Tính liên văn học như một khái niệm trong văn học so sánh


 Marian Galik

1. Khái niệm tính liên văn học (LVH) có lịch sử rất ngắn và nó được dùng chủ yếu trong giới nghiên cứu văn học Trung Âu. Những người khởi xướng quan niệm này chịu ơn các nhà hình thức luận Nga và các nhà cấu trúc luận Czech, “tính văn học” với tư cách nguyên mẫu có trước của tính liên văn học được tạo ra trong tác phẩm Werkstätte của Roman Jakobson năm 1921: “Đối tượng của nghiên cứu văn học không phải là văn học mà là tính văn học, tức cái làm cho một tác phẩm thành một tác phẩm văn học. Cho đến nay các nhà nghiên cứu văn học hành động giống như cảnh sát, trước khi bắt ai họ lục soát hết mọi người và mọi vật thấy trong nhà, thậm chí cả những người tình cờ đi ngang qua phố. Con mồi đối với các nhà viết sử văn học là sự tồn tại của con người, là tâm lý học, chính trị, triết học”. Một quan niệm tương tự về tính văn học cũng đã được René Wellek trình bày tóm tắt trong công trình nghiên cứu nổi tiếng của ông về “sự khủng hoảng của VHSS” (1959): “giới nghiên cứu văn học vẫn không đạt được sự tiến bộ nào về mặt phương pháp luận, ngoại trừ nó xác định việc nghiên cứu văn học là một bộ môn khác biệt với các hoạt động và các thủ tục khác của con người. Từ đây chúng ta phải đối mặt với vấn đề “tính văn học”, chủ điểm trung tâm của mỹ học, bản chất của nghệ thuật và văn học”. “Mỹ học” nói đây cố nhiên không có nghĩa là mỹ học với tư cách triết học về cái đẹp và về nghệ thuật, hay là các quy luật chi phối những biểu hiện của nó, mà là hiện thân của giá trị thẩm mỹ, và các giá trị khác, trong các tác phẩm văn học.

2. Dionyz Durisin, trong công trình Lý thuyết của quá trình liên văn học (Theory of Interliterary Process, 1989), định nghĩa tính liên văn học theo cách cô đọng hơn nữa, như là “phẩm chất cơ bản và chủ yếu” của toàn bộ văn học bao gồm mọi mối quan hệ bên trong văn học, cường độ của chúng, ý nghĩa, và cách thức điều kiện hóa của chúng bên trong khuôn khổ những nền văn học riêng rẽ khác nhau. Nếu cường độ, sự biến thiên, các quan hệ qua lại hay quan hệ thân thuộc đó xuyên qua biên giới của các nền văn học riêng rẽ thì khi đó “tính văn học” tự động biến thành “tính liên văn học”. Như vậy, tính LVH là phẩm chất cơ bản và chủ yếu của văn học trong văn cảnh quốc tế và liên tộc người và sự xác định về mặt bản thể luận. Sự xác định này và cái khung của nó bao gồm tất cả các mối quan hệ và liên hệ có thể có, các nền văn học riêng rẽ, các thực thể siêu tộc người và siêu dân tộc đủ mọi loại, và hiện thân cao nhất của tính LVH là văn học thế giới. Trong sách Những cộng đồng liên văn học đặc biệt (Les Communautés interlittéraires spécifiques, 1993), Durisin viết: “Tính LVH thể hiện cơ sở bản thể luận của quá trình liên văn học siêu dân tộc, tức là của tiến trình phát triển văn học, của đời sống văn học”. Đối với Durisin, quan niệm tính LVH tạo thành khái niệm chính cho lý thuyết về quá trình liên văn học với tư cách là VHSS và như vậy nó đáng được sự chú ý nhiều hơn của các nhà lý thuyết VHSS cũng như các nhà lý thuyết văn học và văn hóa nói chung. Và sự chú ý này đã có diễn ra, mặc dù theo ý tôi là chưa nhiều lắm. Chẳng hạn, theo các chủ biên cuốn Văn học so sánh: Lý thuyết và Thực tiễn (Comparative Literature: Theory and Practice, Amiya Dev and Sisir Kumar Das, 1989), đã nảy sinh nhu cầu về một sự nhận thức luận mới trong VHSS, cũng như về sự “xác định lại các khu vực của nó cho gần hơn với tính LVH… như là lý do căn bản đầu tiên của bộ môn” (tôi nhấn mạnh – M.G.).

