Tranh luận về tập thơ Việt Bắc: Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt Bắc


Nguyễn Văn Phú

 

L.T.S. – Về cuộc tranh luận chung quanh tập thơ Việt Bắc chúng tôi đã nhận được trên hai mươi bài tham gia ý kiến. Ở nhiều điểm, các bài trùng nhau mà khuôn khổ tờ báo không cho phép chúng tôi sử dụng vào vấn đề này quá ba trang mỗi kỳ.

Bởi vậy, chúng tôi chia các bài gửi đến ra làm ba loại:

  1. Sẽ đăng toàn bài (có tước bớt ít nhiều câu thừa);
  2. Sẽ trích đăng một, hai đoạn ngắn có ý mới và cần thiết đối với trọng tâm tranh luận;
  3. Sẽ chuyển đăng ở các báo khác.

Chắc các bạn cũng thông cảm mà vui lòng ưng thuận.

Ngoài ra bắt đầu từ số sau chúng tôi sẽ tường thuật tổng hợp các cuộc hội nghị phê bình tập thơ Việt Bắc do Hội Văn nghệ tổ chức tại trụ sở Hà Nội.[1]

*Bàn về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Hoàng Yến đã đánh giá khả năng hiện thực về phương diện nội dung tình cảm. Hoàng Cầm cũng đồng tình với Hoàng Yến về mặt đó và cho là thơ Tố Hữu thiếu ít chất sống thực tế.

Tôi cũng đồng ý với Hoàng Yến và Hoàng Cầm, nhưng tôi không phê bình thơ Tố Hữu về nội dung chính trị. Nội dung chính trị của tập thơ Việt Bắctheo ý tôi nói lên đầy đủ mọi điều cần nói, không chê trách vào đâu được. Tôi chỉ đứng vào phía nghệ thuật để tìm hiểu xem nghệ thuật thơ Tố Hữu đã thành công hay chưa? Và đã trả lời nổi nội dung hiện thực xã hội chủ nghĩa chưa?

Tiêu chuẩn nghệ thuật không phải là chính yếu, nhưng là một tiêu chuẩn quan trọng. Tôi cho rằng nghệ thuật thơ Tố Hữu chưa được phong phú cho lắm nên có ảnh hưởng đến nội dung chính trị, muốn sâu sắc mà không đạt được.

Theo Mác-xim Goóc-ki, “văn chương là nghệ thuật lấy chữ và hình ảnh tạo nên những điển hình, những nhân vật để phản chiếu cuộc đời, phản chiếu thực tế cùng với mọi cảnh vật, mọi tâm tình”. Thơ lại là một thứ nghệ thuật sử dụng hình ảnh và tiếng nói cực kỳ công phu, vì nếu hình ảnh và tiếng nói không có sức truyền cảm kỳ diệu vào tâm tư của con người thì không có gì là chất thơ nữa.

Tâm trạng là những thực thể trừu tượng mà văn chương phải biểu hiện ra bằng những hình ảnh cụ thể. Hình ảnh nếu chỉ được vẽ lên dưới trạng thái tự nhiên hoặc không điển hình thì nó chỉ gợi lên cảm giác mà thôi, do đó người ta muốn xúc cảm thế nào thì xúc cảm.

Với quan niệm như trên, tôi phân tích nghệ thuật thơ Tố Hữu trong tập Việt Bắc.

Bài thơ “Cá nước” có đoạn như sau:

Một thoáng lặng nhìn nhau
Mắt đã tìm hỏi chuyện
Ðôi bộ quần áo nâu
Ðã âm thầm thương mến

Hình ảnh được nêu lên là hình ảnh hai người mặc quần áo nâu giản dị, mới gặp nhau, đứng lặng nhìn nhau, mắt thương mến, âm thầm, kín đáo. Trước hết đôi bộ quần áo nâu không phải là nét điển hình về hình ảnh của anh bộ đội và anh cán bộ. Nếu không có đoạn kể rõ ở trên:

Anh là Vệ quốc quân,
Tôi là người cán bộ

thì đố ai hiểu hai bộ quần áo nâu ấy chỉ rõ ai. Dù nó có gợi lên cho ta thấy cái bề ngoài giản dị chăng nữa, ta cũng không rõ nguyên nhân vì sao mà lại “âm thầm thương mến” nhau.

