Trần Đình Sử và những đường biên khoa học


Lã Nguyên

1. Viết xong cuốn sách, thể nào tác giả cũng tìm cho nó cái tên. Lắm khi ý tưởng hình thành, đặt tên trước, rồi sách mới từ từ viết sau. Đặt trước hay sau, thì “tên” vẫn là cuốn sách gấp lại, mà cuốn sách là cái “tên” của nó được mở ra. Nhìn vào nhan đề cuốn sách mới xuất bản gần đây nhất của Trần Đình Sử – Trên đường biên của lí luận văn học[1]– thấy tác giả có vẻ như đã phá lệ đặt tên. Trước, ông thường đặt tên sách theo nội dung của đối tượng nghiên cứu: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại (1993), Những thế giới nghệ thuật thơ(1995), Lí luận và phê bình văn học (1996), Dẫn luận thi pháp học (1998), Thi pháp văn học trung đại (1998), Thi pháp truyện Kiều (2002). Nay, sách được đặt tên theo hướng tiếp cận đối tượng, thể hiện đặc điểm bản chất trong tư duy khoa học của tác giả. Vươn ra đường biên, đứng ở nơi ranh giới của các lí thuyết để suy ngẫm về văn học và lí luận văn học – đó là hướng nghiên cứu đã định hình gần bốn mươi năm nay trong tư duy khoa học của Trần Đình Sử.

Vạn vật tự nó đều có trung tâm và ngoại biên. Không nên hình dung ngoại biên và trung tâm như những không gian vật lí. Vì đó là cặp phạm trù đối lập trong sự thống nhất biện chứng, được triết học và nhiều ngành khoa học sử dụng để mô tả hệ thống chức năng và cơ chế vận hành làm nên cấu trúc của các đối tượng và hiện tượng. Ngoại biên có chức năng của một màng lọc, nằm ở ranh giới giữa cấu trúc và ngoài cấu trúc. Nó là khu vực của sự đa dạng, là địa bàn của cái mới, là vương quốc của hoạt động sáng tạo. Chức năng của trung tâm là đưa sự đa dạng ấy vào trật tự, khuôn cái mới kia vào mực thước. Trong tương quan với ngoại biên, trung tâm là khu vực ổn định, an toàn, nhưng thường bảo thủ, lắm lúc xơ cứng, trì trệ. Trong quan hệ với trung tâm, ngoại biên là lãnh địa của những thể nghiệm mạo hiểm đòi hỏi sự can đảm của người trí lự, nhưng nó là hiện thân của sự cách tân đầy hấp dẫn. Lí luận văn nghệ cũng vậy!

Vì sự hấp dẫn của khu vực ngoại biên, Trần Đình Sử không ngại tìm tới đó ngay cả khi ông là tác giả của những bộ sách đòi hỏi tôn trọng truyền thống và tính qui phạm cao độ. Tôi muốn nói tới loại sách giáo trình Lí luận dùng cho đại học mà ông tham gia biên soạn ở những năm 80 của thế kỉ trước và sách giáo khoa Ngữ văn dùng cho Trung học do ông làm Tổng chủ biên sau đó ít lâu.