3. Về mặt bản thể luận mà nói, tính LVH là thứ yếu so với tính văn học. Bởi sự “phân công lao động” nên chúng là hai thực thể khác nhau: mặc dù tính LVH luôn bao gộp tính văn học nhưng phép đảo không phải bao giờ cũng xảy ra. Xét từ góc độ nhận thức luận, vấn đề tính LVH – phạm vi, nội dung của nó, các dặc điểm biểu hiện khác nhau của nó trong VHSS, cụ thể là trong quá trình liên văn học – chưa được nghiên cứu sâu như các vấn đề liên quan đến tính văn học. Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của tính LVH là tính chất quá trình mặc nhiên hay hàm ẩn của nó, một chuỗi có tính hệ thống các sự kiện văn học liên quan với nhau nằm trong khuôn khổ tộc người hay dân tộc chuẩn bị trước cho những sự thay đổi theo thời gian và không gian trong tiến trình văn học của họ. Các nền văn học riêng lẻ, từ cổ xưa nhất như Sume hay Ai Cập đến mới nổi lên gần đây, đều luôn ở trạng thái tuôn chảy thường trực, đều ở một độ căng có thể gọi là “đang trở thành”, nghĩa là sự kiến tạo liên tục (Piaget).

4. Nếu chúng ta nhìn vào những sự kiện của một quá trình kéo dài trăm năm của một trong những tác phẩm văn học lớn đầu tiên, Sử thi Gilgamesh, tính từ bản đầu tiên của G. Smith năm 1872 và vô số các bản dịch và phóng tác kể cả bản dịch sang tiếng Czech của L. Matous năm 1975, chúng ta có thể thấy  một quá trình biến đổi liên văn học từ gốc Sume, Accadia, Assyri và Hittile. Tại đây, ở buổi bình minh của sự khai hóa văn học, chúng ta tìm thấy cái lọc hay cái phân loại tính LVH mang tính hệ thống văn hóa. Các bản sao khác nhau (không bản nào đầy đủ) phản ánh sự phát triển văn học khác biệt và cho thấy cấu trúc của các nền văn học riêng rẽ và những khuôn khổ tư tưởng cũng như chính trị xã hội của chúng. Những thái độ khác nhau đối với thần thánh giữa những người Sume hay giữa những người Accadian Semit có vẻ tinh tế hơn đã tìm thấy sự thể hiện chủ đề theo những cách khác nhau và sự gia công văn học của chúng. Đó là những mắt xích đầu tiên của một dây chuyền rất dài, hoặc là những cái nút buộc trong một nhà máy chế tạo văn học rộng lớn xuyên suốt mọi thời và bao gồm những lãnh thổ bao la của orbe universo (trật tự thế giới). Tác động của tác phẩm này và nhiều thành tố của nó chúng ta có thể tìm thấy trong Sáng thế ký của Mose hay Odyssey của Homer. Các quan hệ phát sinh đều là hợp lý trong cả hai trường hợp. Sự tồn tại của cộng đồng liên văn hóa Âu-Phi-Á hiển nhiên là ở vào thời tiền Cổ Đại, nó bao gồm Ai Cập, Lưỡng Hà, Crete và nền văn minh Aege với tầng lớp Mycenian của nó.

5. Nếu chúng ta thêm vào các sử thi Ấn Độ cổ và các sản phẩm văn học của cộng đồng liên văn hóa tiền Cổ Đại, khi đó chúng ta sẽ thấy không chỉ các quan hệ phát sinh, mà cả những liên hệ mang tính cấu trúc-loại hình rõ ràng giữa các nền văn học của thế giới Âu-Á. Thí dụ, sự thống nhất và đa dạng liên văn học của nó được phản ánh trong việc sử dụng như nhau các định ngữ và cách ví von, trong các đề tài giống nhau, như  bắt cóc phụ nữ (Hellen và Briseis trong Iliad và Sita trong Ramayana), hoặc sự quyến rũ của họ (Draupadi trong Mahabharata và Penelope trong Odyssey), hoặc giấc mơ của người anh hùng làm rung động cả thiên sử thi, hoặc vị thiên sứ báo tin cho thiên giới hay hạ giới (Hermes trong Odyssey hay Impaluri trong Bài ca về Ulikumi). Cũng tương tự là cách dùng truyện trong truyện, như có thể thấy nhiều trong Mahabharata, GilgameshIliad, dù ở hai tác phẩm sau mức độ ít hơn.

