Trao đổi cùng GS. Hạ Chí Thanh về một nhân vật trong Nho Lâm Ngoại Sử [1]


Lê Thời Tân

Tóm tắt:

Những nét tương đồng giữa cuộc đời Ngô Kính Tử với hình tượng Đỗ Thiếu Khanh trong tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử 《儒林外史》khiến nhiều học giả nói đến cái gọi là “chân dung tự họa” của nhà văn. Chúng tôi trong lúc chia sẻ với cách đặt vấn đề như vậy đồng thời cũng luôn tự lưu ý mình không vì thế mà cố nhìn nhận nhân vật này như là hiện thân lý tưởng của tác giả. Chọn cách phân tích nhân vật này trong liên hệ đối thoại với các ý kiến của GS Hạ Chí Thanh, (夏志清 Hsia Chih-tsing) bài viết nhắm tới việc tiến xa hơn nữa trên con đường thức nhận chủ đề tư tưởng của danh tác này.

 

Đỗ Thiếu Khanh trong Nho Lâm Ngoại Sử[2] để lại cho độc giả ấn tượng về một nhà nho tài tử phóng khoáng. Thế nhưng đọc kĩ, ta thấy đằng sau vẻ tự do phóng khoáng đó là cả một nỗi lúng túng, khó xử tinh thần không cách thoát bỏ. Khác với chẳng hạn Ngu Dục Đức, Đỗ là con cháu của một danh môn vọng tộc: ông nội là trạng nguyên, làm quan mấy chục năm; bố đậu đến tiến sĩ, từng là thái thú rồi tri phủ. Gia thanh hiển hách của dòng tộc là niềm tự hào mà cũng là gánh nặng tâm lí của nhân vật – Đỗ trở thành đối tượng so sánh với các bậc tiền bối trong dòng tộc. Trừ phi cũng thi cho được cái tiến sĩ còn không, bóng râm của sự so sánh đó luôn che rợp một góc tâm tư của chàng. Oái ăm, Đỗ lại không muốn khuất thân chen vào hàng ngũ của những học quan Chu Tiến, Phạm Tiến, Hàn Lâm quan Cao Thị độc, quan Biên tu họ Lỗ… Cuối cùng khi gia sản đã đến hồi khánh kiệt cũng là lúc Đỗ cảm thấy không còn đủ sức để kham cho nổi gánh nặng truyền thống gia đình nữa. Cuộc sống tự do tự tại của một danh sĩ thành Nam Kinh trở thành lối thoát duy nhất của nhà nho này – Đỗ Thiếu Khanh bán đứt cơ nghiệp tổ tông chuyển nhà lên Nam Kinh.[3]

Trong dòng trần thuật bình đạm của nhà tự sự, một số chi tiết chỉ khi đọc xong cả mấy hồi truyện mới phát tỏa ý vị sâu xa của nó. Đỗ Thiếu Khanh tiếp người bạn học và cũng là anh em kết nghĩa của bố mình – cụ Tứ họ Vi bằng vò rượu duy nhất chôn dưới nền nhà từ thủa sinh thời của thân phụ (vò rượu chôn đã gần trăm năm!). Uống cạn vò rượu, Đỗ lấy chiếc chén ngọc và hai bộ áo quần cũng là đồ lưu lại của thân sinh đem cho cụ Tứ. Tiếp đó Đỗ lại tiễn về quê người quản gia cũng từ thời bố để lại. Người quản gia phục vụ đã ba mươi năm trong phủ họ Đỗ này giữ một mối tình bạn thân thiết với cậu chủ nhưng giờ đây bệnh nặng chỉ muốn về chết ở nhà mình [1]. Tất cả những chi tiết đó (xem hồi 32) vô tình như tuồng cũng là những việc phải làm trước khi tạm biệt mảnh vườn và ngôi nhà cha ông lên Nam Kinh thuê nhà sống đời danh sĩ tự do. Sự phân tích hành động chuyển nhà lên Nam Kinh của Đỗ Thiếu Khanh từ góc độ tâm lí trở nên sâu sắc hơn nhờ công của nhà Hán học, nhà phê bình tiểu thuyết Hạ Chí Thanh. Ông nhìn thấy trong hành động này bóng dáng của cái gọi là tiềm thức nhân vât. Ông nói Đỗ khánh tận gia sản để tìm lại tự do cho cá nhân mình: “Nhìn từ góc độ tiềm thức, đó là một thứ tự do thoát bỏ được gánh nặng truyền thống gia đình”, “Dường như anh ta sẽ che đậy được niềm tự ti khi ra được quyết định bỏ quê”. [2 tr.241] Quả đúng là ở Đỗ Thiếu Khanh, truyền thống gia tộc không phải là không đem lại cho anh ta chút cảm giác ngọt ngào cao quý nhưng mặt khác cũng chính cái gọi là gia thanh gia thế chỉ khiến cho chàng thẹn thùng bẽ bàng thêm cho bản thân.[4]