Vào những năm 80 của thế kỉ trước, ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, mĩ học Mác – Lênin là lí thuyết trung tâm. Các trường đại học chỉ dạy cho sinh viên lí thuyết ấy. Theo mĩ học Mác – Lênin, lịch sử văn học là lịch sử sáng tạo, sáng tác văn học là sự phản ánh hiện thực, hiện thực trong văn học là hình ảnh của bản thân đời sống… Với quan điểm như thế, khoa học văn học ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều xem các loại lí thuyết như chủ nghĩa cấu trúc, hay mĩ học tiếp nhận là các loại lí thuyết ngoại biên. Các loại lí thuyết này hoàn toàn vắng bóng trong các sách giáo trình, giáo khoa của Liên Xô, Trung Quốc thời ấy. Nhưng ở Việt nam, Trần Đình Sử đặt vấn đề về mối quan hệ giữa phản ánh luận và kí hiệu học. Ông đề xuất hướng phân tích nhân vật văn học theo các loại hình và xem cấu trúc hình tượng là nền tảng của các loại hình ấy. Ông còn là tác giả đầu tiên đưa tiếp nhận văn học vào giáo trình đại học[2]…Những tư tưởng mới mẻ ấy sẽ là cơ sở để sau này ông tạo ra những thay đổi mang tính cách mạng của môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông và Trung học cơ sở khi ông được cử làm Tổng chủ biên bộ Sách giáo khoa thí điểm của cả Ban Khoa học xã hội và Nhân văn, lẫn Ban Khoa học tự nhiên (Bộ I, Nxb Giáo dục, 2003). Trước bộ sách của ông, môn “Văn” trong trường phổ thông được trình bày như môn dạy – học các áng văn chương nghệ thuật. Ở đây việc “Dạy – học văn” được thực hiện như là “Giảng văn”. Bộ sách giáo khoa doTrần Đình Sử làm Tổng chủ biên chuyển nội dung môn “Văn học” thành môn học về “Văn hiến”,  xem “Đọc văn” là nền tảng của “Dạy – học” văn. Thế là, tuy không xa rời mĩ học Mác xit, nhưng nội dung và phương pháp Dạy – học văn trong bộ sách giáo khoa do Trần Đình Sử  làm Tổng chủ biên đã tiến về phía các trường phái nghiên cứu văn học hiện đại, như mĩ học tiếp nhận, phê bình “Mới”…

2. Độc giả nhận ra Trần Đình Sử luôn đứng trên đường biên của lí thuyết văn học chủ yếu qua những công trình nghiên cứu thi pháp học của ông. Ông xứng đáng được gọi là nhà thi pháp học Việt Nam. Có thể gọi như thế, trước hết vì gần như suốt đời, ông gắn bó với nó. Ông chọn thi pháp học như một hướng đi vào khoa học ngay từ những năm 70 của thế kỉ trước, khi còn là nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Luận án Phó tiến sĩ của ông viết về đề tài: Thời gian như một phạm trù của chỉnh thể nghệ thuật trong những tiểu thuyết viết về Lênin. Năm 1981, lần đầu tiên giới nghiên cứu văn học biết tới Trần Đình Sử và ông cũng nổi tiếng từ đấy với tiểu luận Thời gian nghệ thuật trong “Truyện Kiều” và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du[3]. Xin nhớ lại, thời ấy, xã hội học Mác xit là hệ phương pháp luận duy nhất được vận dung trong tất cả các công trình nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam. Nhắc lại như thế để thấy, Trần Đình Sử đã tiến ra khu vực ngoại biên rất sớm so với thời đại của mình. Cho đến nay, ông là tác giả của gần 400 công trình lớn nhỏ, những công trình nghiên cứu này bao quát nhiều lĩnh vực chuyên môn, nhưng nòng cốt vẫn là các chuyên luận và tiểu luận nghiên cứu thi pháp học[4].Toàn bộ công trình nghiên cứu thi pháp học của ông có thể chia thành ba nhóm:

Lịch sử thi pháp học  (ví như, Toàn cảnh thi pháp học[5], Thi pháp học trong nghiên cứu văn học Việt Nam thế kỉ XX[6].),

Lí thuyết về thi pháp học (ví như: Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Vụ Giáo viên, H., 1993, Giáo trình thi pháp học, ĐHSP tp. Hồ Chí Minh, 1993, Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, 1999)

Nghiên cứu thi pháp tác gia, tác phẩm, thi pháp thời đại văn học. Ở nhóm thứ ba này, Trần Đình Sử có ba chuyên luận lớn: Thi pháp thơ Tố Hữu[7], Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại[8], Thi pháp “Truyện Kiều”[9].