6. Tính liên văn học là một bộ phận của quá trình lúc đầu mang tính khu vực và vùng miền nhưng trong những thế kỷ gần đây đã mang tính toàn cầu, để sang một bên các phương diện thuần túy mang tính tộc người hay dân tộc của các nền văn học (hay các phương diện quy định các cá thể hay các phẩm chất cá thể của chúng) mà tập trung vào sự phát triển mang tính liên tộc người, liên dân tộc và gần đây là tính địa văn học. Nó kéo theo mọi khả năng của sự tác động và hồi ứng văn học. Nói rõ hơn, một sự kiện văn học hay một hiện tượng văn học với tư cách là yếu tố cơ bản nhất của văn học và nghiên cứu văn học có thể trở thành một sự kích thích mang tính ngoại tộc người hay ngoại dân tộc khi nó diễn tiến theo chiều dọc hoặc chiều ngang, vượt qua phạm vi các nền văn học của từng tộc người, từng dân tộc đơn lẻ. Như vậy, một sự kiện hay hiện tượng văn học thay đổi thành một sự kiện hay hiện tượng liên văn học và trong quá trình đó trở thành yếu tố cơ bản của tính LVH. Ở đây, sự tác động và sự hồi ứng văn học là điều tiên quyết, có tính nguyên tắc, đối với sự sản xuất văn học trong mọi nền văn học – ngoại trừ sự tồn tại có thể có chỉ của một nền văn học trên thế giới lúc bắt đầu nền văn minh nhân loại hay sự tồn tại rải rác của vài nền văn học cách rất xa nhau – nếu nó thỏa mãn các đòi hỏi cấu trúc chung của các nền văn học tiếp nhận , những nền văn học này là mang tính tộc người, dân tộc hay cá thể. Sự phát triển địa văn học dường như đang trở thành một thuật ngữ mới trong nghiên cứu liên văn học và thể hiện tình hình gần đây nhất trong quá trình liên văn học. Những quan niệm mới nổi lên gần đây hơn dựa trên các sự phát triển lý thuyết khởi từ cuối thế kỷ XIX, khi các nước châu Á và Bắc Mỹ bắt đầu hồi ứng với tác động văn hóa và văn học của phương Tây. Những phát triển mới đây đến cùng kỷ nguyên hậu thuộc địa và gắn với sự toàn cầu hóa văn hóa quy mô lớn, nơi sự tổng hợp Đông-Tây rộng lớn hơn là một mục tiêu cần đạt tới trong quá trình liên văn học và việc thực hiện cụ thể hóa nó, cũng như sự toàn cầu hóa địa văn hóa và địa văn học của nó.