Ngay cả khi đã bán đứt đi cơ nghiệp tổ tông, thoát ra khỏi ngôi làng mà phủ đệ họ Đỗ giờ đã trở thành chứng tích của vang bóng một thời còn cậu chủ thì con chẳng hơn cha, hoang tàng, không chí tiến thủ đó – Đỗ Thiếu Khanh thực sự đã trút bỏ được gánh nặng tâm lí phải “kế tục gia thanh” hay chưa? Nói cách khác cái nhiệm vụ thi đậu làm quan còn ám ảnh anh ta nữa không? Câu trả lời là – trừ phi Thiếu Khanh không còn là họ Đỗ và sau cùng cũng kiếm được một nơi tương tự như hồ Nguyên Vũ mà Trang Thiệu Quang có được từ tay hoàng đế như là một đền bồi gọi ra làm quan nhưng rồi lại không cho chức gì cụ thể (khẳng khái và thực sự xem thường của cải, Đỗ Thiếu Khanh đâu có “không ngoan” được như người bạn dân Nam Kinh họ Trang kia[5]). Ta có thể nghe ra được từ trong đoạn “độc thoại”[6] sau khi quyết định từ chối lời mời ra làm quan của Đỗ Thiếu khanh một tâm sự nào đó của chính nhân vật đối với “cử nghiệp chính đồ” và trách nhiệm kế tục gia thanh, làm rạng mặt tổ tông: “Thôi vậy, mình làm tú tài. Kết cục là như vầy. Tương lai thi hương cũng chả đi, thi hội, thi đình cũng không, tiêu dao tự tại, làm việc của mình vậy” (hồi 34) [1 tr.373; 4 tr.113]. Dường như chỉ đến lúc này – từ chối lời mời ra nhận một chức quan, Đỗ Thiếu Khanh mới tìm được căn cớ tinh thần và sự giải phóng tâm lí cho cái kế hoạch vứt bỏ đường khoa cử của mình. Đỗ Thiếu Khanh giải thích với vợ về việc mình chối lời mời ra nhậm chức quan: “Vợ cười nói: Triều đình gọi ông ra làm quan, sao ông lại giả bệnh không đi? Đỗ nói: Mình ngốc quá! Đất Nam Kinh vui thú này, ta ở nhà ta. Mùa xuân mùa thu cùng mình xem hoa, uống rượu, khoái làm sao! Tai sao lại đưa ta lên Kinh? Giả sử ta còn mang mình lên Kinh cùng, ở Kinh trời lạnh mình thì sức yếu, một trận gió đủ mình chết cóng. Như vậy hay ho gì. Đây không đi là hơn” (hồi 34) [1 tr.372; 4 tr.112].

Lời của Đỗ quả như giáo sư Hạ Chí Thanh nói – “Cái cớ từ quan ở đây nghe không đâu vào đâu. Mấy lời đó ngang với nói rằng Đỗ yêu sự lười biếng và tình trạng vô công rồi nghề” [2 tr.243]. Hạ Chí Thanh cảm thấy đáng tiếc cho Đỗ. Ông đồng thời tìm kiếm nguyên nhân của việc chối quan từ việc Đỗ chuyển nhà lên Nam Kinh: “Thế nhưng, vào lúc Đỗ ở Nam Kinh, giống như tài sản tổ tiên đã bị vung vãi sạch bách, tinh thần của cha ông nơi Đỗ Thiếu Khanh cũng đã tiêu tan hoàn toàn” [2 tr.243].

