Trần thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật (phần 8/8)


V.I. Chiupa

8. Giọng

“Cảm thụ và truyền đạt các sự kiện là những khía cạnh khác nhau trong mọi dạng trần thuật”[1]. Nêu lên luận điểm đầy sức thuyết phục ấy, V. Smid đồng thời lên tiếng phản đối việc đưa vào trần thuật học sự phân định ranh giới giữa điểm nhìn và “giọng” do G. Genette khởi xướng (trước kia, sự phân định này đã diễn ra trong các công trình của M. Bakhtin, hoặc sớm hơn – ở Percy Lubbock[2]). Tiếp bước B.A. Uspenski[3], nhà tự sự học hàng đầu người Đức đã đưa vào khái niệm điểm nhìn không chỉ mình các nhân tố thị giác, mà còn cả nhân tố giọng điệu: nhân tố ngôn ngữ (ngữ cú) và giá trị (tư tưởng hệ). Mặt khác, Ricœur nhấn mạnh việc “không thể loại bỏ khái niệm giọng trần thuật” mà “phạm trù điểm nhìn không thể thay thế được cho nó”[4]. Ý kiến này tỏ ra có sức thuyết phục, bởi vì mục đích tiếp nhận của cái nhìn bên trong nhắm tới bình diện khách qua của phát ngôn và mục đích tiếp nhận của cái nhìn thính giác bên trong nhắm tới bình diện chủ quan của phát ngôn, tuy chúng tạo ra ranh giới của một sự kiện giao tiếp thống nhất, nhưng về nguyên tắc, không đồng nhất với nhau.

Với tư cách là “sự kiện của sự kể chuyện”, diễn ngôn trần thuật là sự bổ sung qua lại giữa hai hệ thống: không chỉ cấu hình của điểm nhìn (ai nhìn), mà còn cấu hình của các giọng nói (ai nói). Cấu hình của các giọng nói được tạo ra bằng việc sử dụng các từ định giá và dấu phong cách của các thành phần văn bản định hướng cho thính giả hàm ẩn của một diễn ngôn nào đó.

Có thể nghĩ rằng, phương diện định giá – phong cách này của hành động trần thuật, phương diện đáng gọi là giọng điệu hoá[5], không nằm trong lĩnh vực mô tả và phân tích trần thuật học. Nhưng nghĩ như vậy là không đúng, vì mọi sự trần thuật bao giờ cũng là “biến đổi vật liệu được ước định không phải bằng lời nói thành hình thức bằng lời nói”[6]. Không thể coi thường “hình thức” giọng điệu hoá của “vật liệu” trần thuật, bởi vì bên ngoài sự khúc xạ trong giao tiếp, chúng ta không có bất kì lối nào để thâm nhập vào bản thân nội dung tham chiếu của trần thuật.

Truyền đạt chính xác lời nói của nhân vật là những kết nối dẫn đoạn thuộc diễn ngôn hành ngôn, diễn ngôn trùng lặp, hay diễn ngôn trần thuật của người khác vào diễn ngôn trần thuật. Những kết nối như thế tuyệt nhiên không phá vỡ văn bản trần thuật, ngược lại, chúng tăng cường sức mạnh cho giọng nói của người trần thuật, nhờ đó, vô tình hay cố ýẩttong quan hệ với sự kiện tham chiếu, người trần thuật không chỉ xuất hiện trong tư cách “chứng nhân”, mà còn xuất hiện trong tư cách “quan toà”.

Trong văn bản Giáo chủ, chỉ dấu phong cách các giọng của nhân vật rất cô đọng và chỉ đụng chạm tới lời nói của các nhân vật bao quanh nhân vật chính: Sisoi (Tôi không thích!; Chả có gì ở đó… có gì nào! v.v…); Erakin (Dứt khoát rồi!; Thưa Đức Đại Giáo chủ! Đừng bao gờ!); bà mẹ (Cảm ơn ngài; chúng ta uống trà rồi, con ạ …).

Không thể tìm thấy sự khác biệt, cả về phong, lẫn giá trị, giữa giọng của người trần thuật và giọng của bản thân giáo chủ, mặc dù chúng không hoà vào làm một (trong hệ thống thuật ngữ của V. Smid: người trần thuật chú giải Thánh Kinh (экзегетический повествователь) không trở thành người trần thuật kể chuyện). Chúng ta sẽ phân tích đoạn nổi bật sau đây làm thí dụ:

Khi buổi lễ kết thúc, đã là mười hai giờ kém mười lăm. Vừa về đến nhà, giáo chủ liền thay quần áo và đi nằm, thậm chí, không cầu nguyện Chúa. Ông không thể nói và, có cảm giác, không thể đứng dậy được nữa. Khi ông đắp kín chăn, bỗng muốn ra nước ngoài, muốn không thể chịu được! Có cảm giác, giá mà tận hiến cuộc đời, cốt sao không phải nhìn những cánh cửa chớp thảm hại, rẻ tiền, những trần nhà rất thấp ấy, không phải hít thở cái mùi tu viện nặng nề ấy. Chỉ cần dù chỉ một người để có thể trò chuyện, cởi bỏ tâm hồn!

Đoạn văn rõ ràng được bắt đầu bằng lời người trần thuật.  Và cũng rõ ràng là, nó kết thúc bằng sự trầm tư của nhân vật, sự trầm tư vọng đến với chúng ta trong hình thức hai giọng của lời bán trực tiếp. Nhưng thực tế, sự chuyển đổi từ hình thức thứ nhất sang hình thức thứ hai rất khó nhận ra. Nó rời vào câu thứ tư, nơi tầm nhìn ngoại quan (Khi ông đắp kín chăn) được chuyển sang tầm nhìn nội quan (bỗng muốn ra nước ngoài), và sau đó, thực chất đã chuyển thành phát ngôn mang chỉ dấu hành ngôn của bản thân nhân vật (muốn không thể chịu được!). Phát ngôn không để trong ngoặc còn được tiếp tục bằng hai câu, giống như lời thốt lên không được tách riêng về mặt văn tự thể hiện sự tán thành của nhân vật với lời người trần thuật về nó.

Tổ chức trần thuật hai giọng như thế chiếm ưu thế trong suốt cả thiên truyện. Trong những trường hợp hiếm hoi, khi người kể chuyện “trích dẫn” lời trực tiếp của nhân vật trung tâm, nó không bị phân định ranh giới giọng điệu hoá với giọng riêng của nó. Nói cách khác, việc “chuyển tải sự kiện” giao tiếp được văn bản này thực hiện chủ yếu dưới hình thức lời bán trực tiếp, bằng cách mô phỏng sự “tri nhận” trực tiếp cái đang diễn ra. Trong số đó, có cả việc sau cái chết của giáo chủ Peter, khi, như chúng tôi đã chỉ ra, bề ngoài, điểm nhìn của nhân vật vắng mặt vẫn tiếp tục quyết định cái nhìn vào thế giới được trần thuật. Giọng của nhân vật vẫn được trần thuật vẫn tiếp tục duy trì cũng ở mức độ tương tự như vậy.

Xin so sánh ba mảnh sau đây của văn bản đang được phân tích:

a) Có vẻ như như ông đã không còn một cái gì đó quan trọng nhất mà một thời nào đó ông đã mơ hồ ao ước, và giờ đây, vẫn chính niềm hi vọng vào tương lai, niềm hi vọng từng có ở thời trẻ thơ, ở viện hàn lâm, ở cả nước ngoài, đang làm xao xuyến bồi hồi.

b) Có vẻ như đó vẫn chính là những người trước kia đã ở đây, từ thời ấu thơ và thời trẻ trung, rồi hàng năm tất cả bọn họ sẽ lại ở đây, cho tới tận khi nào – chỉ mỗi Chúa biết được.

c) Tóm lại, từng rất vui, tất cả đều rất tốt, giống hệt như năm ngoái, và chắc chắn, sẽ lại như thế trong tương lai.

Hai mảnh đầu là những đoạn tiêu biểu cho lời bán trực tiếp của nhân vật chính. Nhưng đoạn thứ ba, đoạn đánh giá tình huống ngày lễ giáng sinh sau cái chết của giáo chủ, hoàn toàn không khác biệt với các phần trước, cả về mặt chủ đề (tính liên tục của quá khứ và tương lai), cả về mặt tâm lí và giọng điệu – phong cách. Khi đối chiếu với quan điểm tác giả giả định, người ta thường giải thích lời tán dương dành cho lễ Phục sinh, lời tán dương xem thường cái chết của nhân vật, như sự mỉa mai cay đắng và cho rằng, truyện này của Sekhov “buồn vô hạn”[7]. Nhưng chẳng có bất kì một cơ sở hình thức nào để xem xét lại sắc điệu của giọng trần thuật trong văn bản. Chỉ cần lời bán trực tiếp của nhân vật trung tâm vẫn tiếp tục vang lên sau khi nó đã bị loại ra khỏi thế giới được trần thuật cũng đủ để hơn một lần khẳng định, rằng trong trường hợp này, những lời giáo chủ ra lệnh phải sống lâu không chỉ ra sự kiện về cái chết. Bằng hành động trần thuật này, vị thế sự kiện được “phán quyết” (người trần thuật như chứng nhân và quan toà) trao cho sự biến hoá, chứ không phải sự biến mất của nhân vật.

Nội dung bên trong của đời sống con người thường không bao giờ bị dập tắt trong tâm hồn các nhân vật cá nhân ở sáng tác thuộc giai đoạn cuối của Sekhov. Được khơi dậy bằng chuyến viếng thăm của người mẹ, nội dung ấy bùng cháy lên ngày càng rạng rỡ như một ngon lửa. Cái “tôi” cô đơn bên ngoài hoá ra bên trong bản thân là trung tâm “công đồng” của những đời sống khác hoà quyện vào không khí lễ hội xán lạn của đời sống đã qua, đời sống hiện lên sinh động, tuyệt vời, vui vẻ, mà chắc chắn, chưa bao giờ từng có.ảơ đây, vấn đề không phải là ở sự lầm lẫn, mà là ở mối liên hệ tinh thần độc đáo mà cá nhân nhân vật của Sekhov hiến tặng những người đang sống trong kí ức của nó, cũng như nhưỡng người nó không quen biết từng sống trong kí ức của bao lớp cha ông. Đằng sau cá nhân vị giáo chủ là toàn bộ dòng họ của ông <…> từ thời tiếp nhận Kitô giáo ở nước Nga. Cội rễ ấy làm cho nhân vật trở thành bất tử ở phương diện tinh thần, bằng cách trao cái chết của nó nội dung quá độ của nghi lễ trưởng thành.

 (Còn nữa)

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: В.И. Тюпа.- Нарратология как аналитика  повествовательного дискурса//Серия Лекции в Твери”. Тверской государственный университет.  Тверь – 2001.


[1] V. Smid.- Trần thuật học văn học Nga. Tr. 107.

[2] Xem: P. Labbock.- The Craft of Fiction. London, 1921.

[3] Xem: B.A. Uspenski.- Thi pháp kết cấu. M., 1970.

[4] P. Ricœur.- Tài liệu đã dẫn. T.2, tr. 103.

[5] Thuật ngữ này (tiếng Nga: “глоссализация ”- ND) được chúng tôi sử dụng để chỉ sự kích hoạt tính tạm thời của một cách dụng ngữ nào đó hay một cấu trúc lời nói, tức là kích hoạt khả năng thay thế chúng về phương diện giá trị và/hoặc phong cách bằng những cách dụng ngữ và cấu trúc lời nói khác trong ngữ cảnh của một “giọng nói” khác.

[6] G. Genette.- Tài liệu đã dẫn. T.2, tr. 183-184.

[7] V.B. Kataev.- Văn xuôi Sekhov: vấn đề diễn giải. M., 1979, tr. 291.

Leave a Reply