7. Tính LVH là điều dễ thấy nhất trong trường các quan hệ phát sinh-tiếp xúc (hay bên trong cái khung ảnh hưởng và hồi ứng) bao gồm toàn bộ các hiện tượng trong quá trình liên văn học nơi những sự tiếp xúc giữa các nền văn học là conditio sine qua non (điều kiện không thể thiếu) cho quá trình phát triển của chúng. Những tiếp xúc bên ngoài, tức những tiếp xúc không để lại dấu vết sâu đậm nào lên cấu trúc của các nền văn học tiếp nhận, và những tiếp xúc bên trong, nơi sự tác động có thể chứng tỏ một cách hợp lý được, tạo nên những phẩm chất khác biệt của tính LVH. Những phẩm chất thứ nhất nông hơn trong khi những phẩm chất thứ hai sâu hơn. Quá trình này của tính liên văn học trở nên phổ biến nhất vào những khi có biến động lớn trong tiến trình văn học, nơi toàn bộ các thực thể cấu trúc hệ thống của các nền văn học riêng lẻ thay đổi thể trạng của chúng do những biến đổi trong hệ tư tưởng, mỹ học, các thể loại và hình thức văn học. Đấy là trường hợp, chẳng hạn, xảy đến với các nền văn học mới ở châu Á và châu Phi nửa sau thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, dưới tác động to lớn của thế giới Âu-Mỹ. Các quan hệ phát sinh-tiếp xúc thời tiền Cổ Đại chắc chắn là khác với các quan hệ ở những thời sau. Nếu như có bất kỳ dấu vết nào của những sự tiếp xúc bên ngoài thì chúng chắc chắn không còn được lưu giữ cho các thế hệ sau. Nhưng  nếu không có những sự tiếp xúc bên trong tồn tại giữa thơ Ai Cập, Accadia, Cannanite, và thậm chí thơ Sumeria, thì chúng ta không thể nào phân tích đúng đắn được quá trình liên văn học dẫn tới thơ Hebre của Kinh Thánh, và đặc biệt tới Nhã Ca, bài ca tình yêu có lẽ là hay nhất trong văn học thế giới. Ngoài các lý do khác thì còn là do trình độ liên văn học cao nên Kinh Thánh đã trở thành “sách của các sách” trong văn học phương Tây, nhất là sau bản dịch Cựu Ước ra tiếng Hy Lạp (mang tên Septuagint) và toàn bộ văn phong đã có ảnh hưởng đến Tân Ước và cả thế giới Thiên Chúa giáo nói chung. Tính LVH gắn với các quan hệ phát sinh-tiếp xúc không phải lúc nào cũng có hiệu quả khi hai nền văn học phát triển gặp nhau. Mặt khác, nếu sự tiếp xúc diễn ra trong một môi trường tương đối mới và miễn là có đủ khả năng cho sự phát triển tự do, như ở vùng Turkestan thuộc Trung Quốc (bây giờ là Xinjiang của đại lục) giữa thế kỷ II trước Tây lịch và thế kỷ VIII sau Tây lịch. Các nền văn học đó phát triển thành nền văn hóa thế giới đầu tiên trong lịch sử: Con Đường Tơ Lụa nối Tràng An (bây giờ là Xi’an) với bể Tarim qua các đường đèo Pamir, các thành thị Samarkand, Bukhara hoặc Balkh, Merv, Palmyra, Tyrus, Antioch, Alexandria và tận cùng ở Roma, hoặc về sau ở Byzantium. Tại đây, bốn khu vực văn hóa tiên tiến nhất gặp nhau: châu Âu Hy Lạp-La Mã và phương Đông, tức là Tây, Nam và Đông Á, trong một cuộc đụng độ và hòa điệu có kết quả. Tại đây, sự phát triển liên văn học, kết hợp với các quá trình liên nghệ thuật và liên văn hóa, đã tạo nên mẫu vật đầu tiên sự hiện thân cao nhất của quá trình liên văn hóa thế giới. Sự cộng sinh liên nghệ thuật Gandharan (Hy-La và Ấn Độ), oecumene tôn giáo (Phật giáo, Mani giáo và Nesto giáo), sự đa ngữ gợi nhớ Tháp Babel huyền bí (với tiếng Sankrit là quan trọng nhất), sự đa nguyên văn hóa, sự dịch thuật mạnh mẽ, và các hoạt động nghệ thuật, khiến nó có thể làm giàu cho môi trường khu vực và tác động đến các vùng phía đông Trung Hoa và toàn vùng Viễn Đông. Nền văn hóa thế giới của các thành thị Oasean nằm giữa  dãy Hymalayas và Thiên Sơn trong hơn một thiên niên kỷ là hệ hình của tinh thần tự do, của sự hiểu biết và khoan dung liên văn hóa, liên văn học.