Khác với xã hội học Mác xit, thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật. Trong nghệ thuật, nội dung hoàn toàn hóa thân vào hình thức. Cho nên, hình thức nghệ thuật là đối tượng chiếm lĩnh chủ yếu của thi pháp học.Tùy thuộc vào quan niệm về hình thức nghệ thuật của văn học, thi pháp học chia thành nhiều hệ hình, mỗi hệ hình lại có nhiều trường phái khác nhau. Trần Đình Sử tiếp cận văn học từ quan điểm hiện đại. So với thi pháp học cổ điển, hướng thi pháp học hiện đại trong các công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử có ba điểm khác biệt:

 Thứ nhất: Nó không có tham vọng xác lập một hệ thống điển phạm dùng để đánh giá nghệ thuật.

Thứ hai: Nó không xem tác phẩm nghệ thuật là sự mô phỏng tự nhiên, bắt chước thực tại, mà nghiên cứu tác phẩm như một sản phẩm sáng tạo in đậm dấu ấn của chủ thể nghệ thuật.

Thứ ba, điểm quan trọng nhất: Nó tiếp cận tác phẩm từ quan niệm mới về chỉnh thể nghệ thuật, tìm mọi cách khắc phục phép nhị nguyên, chia tách giả tạo nội dung và hình thức.

Ba đặc điểm nói trên thể hiện ở thao tác bóc tách các cấp độ của tác phẩm văn học, ở hệ thống phạm trù và nội hàm được trao cho chúng để mô tả các cấp độ ấy. Trần Đình Sử thường bóc tách tác phẩm văn học theo ba cấp độ: chỉnh thể – văn bản hình tượng – văn bản ngôn từ.

cấp độ chỉnh thể, Trần Đình Sử tiếp cận tác phẩm từ ba phạm trù “cái”: hình thức quan niệm[10], quan niệm nghệ thuật về con người[11] và thế giới nghệ thuật[12].

Về mặt lí thuyết, Trần Đình Sử đưa ra khái niệm hình thức quan niệm trước hết là để xác định cho hệ thống thi pháp học của ông một đối tượng nghiên cứu riêng. Ông phân biệt hình thức trong thực tế, trong triết học và trong nghệ thuật. Hình thức trong nghệ thuật là hình thức củakhách thể thẩm mĩ được tạo ra trong tác phẩm. Trong nghệ thuật, Trần Đình Sử phân biệt “hình thức quan niệm” với “hình thức cảm tính”. Hình thức cảm tính là hình thức bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên của sự vật, và vì thế, nó không thể trở thành đối tượng của khoa học. “Hình thức quan niệm” là hình thức bên trong, loại hình thức thể hiện “logic của hình thức” và tạo ra hình thức.  Nó vừa là hình thức của khách thể thẩm mĩ được tạo ra trong tác phẩm, vừa là hình thức của chủ thể, được chủ thể sử dụng để để sáng tạo và cảm nhận thế giới. Là sản phẩm sáng tạo của chủ thể để thể hiện quan niệm của chủ thể, hình thức quan niệm vừa in đậm dấu ấn của cá tính sáng tạo, vừa là khuôn mẫu cấu trúc mang tính loại hình. Cho nên, theo Trần Đình sử, phải lấy “hình thức quan niệm” làm đối tượng chiếm lĩnh, thi pháp học mới có thể “nghiên cứu hình thức nghệ thuật như những hiện tượng có qui luật”[13].