Chúng tôi nghĩ vấn đề nỗi niềm sự nghiệp ở Đỗ Thiếu Khanh cần được phân tích thấu đáo hơn. Trước hết phải thấy rằng, vốn là một nho nhân có tinh thần học thuật cởi mở và là công tử con nhà lại bản tính thanh cao, Đỗ Thiếu Khanh xem thường việc chen chân khoa trường thối nát. Trong khi quan trường đen tối cũng chỉ khiến Đỗ muốn tránh chốn đó càng xa càng tốt. Trong câu chuyện Đỗ Thiếu Khanh từ chối lời mời ra làm quan có chêm xen tình tiết viên thân hào họ Tiết ở phố Cổ Lâu mời tiệc Trì Hành Sơn và Cao Thị độc. Đây là một động tác trần thuật có dụng ý. Trong bữa tiệc, Cao với tư cách là người “xuất thân chính đồ” (thi đậu ra làm quan, chứ không phải là xét mời ra làm quan) đã giảng qua một lượt về đề tài thời đại – khoa cử hoạn đồ. Bài diễn thuyết của một kẻ từng là “cử nghiệp gia” đồng thời có thâm niên chốn quan trường – Cao Thị độc vô hình trung giúp ta thấy rõ hơn bi kịch của Đỗ Thiếu Khanh.

Qua lời quan Hàn Lâm Thị độc họ Cao, ta biết làm quan là để kiếm tiền. Cao nói đó là cái lẽ xưa nay thế. Vậy mà nhà họ Đỗ làm sai điều đó lâu rồi: “Nhà Đỗ Thiếu Khanh đến đời ông Điện Nguyên hiển đạt lên, tuy làm quan mấy chục năm thế mà lại không biết kiếm lấy một đồng về cho nhà” (hồi 34) [1 tr.374]. Bí quyết làm quan là lấy lòng thượng cấp, mặc kệ dân đen, không được tưởng những từ ngữ trong giấy tờ và kinh sử “là thật”. Vậy mà các cụ nhà Đỗ Thiếu Khanh thì lại không hiểu bí quyết ấy. Kết quả là: “Đến đời bố làm mất chức quan” (hồi 34) [1 tr.374]. Đỗ Thiếu Khanh có thể không còn xem những lời trong sách trên giấy là thật, nhưng cái cao ngạo của công tử con nhà và vẻ ngốc nghếch tốt bụng của cậu ấm thì không sao sửa được. Lại thêm tính phóng khoáng coi thường tiền bạc – tất cả sau cùng đã khiến cho Đỗ Thiếu Khanh cử nghiệp, hoạn đồ cả hai đường trước sau đều hoang phế.

Tiểu thuyết có đoạn trần thuật trong bữa tiệc ở nhà họ Tiết, nghe Cao Thị độc thao thao bất tuyệt nói xấu nhà họ Đỗ, nho nhân Trì Hành Sơn nổi bực “đỏ mặt nói: Gần đây triều đình mời ông ta ra làm quan, ông ta còn không đi”. Lại một lần nữa qua lời phản bác của quan Hàn Lâm họ Cao, độc giả có thể thấy được nỗi bối rối và khó xử của Đỗ Thiếu Khanh: “Anh ta quả thật thông tỏ thì đã đậu đi rồi!” “Mời ra làm quan chẳng nhẽ lại được coi là xuất thân chính đồ?” (hồi 34) [1 tr.375]. Công bằng mà nói, có thể những thứ mà Cao “thông tỏ” lại là những thứ mà Đỗ chẳng thèm “thông”, còn “chính đồ” của Cao thực ra cũng chẳng “chính” vào đâu. Thế nhưng thực tế mạnh hơn tranh biện suông.[7]  Đỗ Thiếu Khanh ở vào buổi khoa cử lẫn quan trường đều đến hồi sa đọa. Giả dụ quan trường đã hư mà khoa cử hãy còn khả dĩ, Đỗ thi đậu mà không ra làm quan thì còn có thể ngước nhìn cha ông, vui đời danh sĩ. Hoặc ngược lại tuy khoa cử suy đồi mà quan trường còn chỗ sạch sẽ thì Đỗ có thể nhận lời mời đặc cách không qua thi cử ra làm quan, giúp đời giúp nhà. Đến lúc cáo quan về nhà làm chuyện của mình chắc cũng không đến nỗi muộn. Ấy vậy mà trên thực tế cả hai đường đó cũng đều chỉ là những điều tưởng tượng. Thực ra đối đáp giữa Trì Hành Sơn và Cao Thị độc trong bữa tiệc ở nhà họ Tiết phản ánh trọn cuộc tranh luận của thời đại. Đó không chỉ là một sư va vấp của những quan niệm giá trị và quan niệm nhân sinh. Cao hơn đó là sự phản ánh cả cơn khốn khó, bước khủng hoảng của cả đám người trong tư cách là sĩ nhân của thời đại. Tình hình đúng như khái quát của học giả Chu Nguyệt Lượng:

Đoàn quân của những danh sĩ giả, nho nhân bát cổ (nguyên văn “八股士bát cổ sĩ” – chỉ sĩ nhân học thi làm quan dưới chế độ khoa cử dùng văn bát cổ) đang làm quan hay chưa thi đậu hoặc đã thôi chức cùng phong trào tập tục lan tràn khắp xã hội đã dồn họ (chỉ đám người như Đỗ Thiếu Khanh, Ngu Dục Đức – LTT) thành “cô đảo”. Trong thế đối sánh đó, những nô tài của danh lợi và bọn tàn tật về mặt đạo đức chính là đối tượng của đả kích. Tác giả cũng muốn để họ phản công lại bọn tiểu nhân hư cuồng đó. Vậy mà điều bất hạnh là bọn không còn liêm sỉ và vô tích vị đó lại sống hiên ngang mạnh mẽ còn họ thì không biết làm sao cho phải. Một chút tinh thần phản tỉnh và sự sáng suốt trong tâm hồn cũng chỉ để làm họ bối rối khó xử mà thôi” [5 tr.67].

Phân tích tâm lí tính cách cùng hoàn cảnh xuất thân của Đỗ Thiếu Khanh trên đây sẽ cho ta thấy cũng là một sĩ nhân nhưng khi đối mặt với mối quan hệ truyền kiếp trí thức và chính quyền, Đỗ đã không thể giải quyết theo cách của hai người bạn Trang Thiệu Quang và Ngu Dục Đức (“Người đời Nam Bắc đường muôn ngả” – Nhân sinh Nam Bắc đa kì lộ, câu mở đầu bài từ đầu tiểu thuyết). Vì vậy nhận định Đỗ Thiếu Khanh sở dĩ chối không ra làm quan là bởi vì “Tinh thần của cha ông nơi Đỗ Thiếu Khanh cũng đã tiêu tan hoàn toàn” như Hạ Chí Thanh theo chúng tôi là thiếu đi một sự “đồng cảm”, chia sẻ với cảnh khó xử và nỗi khổ tâm của nhân vật này. Tương tự như việc ngược lại, rất nhiều nhà phê bình cho những lời của Cao Thị độc là “bất cập” và tiêu cực. Cần phải thấy được rằng, mỉa mai trào phúng của tác giả đối với những nhân vật như Lỗ Biên tu, Cao Thị độc, Mã Thuần Thượng là điều không phải bàn cãi, thế nhưng tư tưởng của nhà văn đâu dừng ở những phê bình đơn giản thuần túy đạo đức đó. Và thực ra, khi Cao chỉ ra thực chất của khoa cử và quan trường thì y cũng đâu có phạm lỗi gì về đạo đức? Trong tư cách là một phần tử (một phần tử phấn đấu tốt) của thời đại, Cao cũng như số đông đã bước được lên đường hoạn lộ, đang “làm việc” cho nhà nước để giữ bát cơm cho mình. Trong hoàn cảnh xã hội và thời đại cụ thể đó, cuộc sống của ông Thị độc này chẳng qua cũng chỉ là một phương án phổ thông, thiết thực mà ông ta chọn lựa khi phải giải quyết mối quan hệ giữa trí thức và chính quyền mà thôi. Nếu Cao sau khi nhìn rõ thế đạo làm quan chỉ vì tiền, khoa cử phải luồn lách bèn “đóng cửa đọc sách” hay ẩn cư núi vắng thì đã lại là một thân phận khác giữa nho lâm (như Vương Miện đầu sách chẳng hạn). Với tư cách là một phần của thế giới hình tượng Nho Lâm Ngoại Sử, nhân vật Cao Thị độc gánh một phần quan trọng trong việc chuyển tải “tư tưởng chủ đề” của tác phẩm. Sự phân tích thuần túy xã hội học đối với một hình tượng nhân vật thường tự mình khó mà kín lẽ nếu không nói là đã bỏ quyên vẻ đẹp về mặt nghệ thuật. Logic câu chuyện chung trong tiểu thuyết khiến độc giả tự ngộ ra rằng nếu trong một xã hội chỉ có những kẻ như Cao mới phấn-đấu được “chức quan” còn những người như ông cha Đỗ Thiếu Khanh đành “mất chức”; chỉ những kẻ như Cao mới thi đậu còn những người như Mã Nhị, Vương Ngọc Huy mãi mãi chỉ là một tú tài kiết; chỉ những kẻ như Cao mới là Hàn Lâm quan Thị độc cao đàm khoát luận giữa tiệc tùng long trọng còn đám đông những ông mền ông kép chấm ngón tay rượu cặn viết giảng mấy chữ nhân chi sơ giữa bữa cỗ làng – thì thử hỏi đó là một thời đại như thế nào? Trong cái xã hội đó, cái quan hệ giữa nhà nước và giai tầng trí thức sẽ ra sao? Lẽ nào đây lại không phải là những câu hỏi cơ bản nêu bật lên từ cuốn tiểu thuyết này?