8. Trong lĩnh vực các mối liên hệ cấu trúc-loại hình, tức những sự đối sánh văn học, chúng ta tìm thấy một kiểu liên văn học khác. Ở đây không phải bằng chứng vật chất cụ thể là quan trọng, mà là giá trị của nó trong lịch sử và sự phát triển của các nền văn học riêng lẻ. Các liên hệ (đối sánh) trong trường cấu trúc-loại hình là tương đương với các quan hệ trong trường phát sinh-tiếp xúc; việc nghiên cứu chúng thậm chí có thể có giá trị hơn sự tồn tại thực của các sự kiện văn học có liên quan, bởi vì nó giúp chúng ta có tri thức mới và đưa đến hiểu biết sâu hơn về các lĩnh vực khác nhau của văn học, về lịch sử, lý thuyết và phê bình của nó. Các nghiên cứu ảnh hưởng và hồi ứng giúp các nhà nghiên cứu văn học soi sáng những vấn đề căn nguyên của tác phẩm theo sự tiếp nối của chúng trong độ căng biện chứng giữa truyền thống (phần lớn đến từ các nền văn học tộc người và dân tộc) và cách tân (rất thường đến từ trường liên văn học) Lĩnh vực cấu trúc-loại hình, trong khi khám phá những sự giống nhau trong quá trình liên văn học của các nền văn học khác nhau trong cùng một thời kỳ, hay của các thời đại khác nhau, và đôi khi lệch nhau rất xa về không gian, đã có ý muốn, hay ít nhất có thể có ý muốn đi sâu hơn vào việc nghiên cứu quá trình liên văn học và kết quả của nó có thể dẫn tới sự phát hiện những hình thức cao hơn của tính LVH. Trong khi trường quan hệ phát sinh-tiếp xúc vén lộ cơ chế tiếp nối cho thấy dòng vận động của quá trình liên văn học theo cách hữu hình nhất, thì trường liên hệ cấu trúc-loại hình cũng đạt tới hiệu quả đó dưới một hình thức khéo léo hơn và không phải tức thì. Vì lý do này, nó buộc các nhà khoa học phải nghiên cứu không chỉ các hình thức khác nhau của ý thức xã hội, tình hình chính trị, hay bối cảnh tác phẩm được viết ra hay chúng phải đáp ứng theo cách sáng tạo, mà cả các truyền thống và ước lệ văn học, các thể loại và xu hướng văn học. Đặc biệt sự hiểu biết mới về các nền văn học ngoài các khu vực văn hóa Âu-Mỹ là cái cần có bây giờ.

9. Trong danh mục thuật ngữ phát cho các đại biểu tham dự Đại hội XIII Hiệp hội văn học so sánh quốc tế (Tokyo, 1991) và đính kèm với Từ điển quốc tế thuật ngữ văn học chúng tôi thấy chỉ có sáu thuật ngữ liên quan đến văn học Trung Quốc xưa và nay trong số khoảng sáu trăm thuật ngữ dành cho phần còn lại của văn học thế giới, chủ yếu là cho phương Tây Âu-Mỹ. Nếu ta xem cuốn Lý thuyết văn học Trung Quốc (1975) của J.Y. Liu thì sẽ thấy ở đó có ít nhất ba mươi thuật ngữ liên quan chỉ riêng về thơ Trung Quốc thôi, chưa tính văn xuôi và kịch (183-97). Các thi pháp liên văn học, như một trong những đối tượng của lý thuyết văn học so sánh, vẫn đang ở bước đầu phát triển và sẽ không đạt được một kết quả tương đối nghiêm túc nào nếu không đi vào nghiên cứu so sánh về các thể loại, các truyền thống và các ước lệ văn học ít nhất của các nền văn học Ấn Độ Sankrit và hậu Sankrit, các nền văn học Arab và các nền văn học Viễn Đông. Với sự chú ý đến một phạm vi khu vực rộng như vậy, tôi tin nó có khả năng tìm được một siêu ngôn ngữ chung trong trường nghiên cứu văn học so sánh. Nó là ở trong các năng lực nhận thức của con người biết đi đến tận lõi các thuật ngữ rất khác với các thuật ngữ chúng ta dùng ở châu Âu, biết xác định các ý nghĩa phù hợp của chúng, biết bóc tách bản thân mình ra khỏi những hình thức ký hiệu thuần túy của chúng mà thường hiện ra dưới tấm mạng che đối với các chuyên gia bản xứ và nước ngoài, biết tập trung vào nội dung và phạm vi của chúng, nhất là trong các trường hợp cụ thể, và nỗ lực cấp cho nó một giới hạn chính xác tương đối bên trong cái khung của văn học so sánh, cụ thể là bên trong các thi pháp liên văn học.