Nhưng nét vẽ lên bằng tiếng: “lặng nhìn”, “mắt hỏi”, “âm thầm”, cho ta cảm giác hai người quen nhau, thầm nhận nhau rồi thương nhau. Có thế thôi, rồi một mối buồn man mác bao trùm lên lòng người, gợi lên bởi những tiếng “lặng”, “âm thầm”. Hình ảnh và lời thơ chỉ gợi lên được cái cảm giác bên ngoài, tự nó không nói lên được cái mặn nồng giữa hai người, cái rung động của lòng người đọc. Người đọc có cảm thông gì với anh không? Có yêu hai anh không? Tùy ý! Sức sống không toát lên được. Hoàng Cầm cảm thấy bài thơ êm êm rồi thoáng tan đi, chính vì vậy.

Cũng bài ấy, hình ảnh ở một đoạn khác như sau:

Giọt giọt mồ hơi rơi
Trên má anh vàng nghệ.

Hình ảnh mồ hôi rơi giỏ giọt, má anh bộ đội vàng như nghệ, gợi lên cho ta cái cảm giác anh đội [2] mệt, khó nhọc, ốm yếu. Còn người đọc có cảm thông gì với anh bộ đội thì tác giả nói lên hộ bằng lời, sau hình ảnh trên:

Anh Vệ quốc quân ơi!
Sao mà yêu anh thế!

Hình ảnh gợi cảm giác bề ngoài, bất lực, không nói lên được sức sống tình cảm bên trong lòng người Vệ quốc, người cán bộ, người đọc, người nghe.

Ăng-ghen có viết: “Khuynh hướng phải do tình thế và hành động mà bật ra, không nên nói trắng ra một cách bộc lộ”.

Ở đây hình ảnh không tự nói lên được mà toàn là phải dựa vào lời của tác giả:

Anh người đâu, tôi đâu 
Gần nhau là thân thiết
………..
Ðã âm thầm thương mến
…………
Chắc có lúc lòng anh
Nhớ nhà, anh nhớ lắm.

Nếu thơ mà cứ phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần những lời “thân thiết”, “thương mến”, “yêu anh”, “lòng anh nhớ nhà”, “anh nhớ lắm” v.v… mà không để hình ảnh, hành động tự nó nói lên thì sức truyền cảm của thơ kém hẳn đi. Lời nói chỉ truyền cảm được khi nào chính bản thân lời nói có hình ảnh hoặc hoạt động.

Rồi câu kết luận của bài thơ:

Rồi lát nữa chia đôi,
Anh về xuôi, tôi ngược.
Lòng anh và lòng tôi
Mang nặng tình cá nước

vẽ ra cảnh chia ly, kẻ xuôi người ngược, gợi một nỗi buồn man mác. Hai câu sau, “lòng anh và lòng tôi mang nặng tình cá nước“, không vớt lại được cái dư âm buồn để lại phút cuối cùng sau khi đọc xong bài thơ.

Trong một bài thơ khác, bài “Phá đường” cũng có những cách cấu tạo hình ảnh chỉ gợi cảm giác và dùng lời nói hộ tình cảm như vậy.

Ðoạn mở đầu:

Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế 
Gió qua rừng Ðèo Khế, gió sang

Hình ảnh gió, rét, ở chiến khu Việt Bắc. Rét thế nào, có ai cảm thấy không? Tác giả phải vận dụng cảm giác bằng óc liên tưởng cho những ai đã từng sống ở Thái Nguyên, Yên Thế, Ðèo Khế. Rét thế nào cảm giác chưa rõ lắm thì cảm xúc chắc là không có.