Vậy nên nếu như có phê bình Đỗ Thiếu Khanh thì ta không nên phê bình Đỗ không ra làm quan mà nên phê bình cuộc sống kiểu con người thừa từ sau ngày “ẩn tại thành thị” của chàng: “không làm được việc gì nên chuyện, chỉ tiêu phí dần thời gian vào trong lạc thú vãn cảnh uống rượu, đàm đạo suông cùng bè bạn” [2 tr.243]. Thế nhưng nếu thế thì vấn đề lại trở về vị trí cũ: trong một thời đại xã hội như vậy, rốt cuộc ai có thể làm được một việc gì nên chuyện? Thử xem những đại biểu nho nhân hành đạo, những “thực tiễn gia” của “lễ nhạc binh nông” kia kết cục ra sao? Hoặc hỏi những sĩ nhân vùi đầu với chú giải khảo cứu lập thuyết “đóng cửa viết sách” (miêu tả Trang Thiệu Quang ngày chưa ra mặt với đời) kia rốt cuộc đã “tàng nhi danh sơn” được những thứ gì? Không biết sau cùng khi – xin được dùng cách nói ngày nay – “lập hồ sơ” để truy phong bằng tiến sĩ, bộ Lễ có “tập hợp sưu biên” được chút tài liệu gì  không? (xem hồi 56).[8] Bao nhiêu thi tập và biên khảo chú giải được nêu rõ nhan đề của các nho nhân trong tiểu thuyết mà nào có thấy “trích dẫn” ra được lấy một câu nào đâu (thực khác với Tây Du, Tam Quốc hoặc Hồng Lâu!) Tiểu thuyết tả cảnh tiễn biệt Ngu Dục Đức rời Nam Kinh chuyển ra làm quan nơi xa, Đỗ Thiếu Khanh nói: “Lão thúc đi, cháu từ nay không nơi nương tựa nữa rồi” (hồi 46) [1 tr.498]. Câu nói của Đỗ làm ta đau lòng. Công tử con nhà đến lúc đó cơ hồ đã tiêu sạch sản nghiệp, có lúc còn phải nhờ ông nghè họ Ngu kiếm chút việc đại loại như viết văn bia để trang trải chi tiêu (hồi 36, tr.402). Đối với Đỗ Thiếu Khanh, Ngu không chỉ là nơi nhờ cậy về mặt vật chất mà cũng là một chỗ dựa tinh thần. Quả thực sau khi Ngu Dục Đức ra đi, Đỗ đã mất đi chỗ tâm giao đàm đạo. Có điều sau cuộc tiễn biệt này, trần thuật của tiểu thuyết cũng chẳng còn bao giờ nói gì đến cuộc sống của nhân vật này nữa. Và Ngu Dục Đức cũng từ biệt độc giả tại đây. Tên của hai người đôi lần còn xuất hiện trở lại thì cũng chỉ là trong một cuộc chuyện trò nào đó của vài ba nhân vật như là lời nhắc lại chuyện danh sĩ thành Nam Kinh xưa mà thôi. Cảnh cùng đường mạt lộ của các sĩ nhân đó không được trực tiếp tả đến mà cứ thấp thoáng hoài trong dòng trần thuật của cuốn tiểu thuyết. Trách gì vào lúc kết thúc tiểu thuyết, tác giả đã đưa vào bài từ kết thúc với những câu: “Chép vào quyển sách rách mà lòng đau như cắt” (写入残编总断肠 tả nhập tàn biên tổng đoạn trường – Bản tiếng Việt dịch thoát: “Chép lại thành thơ, thảy đoạn trường”). Trong nỗi đoạn trường đó chắc chắn có một phần không nhỏ tình cảm dành cho Đỗ Thiếu Khanh – một nhân vật mà bi kịch và cảnh ngộ của nó như tuồng cũng là một sự ánh xạ của chính cảnh huống cuộc đời tác giả. Giải mã trở lại chân dung tinh thần của nhân vật này theo một đường hướng mới chắc chắn sẽ góp phần tiến xa hơn trên con đường thức nhận chủ đề tư tưởng cuốn tiểu thuyết.

 

Thiên Tân 2003-2012 Hà Nội

[1]Hsia Chih-tsing: 夏志清 (Hạ Chí Thanh 1921- ), giáo sư Columbia University, Viện sĩ Trung Hoa Dân Quốc Trung ương Nghiên cứu Viện. Trao đổi của chúng tôi xoay quanh luận giải về nhân vật Đỗ Thiếu Khanh mà Hạ trình bày trong chương viết về Nho lâm Ngoại Sử sách Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết sử luận, Giang Tây nhân dân xuất bản xã, bản in năm 2001 (dịch từ nguyên tác tiếng Anh Hsia Chih-tsing, The Classic Chinese Novel). Chúng tôi dẫn lại Hạ Chí Thanh từ bản dịch tiếng Trung này.

[2] Nho Lâm Ngoại Sử bản dịch tiếng Việt Chuyện Làng Nho. Tất cả các đoạn dẫn tác phẩm trong bài này đều dẫn dịch từ [1] Nho Lâm Ngoại Sử, Tân thế giới xuất bản xã, bản in 2001; Số trang đối ứng bản dịch ở đây thống nhất dẫn theo bản dịch tiếng Việt [3] [4] Chuyện Làng Nho, Nxb.Văn Học, 2001

[3] Cũng giống như tác giả của chính tiểu thuyết – Ngô Kính Tử vậy.

[4] Những nét tương đồng giữa cuộc đời Ngô Kính Tử với hình tượng Đỗ Thiếu Khanh khiến nhiều học giả nói đến cái gọi là “chân dung tự họa” của tác giả tiểu thuyết. Chúng tôi trong lúc chia sẻ với cách đặt vấn đề như vậy đồng thời cũng luôn tự lưu ý mình không vì thế mà cố nhìn nhận nhân vật này như là hiện thân lý tưởng của tác giả. Chẳng có gì ngăn cản ta nêu vấn đề tác giả sẽ dùng nguyên mẫu chính mình như là một hành động “tự kiểm điểm bản thân”. Rốt cuộc như ta thấy chàng công tử thế gia họ Ngô sau khi chuyển nhà Nam Kinh (như nhân vật Đỗ Thiếu Khanh), tiêu tán hết gia sản thì cũng đã “làm một số việc của mình”. Trong những việc đó có việc lưu lại hậu thế danh tác Nho Lâm Ngoại Sử.