10. Cuốn Comparative Poetics: An Intercultural Essay on Theories Literature (Thi pháp so sánh: Tiểu luận liên văn hóa về các lý thuyết văn học, 1990) của Earl Miner, một công trình nghiên cứu chủ yếu về di sản lý thuyết và văn học của Nhật Bản và châu Âu, có lẽ là cuốn sách tốt nhất thuộc loại này trong những năm qua. Sự tìm hiểu sâu sắc các khu vực văn học nêu trên chưa đủ để nghiên cứu các phương diện cơ bản nhất của các mối liên hệ cấu trúc-loại hình. Theo Earl Miner, các nền văn học khác, bao gồm các nền văn học châu Phi và Mỹ Latin, cũng như các nền văn học còn ít được biết đến của châu Âu và châu Á đáng được các học giả chú ý đến: “việc xem xét ba phần tư hay bốn phần năm các chủng tộc khác là cần phải có trong bất kỳ sự nghiên cứu văn học nào mệnh danh là nghiên cứu so sánh”. Tính LVH như một phẩm chất của văn học vượt qua khuôn khổ của các nền văn học mang tính tộc người, dân tộc hay cá thể, theo Durisin, để tìm thấy sự thể hiện đầy đủ nhất của nó trong trường các cộng đồng (hay các khối thịnh vượng chung) liên văn học, tức là các khối kết siêu tộc người và siêu dân tộc của các nền văn học đang tồn tại, thay đổi và biến mất trong quá trình phát triển lịch sử bị quy định về không gian và thời gian bởi các yếu tố tộc người, ngôn ngữ, dân tộc và thậm chí hệ tư tưởng. Các cộng đồng liên văn học là các “dòng họ” văn học giống nhau nhờ các yếu tố vừa kể. Chúng ta có thể nói về nhiều cộng đồng liên văn học thuộc các loại khác nhau (loại hình học của chúng vẫn chưa được nghiên cứu kỹ), thí dụ cộng đồng các nền văn học Anh-Mỹ, các cộng đồng khác nhau của các nền văn học Slave, cộng đồng riêng của các nền văn học Thụy Sĩ, cộng đồng liên văn học của Viễn Đông tới cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, các cộng đồng liên văn học Balkan trong hai thiên niên kỷ qua, các cộng đồng liên văn học hiện nay ở vùng châu Phi hạ Sahara. Các cộng đồng này tồn tại trong “khối thịnh vượng chung của văn học thế giới” và thực hiện một số chức năng giúp chúng thể hiện được bản chất riêng của chúng để tồn tại như các cộng đồng liên văn học dù là theo hướng tích cực hay tiêu cực (xem Durisin, 1987-93).