Nếu khái niệm “hình thức quan niệm” chủ yếu xác định bình diện “hình thức”, thì phạm trùquan niệm nghệ thuật về con người chủ yếu xác định bình diện “nội dung” như là đối tượng nghiên cứu của thi pháp học. Theo Trần Đình Sử, nó là nguyên tắc cảm thụ, cắt nghĩa thế giới của chủ thể sáng tạo. Với ý nghĩa như thế, nó là nội dung của chủ thể được chuyển vào hình thức biểu hiện, và cũng như “hình thức quan niệm”, nó là nội dung của chủ thể. Cần lưu ý, phạm trù chủ thể nghệ thuật trong hệ thống lí thuyết của Trần Đình Sử không có quan hệ gì với khái niệm “chủ quan” trong triết học. Chủ thể này có thể là nhà văn, người sáng tác, có thể là một thể loại, hoặc một thời đại lịch sử. Vì thế, quan niệm nghệ thuật về con người vừa in đậm dấu ấn của cá tính sáng tạo, vừa là các loại hình lịch sử. Có quan niệm nghệ thuật về con người của Tố Hữu, trong thơ Tố Hữu. Lại có quan niệm nghệ thuật trong thần thoại, trong sử thi, trong cổ tích. Có quan niệm nghệ thuật con người trong văn học trung đại và văn học hiện đại, trong thể tài thế sự và thể tài đời tư… Ngoài phần lí thuyết trong Dẫn luận thi pháp học, các phần nói về quan niệm nghệ thuật về con người trong các chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, Thi pháp “Truyện Kiều”, Trần Đình Sử còn hàng loạt tiểu luận viết về phạm trù này, ví như Con người trong văn học Lí – Trần, Con người cá nhân trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII, Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX, Con người trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945, Về quan niệm con người trong văn học Việt Nam thế kỉ XX[14]... Có thể thấy, quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm công cụ then chốt của Trần Đình Sử và cũng chính qua phạm trù này, lí thuyết thi pháp học  của ông có ảnh hưởng rộng rãi nhất tới nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam.

Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học. Nó là sản phẩm sáng tạo của nhà văn.Truyện Kiều là thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du. Có thế giới nghệ thuật của một tác phẩm. Có thế giới nghệ thuật của một tác giả. Có thế giới nghệ thuật của một trào lưu, trường phái, hoặc một thời đại văn học. Văn học “nói” bằng thể loại. Không có tác phẩm văn học ngoài thể loại (M. Bakhtin). Cho nên, có thế giới nghệ thuật của các thể loại văn học và thể loại trở thành phạm trù đặc biệt quan trọng trong lí thuyết thi pháp học của Trần Đình Sử. Thế giới nghệ thuật vừa giống với thế giới bên ngoài, vừa là thế giới của một quan niệm nghệ thuật. Nó vừa là một thế giới sống động, vừa là một mô hình thế giới. Nó vừa tồn tại trong chất liệu của văn bản như một đối tượng vật chất, hiện hữu, vừa tồn tại trong ý thức độc giả như một khách thể tinh thần. Nó là sự thống nhất đầy mâu thuẫn giữa cái đơn nhất và sự đa dạng, giữa cái hữu hạn và sự vô cùng. Với ý nghĩa như thế, nó là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, chỉ có thể có trong sáng tác nghệ thuật.

Ba phạm trù thế giới nghệ thuật, hình thức quan niệmquan niệm nghệ thuật về con người có quan hệ mật thiết với nhau. Phạm trù đầu được sử dụng để chỉ một tồn tại đặc thù. Hai phạm trù sau là nền tảng cấu trúc và hạt nhân ngữ nghĩa làm nên cái “lí” của tồn tại đặc thù ấy.

Ở cấp độ văn bản hình tượng, Trần Đình Sử tiếp cận sáng tác văn học từ hai bình diện: tổ chức chủ quantổ chức khách quan. Ông thường sử dụng khái niệm “hình tượng tác giả”, “kiểu tác giả”, “kiểu nhà thơ” để mô tả bình diện cấu trúc chủ quan. Có hình tượng tác giả của thể loại văn học. Có kiểu tác giả trung đại, cận đại và hiện đại[15]. Bình diện tổ chức khách quan của sáng tác văn học được ông mô tả chủ yếu bằng hai phạm trù “không gian và thời gian nghệ thuật”. Những khái quát của ông về “không gian lưu lạc” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hoặc về “thời gian lịch sử”,  “không gian con đường” trong thơ Tố Hữu cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học của chúng[16].