Em là con gái Bắc Giang
Rét thì mặc rét, nước, làng em lo

Ðã không biết rét đến mực độ nào thì chữ “mặc” dùng ở đây cũng không có tác dụng lắm. Hãy lắng tai nghe người phụ nữ Bắc Giang kể lể:

Nhà em phơi lúa chưa khô,
Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong
Nhà em con bế, con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đường quan.

Ta thấy có những hình ảnh gì? Lúa, ngô, sắn bề bộn khắp nơi. Con bế, con bồng ríu rít. Người đọc cảm thấy cái cảnh neo đơn, một thân một mình của người đàn bà nông dân. Nhưng cũng lại cảm thấy rằng nhà đủ ăn, không đau khổ, chỉ bận rộn thôi. Ngoài cái cảm giác ấy ra, còn cảm thông gì với người phụ nữ nữa không, cũng là tùy sự suy luận của người đọc. Nhà đủ ăn, nhưng bận rộn tíu tít, thế mà “em cũng theo chồng đi phá đường quan“. Hình ảnh đi phục vụ chưa có hào hứng vì hai chữ “theo chồng” và chưa được quyết tâm bởi chữ “cũng” gượng gạo.

Với tám câu mở đầu kể lể: Nào rét, nào lo việc nước, nào bề bộn việc nhà, nào hy sinh, hình ảnh chỉ tả bên ngoài không tự nó gợi lên được cho người đọc cái tình cảm sâu sắc của người đàn bà nông dân căm thù giặc, quyết tâm khắc phục khó khăn, quyết tâm hy sinh. Chính bản thân người đọc, người nghe, cũng không có xúc cảm gì thấm thía trước hình ảnh ấy.

Hì hà hì hục
Lục cục lào cào
Anh cuốc em cuốc
Ðá lở đất nhào
Nào anh bên trai
Nào em bên nữ
Ta thi nhau thử
Ai nào hơn ai!

Tác giả sử dụng những âm thanh bắt chước tự nhiên diễn đạt cảnh lao động khó nhọc, có tiếng thở, có tiếng cuốc, có tiếng đất rơi, đá lở. Diễn tả cái cảnh lao động khó nhọc bằng những âm thanh bắt chước đúng sự thực như vậy là một kỹ thuật của chủ nghĩa tự nhiên, bởi vì chính âm thanh không gợi cảm xúc gì cả.

Mác-xim Goóc-ki nói: “Chủ nghĩa tự nhiên ghi chép một cách máy móc, nó giữ nguyên những sự việc. Chủ nghĩa tự nhiên là nghề chụp ảnh, thí dụ người thợ chụp ảnh có thể chụp bộ mặt của một người với nụ cười ta cho là buồn chẳng hạn, đến khi hắn ta muốn có một bộ mặt ấy với nụ cười chế nhạo hoặc vui tươi, thì hắn phải chụp một cách khác. Tất cả đều là sự thực ít hay nhiều, nhưng là sự thực một giây phút của con người sống buồn rầu hay giận dữ, vui tươi. Còn nói đến trình bày sự thực của con người trong sự sống phức tạp, thì cả người thợ ảnh lẫn nhà văn theo chủ nghĩa tự nhiên đều không thể làm được”. [3]

Tám câu thơ sử dụng kỹ thuật âm thanh và nhịp điệu rất khéo léo bắt chước tự nhiên chỉ là chụp được cái cảnh đông người đang cuốc, đào, khó nhọc, vui tươi, hăng hái. Trước cảnh ấy, ai muốn cảm xúc thế nào cứ cảm xúc theo chủ quan của mình.

Tôi nghĩ rằng hình ảnh phá đường ghi theo lối chụp ảnh như vậy có thể là hình ảnh phá đường, đắp đường ở bất cứ một thời gian nào, một giai đoạn lịch sử nào, nếu nó không được giải thích bằng mấy câu nói ở cuối cùng bài thơ:

Thằng Tây mà cứ vẩn vơ
Có hố này chờ chôn sống mày đây
Ớ anh ớ chị nhanh tay
Nhanh tay ta cuốc chôn thây quân thù

Tình cảm thực của người nông dân ph