11. Trong các cộng đồng liên văn học, các nền văn học tiếp xúc nhau – và tất cả các nền văn học tạo nên các cộng đồng liên văn học đều là tiếp xúc nhau – thực hiện một số chức năng mà trong trường các quan hệ phát sinh-tiếp xúc không thấy hiện rõ. Do sự tương tác và hồi ứng rộng nên các nền văn học riêng lẻ và các phân nhánh khác nhau của chúng chủ yếu hành xử theo hai hướng khác biệt, trái ngược nhau: hoặc đón lấy các xung động ngoại lai và tích hợp chúng vào cấu trúc tiếp nhận riêng của mình (chức năng tích hợp), hoặc cố gắng lọc ra một kích thích tố để chọn lấy cái phù hợp nhất và loại bỏ những cái không thích hợp của thực thể hệ thống-cấu trúc cho (chức năng phân hóa). Hai chức năng này chỉ có thể thỏa mãn nếu một số yếu tố của cộng đồng liên văn học đang làm việc, thí dụ, sự tồn tại của một ngôn ngữ chung như trong trường hợp các nước nói tiếng Đức – cộng đồng các nền văn học Đức-Áo hợp với bộ phận văn học Thụy Sĩ, văn học Do Thái Praha đến năm 1939, và thậm chí văn học Jiddish, hoặc trong trường hợp các cộng đồng khác nhau bên trong khuôn khổ của khối nói tiếng Anh, khối nói tiếng Pháp, khối nói tiếng Lus, hoặc các nền văn học tiếng Tây Ban Nha, cũng như văn học Trung Quốc hiện đại ở đại lục, Đài Loan, Hồng Công, Singapore, Malaysia, và những nơi khác (như văn học dân tộc thiểu số, chẳng hạn). Thí dụ cuối cùng nêu trên, tức văn học viết bằng tiếng Trung ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, có thể xem như một hệ hình của dòng chảy liên văn học qua hàng thế kỷ và thiên niên kỷ. Lịch sử của nó hơn ba ngàn năm và kỷ nguyên lớn của nó gắn với cộng đồng liên văn học vùng Viễn Đông bao gồm các nền văn học Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và vào thiên niên kỷ thứ hai trước Tây lịch trong một số thời kỳ là có cả văn học Việt Nam, Mãn Châu và Mông Cổ. Cộng đồng liên văn học này bắt đầu phát triển vào những thập niên cuối trước Tây lịch hay những thập niên đầu Tây lịch phù hợp với quan niệm về Trung Quốc (Vương quốc ở giữa) hay Trung Hoa (nền văn minh ở giữa) và quan hệ của nó với các vùng lãnh thổ “man rợ” ở ngoại vi. Sự khác biệt chính giữa Trung Quốc và các xứ “man rợ” là ở  cái văn mà có thể dịch thô thành là “văn hóa tinh thần”. Từ Trung Quốc, nơi nắm giữ nó, cái văn này tỏa ra xung quanh như ánh sáng mặt trời, vượt trội hơn chức năng tích hợp đang vận hành trong hầu hết các cộng đồng liên văn học khác, và bành trướng văn học Trung Quốc sang các nước láng giềng. Trong sự hưng khởi và phát triển của nền văn học phi Trung Quốc của cộng đồng liên văn học này, văn học Trung Quốc đảm nhận các chức năng “khai hóa” và suốt nhiều thế kỷ nó là tên gọi thay thế cho các nền văn học bản xứ trong khu vực. Chỉ sau hàng thế kỷ, thậm chí sau một thiên niên kỷ, chức năng này mới suy giảm cho đến lúc biến mất hoàn toàn. Các tác phẩm văn học của Nhật  Bản, Triều Tiên hay ViệtNam, nhất là của hai nước sau, nếu chúng được viết bằng tiếng mẹ đẻ thì trong hàng thế kỷ chỉ có chức năng phụ trợ. Cộng đồng liên văn học truyền thống này đã biến mất vào những thập niên cuối thế kỷ XIX và hai thập niên đầu thế kỷ XX (xem Gaslik, 1995). Một cộng đồng liên văn học mới ở Viễn Đông chưa được hình thành do các nguyên nhân chính trị, tư tưởng, văn hóa và văn học.

12. Tính song ngữ hay song văn học, như trong các cộng đồng liên văn học ở vùng Balkan, Ấn Độ, Trung Á, hoặc châu Phi, hay tính đa ngữ và đa văn học của một số nhóm như ở Thụy Sĩ hoặc Malaysia, là một thí dụ khác của tính liên văn học. Những hiện tượng này thường đi kèm với một loại liên văn học khác, thậm chí còn quan trọng hơn loại vừa nói. Đó là loại dioicousness (song cư) và polyoicousness (đa cư). Hai thuật ngữ này, vay mượn và áp dụng từ tiếng Hy Lạp oikia (ngôi nhà hay nơi ở), nghĩa trước hết là chỉ khả năng sống như ở nhà trong hai nền văn học khác nhau, thường là trong hai nền văn hóa và hai ngôn ngữ văn học khác nhau. Dioicousnesspolyoicousness đã tỏ ra quan trọng vào những thời có những chuyển động lớn về xã hội và chính trị. Chẳng hạn, P.J. Jafárik đã viết bằng tiếng Czech và tiếng Đức, và dioicous trong cả văn học Czech và Slovak, Ivo Andric hiện diện lần đầu trong văn học Crotia và lần sau là trong văn học Serbia, và Alisher Navoi (1441-1501), người viết bằng ba thứ tiếng, như vậy là cùng lúc “ở nhà” tại ba nền văn học Cổ Uzbek, Ba Tư và Arab.