Ứng với hai bình diện chủ quan và khách quan của kết cấu văn bản hình tượng, văn bản ngôn từđược Trần Đình Sử tiếp cận theo hai trục: hệ hìnhngữ đoạn. Trục hệ hình được mô tả bằng hai phạm trù “điểm nhìn”, “cái nhìn” và “giọng điệu”. Trục ngữ đoạn được mô tả bằng các phương thức phương tiện tổ chức lời văn, ví như trong Truyện Kiều, đó là lớp ngôn từ màu sắc, là phép đối ngẫu, sóng đôi, ẩn dụ, điển cố

Có thể thấy, Trần Đình Sử đã tạo ra một hệ thống dày đặc khái niệm, phạm trù thi pháp học, trao cho chúng một nội hàm xác định, Việt hóa chúng, giúp cho việc sử dụng trở nên thuận tiện. Các thuật ngữ thế giới nghệ thuật, hình thức quan niệm, quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, kiểu tác giả, kiểu nhà thơ, thể tài dân tộc – lịch sử, thể tài thế sự, thể tài đời tư, trữ tình điệu ca, điệu nói… từ lâu đã trở nên quen thuộc với giới nghiên cứu, được giới nghiên cứu sử dụng rộng rãi chính là nhờ công lao Việt hóa của Trần Đình Sử. Hệ thống thuật ngữ này đủ sức mô tả cấu trúc phức tạp nhiều tầng bậc, nhiều cấp độ của văn bản văn học. Sử dụng hệ thống phạm trù ấy, Trần Đình Sử xây dựng được một tòa nhà lí thuyết thi pháp học bề thế, cân đối, hoàn chỉnh. Đó không phải tòa nhà siêu hình, trừu tượng, mà là một hệ thống lí thuyết “làm việc”. Chính Trần Đình Sử đã thao tác trên hệ thống lí thuyết ấy để nghiên cứu thi pháp văn học trung đại, thi pháp Truyện Kiều, thi pháp thơ Tố Hữu và nhiều hiện tượng văn học hiện đại.

Phải đặt vào mạch thi pháp học truyền thống và trên cái nền của nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam ở đầu những năm 80 của thế kỉ trước, mới thấy hết tính chất cách tân và bước đột phá của hướng tiếp cận thi pháp học trong những công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử. Chí ít, độc giả có thể nhận ra ba điểm đột phá cốt lõi sau đây trong trước tác của ông:

Thứ nhất: Thay đổi quan niệm về hình thức nghệ thuật từng thống trị lâu đời trong thực tiễn sáng tác và trong nghiên cứu, phê bình. Ta biết, văn học cổ – trung đại thuộc loại hình nghệ thuật từ chương. Thi pháp của văn học từ chương là thi pháp của cái điển phạm. Ứng với nghệ thuật điển phạm, thi pháp học cổ điển, từ Aristotle tới Boileau, xem hình thức nghệ thuật là cácphương thức, phương tiện tu từ dùng để “trang sức” cho bình diện nội dung. Ở thời hiện đại, nghiên cứu văn học Mac xit khẳng định sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức, nhưng khi phân tích văn bản bao giờ nó cũng ưu tiên nội dung, lấy nội dung làm đối tượng nhận thức chính yếu. Chẳng những thế, trong quan niệm của nó, cái nội dung này là hiện thực đời sống xã hội bên ngoài được nghệ sĩ phản ánh vào tác phẩm. Ở đây, hình thức nghệ thuật cũng chỉ là phương thức, phương tiện biểu đạt, quan hệ giữa nội dung và hình thức giống như hệ giữa “bình” với “rượu”. Chả thế mà có một thời chúng ta chủ trương sáng tạo nghệ thuật theo kiểu “bình cũ rượu mới”. Bởi vậy, với việc đề xuất khái niệm “hình thức quan niệm”, lần đầu tiên trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam, Trần Đình Sử đã tìm ra cách khắc phục tận gốc phép nhị phân chia tách nội dung và hình thức.

Thứ hai: Thay đổi quan niệm về bản chất nghệ thuật. Cho tới tận cuối thế kỉ XIX, về cơ bản, lí thuyết “bắt chước” của Aristotle vẫn tiếp tục chi phối tư duy mĩ học của nhân loại. Lí thuyết ấy xem nghệ thuật là sự mô phỏng tự nhiên. Mĩ học Mac xit với lí thuyết phản ánh thực chất là hình thức hiện đại của thuyết bắt chước. Cả lí thuyết phản ánh, lẫn lí thuyết bắt chước đều tìm nghĩa của văn bản văn học ở nhân tố ngoại quan, ở “tự nhiên”, “đạo”, hoặc “hiện thực”. Đề cao vai trò của khách thể, nhìn thấy bản chất nghệ thuật ở hoạt động phản ánh, mô phỏng, cả mĩ học Mac xit, lẫn mĩ học truyền thống đều đặt chủ thể nghệ thuật và sự sáng tạo vào vị trí thứ yếu. Trong hệ thống thi pháp của Trần Đình Sử, hoạt động nghệ thuật là hoạt động của chủ thể, thế giới nghệ thuật là thế giới của chủ thể. Ở đây, nghệ thuật thực sự trở thành hoạt động sáng tạo. Kiến tạo lí thuyết bằng một loạt phạm trù chủ thể, Trần Đình Sử đã đưa thi pháp học xích lại gần với kí hiệu học và lí thuyết diễn ngôn.

Thứ ba: Thay đổi hệ thống chủ đề của nghiên cứu, phê bình văn học. Mỗi hệ hình khoa học bao giờ cũng có hệ thống vấn đề riêng của nó. Hệ thống vấn đề này  được cụ thể hóa bằng hệ thống khái niệm, phạm trù mà nó sử dụng để kiến tạo lí thuyết. Ứng với hệ hình lí thuyết phản ánh, hệ thống vấn đề trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986 là đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đề, ví như đề tài chiến tranh, đề tài xây dựng, chủ đề quân dân cá nước, ân nghĩa ân tình…, và các loại hình tượng của tác phẩm văn học được nhận diện theo thành phần xã hội, ví như hình tượng lãnh tụ, hình tượng Đảng, hình tượng người chiến sĩ, hình tượng người công nhân, hình tượng người nông dân, hình tượng người phụ nữ… Trong các công trình nghiên cứu thi pháp học của Trần Đình Sử, hệ vấn đề khoa học được đặt ra chính là các phạm trù thế giới nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian nghệ thuật,kiểu nhà thơ, thể tài, điểm nhìn, giọng điệu, mô hình tự sự

Những ai đã làm quen với Trường phái hình thức Nga cùng những tên tuổi lẫy lừng như Y.N. Tynhianov, B. Eikhenbaum, V.B. Shklovski, V.Y. Propp, từng tiếp xúc với trước tác của A.N. Veshelovski, M.M. Bakhtin, Y.M. Lotman, L.I. Timofeev, D.S. Likhatsev, G.D. Gatsev, M.B. Khrapchenko, G.N. Pospelov, B.O. Korman…đều có thể nhận ra dấu ấn đậm nét của nền khoa học văn học Nga trong những công trình nghiên cứu thi pháp học của Trần Đình Sử. Chẳng hạn, có thể thấy khái niệm “hình thức quan niệm” của ông có sự gần gũi với các khái niệm “hình thức mang tính nội dung” của D.S. Likhatsev, “hình thức thế giới quan” của. G.D. Gatsev. Ở một chừng mực nào đó, nó cũng gần gũi với khái niệm “bức tranh thế giới bằng ngôn từ” như là một cấu trúc biểu nghĩa trong kho “dự trữ diễn ngôn” theo quan niệm của lí thuyết diễn ngôn hiện đại. Nhưng Trần Đình Sử không mô phỏng, bắt chước bất kì hệ thống lí thuyết nào của các học giả kể trên. Ông tiếp thu các lí thuyết hiện đại, biến chúng thành tri thức, sử dụng chúng như công cụ khám phá chất liệu là văn học dân tộc để sáng tạo ra thi pháp học mang hồn vía của riêng mình. Đây là lí do giải thích vì sao hơn ba chục năm nay các công trình nghiên cứu thi pháp học của Trần Đình Sử có sức hấp dẫn mạnh mẽ đến thế đối với giới nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam.

3. Trên đường biên của lí luận văn học của Trần Đình Sử là tuyển tập các tiểu luận đã được ông công bố rải rác trong vòng mươi năm trở lại đây. Tôi gọi đây là cuốn sách bàn luận về sự khủng hoảng của lí luận văn học và suy ngẫm, tìm kiếm lối thoát cho sự khủng hoảng ấy. Những suy ngẫm của tác giả được thể hiện một phần trong các bài viết dưới dạng “tổng quan”, ví như: Ba mươi năm lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam, Toàn cảnh thi pháp học, Thi pháp học trong nghiên cứu văn học Việt Nam thế kỉ XX… Những suy ngẫm của ông được thể hiện trực tiếp hơn trong chùm tiểu luận đề cập tới hàng loạt vấn đề theo tinh thần “nhìn từ hôm nay”:Mấy vấn đề lí luận văn học Marxitst ở Việt Nam nhìn từ hôm nay, Phản ánh luận trong tầm nhìn hiện tại, Văn học hiện thực trong tầm nhìn hiện tại, Vấn đề phương pháp sáng tác từ điểm nhìn hiện tại… Trong “tầm nhìn hiện tại”, thấy những vấn đề quá quen thuộc ấy suốt một thời gian dài ta vẫn nghĩ thế, tin thế là chân lí, giờ hóa ra không phải vậy. Trần Đình Sử viết bài Lí luận văn học: khủng hoảng và lối thoát để trình bày trực tiếp những suy ngẫm được nung nấu từ lâu. Ông nói: “… Từ cuối những năm 50 trở đi cho đến tận những năm 80 của thế kỉ XX, lí luận văn học thu về một mối thống nhất và trở thành một thứ lí luận cí tính chất nhà nước, chỉ đạo nhất quán từ trên xuống dưới, là trụ cột của cuộc đấu tranh ý thức hệ trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Chưa bao giờ trong lịch sử nước nhà, lí luận văn học được nâng tầm quan trọng lên cao như thế, quyền lực như thế, thống nhất như thế! <…> Nhưng rồi thời Đổi mới đã đến, đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy xã hội và kinh tế, thì cái lí luận văn học uy phong lẫm liệt một thời tự tan rã. Các khái niệm có vai trò trụ cột, qui phạm của văn học một thời như phản ánh, chức năng, nguồn gốc văn nghệ, tính giai cấp, tính nhân dân, văn nghệ phục vụ chính trị, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, điển hình, tính chân thật, tính đơn nghĩa… bị hoài nghi, lí luận văn học bị làm rỗng nội dung và mất dần hiệu lực. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu tạo nên cái mà không ít người gọi là “khủng hoảng lí luận”. Khủng hoảng là gì? Là trạng thái quá độ nặng nề từ một hình thái lí luận này chuyển sang hình thái lí luận khác” (Trên đường biên của lí luận văn học, tr. 273 – 274). Làm thế nào để thoát khủng hoảng? Trần Đình Sử đề xuất: “Để xây dựng một nền lí luận văn học theo hình thái mới và để cho lí luận văn học Việt Nam tiến kịp bước tiến chung của thời đại, có tác dụng thúc đẩy văn học và phê bình văn học dân tộc tiến bộ, hơn lúc nào hết chúng ta cần tạo điều kiện giao lưu rộng rãi về lí luận văn học, tạo điều kiện cho những người làm lí luận được học tập, sáng tạo lí luận theo thiên hướng của mình…” (Trên đường biên của lí luận văn học, tr.284).

Và thế là sau gần một phần ba thế kỉ mải miết canh tác không mệt mỏi trên cánh đồng thi pháp học mầu mỡ, tuy vẫn thủy chung với nó, nhưng mấy năm trở lại đây, Trần Đình Sử lại một lần nữa tiến về phía những đường biên mới của lí luận văn học. Ông viết về kí hiệu học (Tính kí hiệu của hình tượng văn học), về tự sự học (Tự sự học từ kinh điển đến hậu kinh điển), về giải cấu trúc (Giải cấu trúc và nghiên cứu văn học), về diễn ngôn và bước ngoặt của nó (Bản chất xã hội, thẩm mĩ của diễn ngôn văn học, Bước ngoặt diễn ngôn và chuyển đổi hệ hình trong nghiên cứu văn học). Với đông đảo độc giả, không chỉ với giới nghiên cứu phê bình văn học, mà cả với giới sáng tác, chùm bài Mấy vấn đề lí luận văn học Marxitst ở Việt Nam nhìn từ hôm nay, Phản ánh luận trong tầm nhìn hiện tại, Văn học hiện thực trong tầm nhìn hiện tại, Vấn đề phương pháp sáng tác từ điểm nhìn hiện tại tỏ ra có sức hấp dẫn đặc biệt vì những vấn đề quen thuộc kia được Trần Đình Sử phân tích, lí giải từ tầm nhìn trên đường biên của nhiều lí thuyết văn học hiện đại.

Chưa thể nói nền lí luận văn học Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Nhưng cũng không thể phủ nhận những thay đổi rất cơ bản của nó từ ngày Đổi mới. Những công trình khoa học của Trần Đình Sử và thực tiễn nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam cho thấy con đường đáng tin cậy để tạo nên các giá trị cách tân và sự sống động cho nền lí luận văn học dân tộc là hãy từ biệt ý thức độc tôn lí thuyết, sẵn sàng tiếp thu kho tri thức giàu có vô tận của nhân loại./ 

Đồng Bát, 04.3.2016.

[1] Trần Đình Sử – Trên đường biên của lí luận văn học. Nxb văn học, H., 2014.

[2] Xem: Lí luận văn học. T.1, T.2. Nxb Giáo dục, 1986, 1987

[3] Xem: Trần Đình Sử – Thời gian nghệ thuật trong “Truyện Kiều” và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du//Tạp chí văn học, số 5, tháng 9&10/1981, tr. 52-61.

[4] Xem: “Danh mục công trình khoa học của Trần Đình Sử” trong sách sách:Trần Đình Sử –Tuyển tập (2 tập), Nxb Giáo dục, 2005, T. 2, tr. 905-918. Bảng “Danh mục” này chỉ liệt kê các công trình khoa học của Trần Đình Sử ở giai đoạn 1981 – 2005. Trong vòng 10 năm nay, ông còn công bố hai cuốn sách: 1) Một nền lí luận văn học hiện đại (Nhìn qua thực tiễn trung Quốc)(Nxb ĐHSP, H., 2012); 2) Trên đường biên của lí luận văn học (Nxb văn học. H., 2014) và rất nhiều tiểu luận khác.

[5] Trần Đình Sử – Toàn cảnh thi pháp học//Trần Đình Sử – Trên đường biên của lí luận văn học. Nxb Văn học, 2014, tr. 341-381,

[6] Trần Đình Sử – Tlđd, tr. 399-420.

[7] Trần Đình Sử – Thi pháp thơ Tố Hữu. Nxb Tác phẩm mới, 1987, Nxb Giáo dục, 1995, Nxb Văn học, 2001.

[8] Trần Đình Sử – Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại. Nxb Giáo dục, 1999.

[9] Trần Đình Sử – Thi pháp “Truyện Kiều”. Nxb Giáo dục, 2001, tái bản năm 2002

[10] Xem: Trần Đình Sử – Tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục, H., 2005. T.I – tr. 144-158, 716-781; T.II – tr.59-81.

[11] Trần Đình Sử – Tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục, H., 2005. T.I – tr. 144-158; 716-781; T.II – tr.59-82.

[12] Trần Đình Sử – Tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục, H., 2005. T.I – tr. 124-193 ; T.II – tr.46-54.

[13] Trần Đình Sử – Thi pháp thơ Tố Hữu. Nxb “Tác phẩm mới”, 1987, tr. 12.

[14] Có thể tìm đọc các tiểu luận trên trong: Trần Đình Sử – Tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục, 2005, T.2, tr. 758-766, 767-781, 782-810, 826-866, 867-878.

[15] Xem: Trần Đình Sử – Tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục, 2005. T.I – tr. 188-193, 433-449, 658-715; T.II – tr.134-149.

[16] Trần Đình Sử – Tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục, 2005. T.I – tr. 159-187, 782-825; T.II – tr.83-133.

Leave a Reply