Tính chuyên nghiệp và vấn đề chuyên nghiệp hóa tại các tòa soạn văn nghệ


 Lâm Phong

 

Câu chuyện chuyên nghiệp hóa bắt nguồn từ đòi hỏi của xã hội, sự phân công xã hội và của bản thân sự phát triển nghề nghiệp chuyên môn này, chứ không phải là chuyện muốn hay không của cá nhân nào. Chuyên nghiệp hóa là xu hướng tất yếu, không thể khác, được đặt ra từ nhiều phía (cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn hàn lâm, cơ quan truyền thông, các công ty sách, các nhà xuất bản, các giảng đường….). Nâng cao tính chuyên nghiệp là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của phê bình về phía chuyên môn – nghiệp vụ, là xét từ đòi bên trong lẫn bên ngoài. Chỉ có điều, ở đấy, không nên yêu cầu kiểu loại phê bình này phải chuyên nghiệp hóa theo kiểu loại, đòi hỏi, và cách nhìn của phê bình kia. Vấn đề chuyên nghiệp hóa phê bình trong các tòa soạn báo văn nghệ cũng vậy.

Ở ta, từ đầu thế kỉ 20, vấn đề chuyên nghiệp và chuyên nghiệp hóa được nhiều nhà phê bình đặt ra một cách nghiêm túc. Và thực tế, tính chuyên nghiệp này đã được phát huy ở nhiều tòa báo từ trước đến nay – không chỉ đối với người làm phê bình mà cả đối với nhà văn, nhà thơ…

Nhà văn, nhà thơ cũng có thể là những nhà phê bình – thẩm định, bình duyệt văn bản, có vai trò quyết định sự hiện diện và lưu hành của văn bản. Những nhận xét, góp ý  của các biên tập viên, các nhà phê bình chuyên trách có uy tín tại một tòa soạn nào đó thường rất hữu ích đối với người mới vào nghề. Nhiều nhà văn, nhà phê bình trưởng thành từ báo chí. Họ gắn với báo chí để duy trì, tổ chức sự viết, đến với độc giả và gây ảnh hưởng. Nước ta có cả một nền “văn học báo chương”, phê bình báo chí cũng có một lịch sử tương tự, chúng đều ra đời cùng với việc viết văn trở thành một nghề trong xã hội. “Nước Tàu có nền văn học báo chương, mở đầu bởi Lương Khải Siêu. Nước ta, có thể bảo, nền văn học báo chương bắt đầu với Phạm Quỳnh” (Kiều Thanh Quế). Nhiều cuộc cải cách văn chương – truyền bá lối viết văn văn mới nảy sinh từ người làm báo, do người làm báo nhen nhóm gây dựng; nhiều nhóm văn, nhóm bút ra đời cũng cùng một lượt với sự xuất hiện của tờ báo tạp chí nào đó (chẳng hạn Tự lực văn đoàn với Phong hóa…). Ngay đến việc đổi mới phê bình, các cuộc bút chiến cũng đều gắn với các diễn đàn báo chí. Báo chí có công lao to lớn, không chỉ là môi trường đào luyện ra các nhà báo chuyên nghiệp, mà cả các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học.

 “Gác cổng” ở các tòa soạn báo văn nghệ, các chuyên mục văn học, văn nghệ, các nhà xuất bản… phải là những tài năng văn học, những người viết sành sỏi, tinh nhạy, đủ bản lĩnh, “những bậc đàn anh, những kiện tướng”…. những chuyên gia thực thụ, những cây bút chuyên nghiệp có uy tín trong giới.  Từ những năm 40 của thế kỉ trước, Kiều Thanh Quế đã ghi nhận: “các nhà trứ thuật nước ta, trước khi nổi danh, hầu hết đều tập sự hay có một thời kỳ thí nghiệm ngòi bút trên báo chí quốc âm”, “rất nhiều danh sĩ hiện tại như Vũ Trọng Phụng (1911-1939), Nguyễn Công Hoan, Tam Lang đều tự nhận xuất thân trong lò Đông Dương tạp chí, chịu ảnh hưởng mật thiết của các bậc đàn anh bấy giờ biên tập báo. Nguyễn Bá Học (1857-1921), Nguyễn Văn Vĩnh (1892-1936), Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim… đều là những biên tập viên đắc lực của Đông Dương tạp chí.”

Ngay từ khi ra đời, phê bình với tư cách là một nghề, một thể loại, một hoạt động trong đời sống văn học, đã gắn liền một khúc ruột với báo chí. Cũng theo thống kê sớm nhất của Kiều Thanh Quế thì Phạm Quỳnh phê bình trên Nam phong tạp ch; các bài phê bình của Phan Khôi, Thiếu Sơn, Nguyễn Thị Kiêm phê bình gắn với Phụ nữ tân văn; Thái Phỉ phê bình trên Ngọ báoTân văn; Kiều Thanh Quê phê bình trên báo Mai; Hoài Thanh phê bình chuyên nghiệp trên Tràng An, Tiểu thuyết Thứ bảy;Trương Tửu phê bình trên tờ Loa, Hữu ích;  Lê Thanh tham gia phê bình trên báo Tri tân. Lê Tràng Kiều phê bình trên Hà nội báo; Vũ Ngọc Phan phê bình trên Pháp việt tạp chí, Hà Nội tân văn… Nhiều cuốn phê bình (theo nghĩa rộng) ra đời về sau, thực tế chỉ là tập hợp, gom góp lại các bài đã đăng trên báo chí, chẳng hạn Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn; Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh…  Một số khác, sự nghiệp phê bình chủ yếu vẫn nằm trên báo chí chưa được in thành sách như Nguyễn Văn Tố… Ngày nay tình hình cũng có nhiều điểm tương đồng. Tại nhiều tòa soạn, giữ các chuyên mục, chuyên trang văn học/văn nghệ đều có các nhà văn, nhà phê bình. Không có ai được đào tạo chỉ để trở thành nhà phê bình, và nhà phê bình chuyên nghiệp; sở sĩ người viết trở thành “nhà phê bình” vì họ viết phê bình, tham gia vào quá trình giao tiếp văn học, tham gia hoạt động thông tin về các sáng tác văn học, tham gia vào việc tra vấn, tranh luận, xét đoán, thẩm bình, đánh giá, nhận xét, lí giải các văn bản, các hiện tượng văn học, vấn đề thuộc đời sống văn học,… Điểm lại một vài tác giả viết phê bình (đã hoặc đang) gắn với diễn đàn báo chí văn nghệ chúng ta thấy: báo Văn nghệ có Nguyễn Chí Hoan, Phạm Đình Ân; Sài Gòn tiếp thị có Nguyễn Vĩnh Nguyên; Phạm Khải, Đinh Quang Tốn gắn với Văn nghệ công an; Ngô Vĩnh Bình, Phạm Duy Nghĩa, Đoàn Minh Tâm, Nguyễn Thanh Tú gắn với Văn nghệ quân đội; Ngô Hương Giang một dạo gắn với Tạp chí Nhà văn; Hiền Nguyễn với Văn học quê nhà; My Li đi từ evan.vnxpress sang Thể thao và văn hóa, gắn với tờ này còn có Việt Quỳnh, Vi Thùy Linh, Lý Đợi; Hoài Nam gắn với Người đại biểu nhân dân, VTV; Nguyễn Ngọc Thiện với Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, Chu Thị Thơm với Giáo dục và thời đại, Ngô Thị Kim Cúc gắn với báo Thanh niên… Các nhà phê bình khác như Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Lê Thành Nghị, Nguyễn Văn Lưu, Ngô Thảo, Ngô Tự Lập, Nguyên An, Trịnh Bá Đĩnh, Đỗ Lai Thúy,Lê Quang Trang, Vũ Quần Phương… trước đây cũng đều công tác tại các tòa soạn hoặc nhà xuất bản. Nhìn vào hai thế hệ phê bình này chúng ta thấy rõ sự khác biệt về nhiều mặt.

Rõ ràng sẽ không thể hình dung được đầy đủ diện mạo phê bình nếu như gạt ra bên lề khu vực phê bình truyền thông. Các nhà phê bình ở các cơ quan báo chí –, các  nhà xuất bản, các đài phát thành truyền hình có công thúc đẩy quá trình giao tiếp văn học, trong đó có việc tạo ra cầu nối giữa văn học thế giới với bạn đọc trong nước. Chính vì coi trọng chức năng này của báo chí văn nghệ cho nên gần đây các cơ quan hữu trách tiếp tục mở rất nhiều lớp tập huấn lý luận phê bình để đào tạo, củng cố về chuyên môn và định hướng tư tưởng cho các biên tập viên, phóng viên, các nhà báo viết phê bình. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng đội ngũ này ở ta chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu thông tấn, in ấn, phát hành , nhất là thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho công chúng theo quan điểm chính thống. Tham gia vào việc luận giải các văn bản, cắt nghĩa các hiện tượng văn học từ góc nhìn lịch sử và lý luận trên các diễn đàn truyền thông vẫn chính là các nhà phê bình ở khu vực hàn lâm, đại học… Vậy là, ở đây, không chỉ cần phải nâng cao tính chuyên nghiệp của các nhà phê bình tại các tòa soạn báo văn nghệ mà cần phải giải quyết mối quan hệ cân đối giữa các khu vực phê bình nhằm nâng cao chất lượng học thuật trong các bài viết nhưng vẫn đảm bảo tính thời sự. Ý kiến cho rằng phê bình truyền thông lấn át phê bình hàn lâm, thực ra không phải là điều đáng lo ngại, cần phải báo động gì cả. Ngược lại, nên thấy rằng đó là dấu hiệu cho thấy phê bình truyền thông đang phát triển và làm tốt chức năng, vai trò của nó.

Để kết thúc bài viết, chúng tôi xin nhắc lại cách đặt vấn đề vừa gẫn gũi lại có phần khác của Phạm Ngọc Thọ từ buổi phôi thai của phê bình Việt Nam (cách nay đã gần 80 năm), để bạn đọc cùng suy ngẫm. Phạm Ngọc Thọ cho rằng: “nhà phê bình phải là một người độc lập, không theo một chủ nghĩa nào, không khuất phục trước một thành kiến nào, không tín ngưỡng một tôn giáo nào, và nhất là không nên là một nhà phê bình “nhà nghề” cho một tờ báo hay tạp chí nào cả. Vì nếu mình thờ một chủ nghĩa, có những thành kiến, và tin một tôn giáo thì khi gặp những nhân vật và tác phẩm nào thờ một chủ nghĩa, có những thành kiến, tin một tôn giáo khác hẳn với chủ nghĩa, thành kiến, tôn giáo của mình, tất ngọn bút khen chê của mình sẽ thiên lệch, mà sự bình phẩm không còn chính đáng vô tư. Còn nếu là một nhà phê bình “nhà nghề” cho một tờ báo hay tạp chí nào thì mình lại càng là một kẻ không có tính cách độc lập nữa. Vì lúc đó, mình phải đặt viết phê bình y như lời dặn dò của nhà báo để chiều theo cái óc khen chê của phần đông. Nếu không, tờ báo hay tạp chí kia sẽ mất lòng tin yêu của độc giả. Như vậy trước văn học, bài phê bình của mình không còn giá trị chút nào và nhiều khi lại bị coi như những bài quảng cáo không công. Một điều kiện nữa rất cần, không kèm gì điều kiện kể trên là nhà phê bình văn học phải là kẻ học thức rộng, có trí sáng suốt linh động, có khối óc nghĩ ngợi sâu xa, có lòng ham tìm tòi để hiểu biết cho thấu triệt. Nhà phê bình lại phải tránh tình cảm đừng để cho nó sai khiến cán viết ngay thẳng của mình. Những tình cảm đó do ở tình bạn kết giao mà có. Nó rất hại cho sự độc lập của phê bình” (Phụ nữ tân văn số 241, ngày 10/5/1934).

Leave a Reply