13. Về mặt lý thuyết, phẩm chất cao nhất của tính LVH có thể tìm thấy trong quan niệm về văn học thế giới (VHTG) là cái mà xét theo sự tiến triển lịch sử văn học trong quá trình liên văn học thì là thực thể cao nhất. VHTG là summa litterarum universarum không phải ở số lượng bao trùm của chúng mà ở các mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau bên trong hiện thực mang tính hệ thống-cấu trúc phức tạp của quá trình liên văn học. Tính liên văn học này thống nhất tất cả các loại khác kể trên, nhưng ở cấp độ cao nhất có thể, do bối cảnh tương tác của nó sâu hơn, rộng hơn. Điều này không có nghĩa là mọi tính liên văn học trong chiều kích của VHTG đều là xứng đáng nhất xét theo quan điểm giá trị. Nó chỉ có nghĩa là các sự kiện văn học riêng biệt  đều phải đi qua tất cả các bộ lọc liên văn học kể trên. Tính  LVH này dựa trên mức độ hiểu biết các sự kiện và các quá trình liên-văn học và do đó nó biến đổi trong dòng chảy thời gian và không gian nhiều hơn cái ở trong các lĩnh vực phụ thuộc của quá trình liên văn học. Có sự khác biệt lớn giữa tính liên văn học trong thời Odyssey của  Homer và Ulysses của James Joyce (1922) hay La Naissance de l’Odyssée (Sự ra đời của Odyssey) của J. Giono (1938).

14. Nếu chúng ta xem xét những nền văn học được biết đến đầu tiên trong lịch sử: Sumeria, Ai Cập và Akkadia, và tổng số những nền văn học được biết đến “mới nhất” dựa trên phép đếm các ngôn ngữ (khoảng sáu nghìn thứ tiếng), chúng ta có thể hình dung ra những khác biệt về mức độ biến đổi, phức tạp và rắc rối có trong loại tính LVH này. Liên quan đến lý thuyết quá trình liên-văn học, tôi phản đối quan niệm VHTG như là summa (tổng số) tất cả các tác phẩm văn học được sản xuất ra trong các nền văn học riêng lẻ trong tiến trình của chúng, cũng như tôi chống lại WeltliteraturWertliteratur, tức là summa của tất cả các kiệt tác văn học. Tôi cũng không đồng ý với các nhà lý thuyết văn học – như Horst Steinmetz – những người gắn VHTG với các nền văn học, chủ yếu là của khu vực văn hóa Âu-Mỹ, sản sinh trong thế kỷ XIX và XX (xem Steinmetz 1998). Hơn năm thiên niên kỷ tồn tại của văn học trong lịch sử thế giới và khoảng mấy trăm nền văn học riêng lẻ tồn tại cho đến nay cung cấp cho các nhà nghiên cứu nhiều vô kể những mối quan hệ và liên hệ khác nhau bên trong quá trình liên văn học, bao gồm cả các quan hệ chưa được biết đến và chưa bao giờ được nghiên cứu giữa các nền văn học riêng lẻ của thế giới. Chúng chưa được tìm hiểu, và khi được nêu ra, như Durisin đã làm, thì trong tương quan với các thành tố cấp thấp của quá trình liên văn học, các quan hệ và quá trình đó có thể xem như thuần túy là giả thuyết để nghiên cứu và ngoại suy (xem Durisin 1992, 7-56, 174-95). Tóm lại, trong khi ở nghiên cứu văn học việc áp dụng lý thuyết tính liên văn học như một phẩm chất cơ bản và chủ yếu của văn học đang chờ thực hiện, thì điều quan trọng nhất là phải có một quan niệm tiến hóa thay đổi theo thời gian và không gian. Như vậy, những cái khung mới và những sự áp dụng mới về lý thuyết và phương pháp luận là cần thiết để hiểu về nó sâu hơn và rộng hơn1

Thạch Linh dịch từ tiếng Anh

Theo CLCWeb: Comparative Literature and Culture: A WWWeb Journal ISSN 1481-4374 CLCWeb Library of Research and Information… CLCWeb Contents 2.4 (December 2000), Thematic Issue Histories and Concepts of Comparative Literature. Ed. Steven Totosy de Zepetnek.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 10-2006. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply