầu hàng hoặc trong phản ứng với một hệ tư tưởng dị tính độc đoán. Họ ắt sẽ chọn yêu một ai khác chỉ trong sự quy chiếu về những nhu cầu cá nhân của chính cá tính mình, một cách lí tưởng đã được cho phép phát triển không bị vướng mắc vào và thoát khỏi sự khuôn sáo về vai trò tính dục. Sự lưỡng tính trong tiềm năng hoặc hiện thực, ngày nay được những nhà nữ quyền đồng tính nữ xem như một sự phản bội chính trị và bị những dị tính xem như một sự bất ổn, hẳn sẽ là bình thường, cả về mặt cảm xúc và mặt xác suất. Nhưng cho tới khi đàn ông thôi cho đàn bà lí do để xem họ như kẻ thù và cho tới khi có được chấm dứt sự cưỡng chế trong những vai trò được ấn định sẵn mà không có sự quy chiếu về những nhu cầu và khát vọng cá nhân, thì những nhà nữ quyền đồng tính nữ sẽ tiếp tục coi sự lựa chọn của họ như là thứ khả dĩ hợp lí duy nhất cho một người đàn bà khát vọng được là con người trưởng thành của chính mình.

Hồ Liễu dịch (Sài gòn ngày 27/2/2013). Trích trong Lillian Faderman, Vượt qua tình yêu về đàn ông (Surpassing the Love of Men), trang 411–415. Ấn bản năm 1981 bởi Lillian Faderman. Nhà xuất bản William Morrow.

Ghi chú:

*Lillian Faderman – giáo sư Anh ngữ,

tại Đại học bang California, ở Fresno

Nguồn: Bản đăng trên http://phebinhvanhoc.com.vn/ đã được sự đồng ý của dịch giả
 

Leave a Reply