[5] Nho Lâm Ngoại Sử giới thiệu tập trung bộ ba nhân vật Đỗ Thiếu Khanh – Trang Thiệu Quang – Ngu Dục Đức ở trung tâm tiểu thuyết. Phân tích độc lập về Tranh Thiệu Quang như một hình mẫu nho nhân cơ hội, đầu cơ thành công “sở học” của mình với nhà nước xin xem Lê Thời Tân, “”Lộn trái” một hình tượng mở lối tìm hiểu tư tưởng chủ đề Nho lâm Ngoại sử”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, số 1 (34) – 2014; Phân tích cả ba nhân vật trong thế bộ ba nhằm đào sâu hơn nhận thức tư  tưởng chủ đề tiểu thuyết xin xem Lê Thời Tân,  “Từ kinh điển trang nghiêm đến tiểu thuyết hoạt kê – một cách đọc hiểu liên văn bản (Đọc hiểu Nho lâm Ngoại sử bằng từ khóa Luận Ngữ)”, Tạp chí Khoa học (Khoa học Xã hội&Nhân văn), Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số 52(86) tháng 11/2013.

[6] Đương nhiên ta không thể đặt vấn đề có hay không dấu nháy nháy biểu thị “dẫn nguyên lời” nhân vật hay in nghiêng phần được xem là lời của nhân vật trong chuỗi lời trần thuật của người kể khi đọc các tiểu thuyết cổ Trung Quốc. Nhưng việc đó không có nghĩa là nhà văn Trung Hoa thời đại chưa có bản in chữ rời với quy định dấu câu không ý thức được vấn đề các dạng thức phát ngôn trong tự sự bằng lời. Thực tế thì bất cứ một trần thuật bằng lời nào kể cả khi không được viết/chép ra đều ý thức rõ ranh giới của các lời được kể.

[7] Xem hồi 49 “Quan Hàn Lâm bàn chuyện long hổ bảng”. Hồi này hé lộ bí quyết họ Cao đậu được vào hàng đại khoa đủ biết “chính đồ” của viên Hàn Lâm Thị độc này. May sao Đỗ lại vắng mặt trong bữa tiệc này nếu không còn biết mở mồm ra sao (Chủ nhân họ Tiết có mời Đỗ Thiếu Khanh, nhưng Đỗ “Nhân vì đang cáo bệnh để chối quan huyện, nằm nhà bấy lâu không thể ra ngoài” nên cũng không tới dự tiệc được. Một chi tiết nhỏ này cũng cho ta thấy tính toán kín đáo của tiểu thuyết gia trong việc sắp xếp trần thuật.

[8] Hồi 56 kể chuyện triều đình “ân hận” khoa cử tuyển hiền quá hà khắc khiến cho biết bao nho nhân ôm tài về nơi chín suối nên đã lệnh cho các địa phương lập hồ sơ (tìm mộ chí, lên danh sách, sưu biên thơ văn của các sĩ nhân) để ân tứ truy phong bảng vàng tiến sĩ cập đệ cho các nho nhân quá cố. Giới phê bình quen gọi danh sách truy phong tiến sĩ cập đệ này là “幽 榜 U Bảng” (bảng tiến sĩ cho các u hồn nho nhân). Nho Lâm Ngoại Sử bản dịch tiếng Việt Chuyện Làng Nho theo dùng bản của Nhân dân Văn học Xuất bản Xã không công nhận có hồi 56.

Tài liệu tham khảo

[1] 吴敬梓,《儒林外史》新世界出版社出版, 2001

Nho Lâm Ngoại Sử, Tân thế giới Xuất bản xã, 2001

[2] 夏志清《中国古典小说史论》江西人民出版社, 2001 (Bản dịch tiếng Trung Trung Quốc Tiểu thuyết Sử luận, Hồ Ích Dân, Thạch Hiểu Lâm, Đơn Khôn Cầm dịch, Giang Tây Nhân dân xuất bản xã, 2001).

[3] Phan Võ-Nhữ Thành dịch, Chuyện Làng Nho, tập 1, Nxb.Văn Học, 2001

[4] Phan Võ-Nhữ Thành dịch, Chuyện Làng Nho, tập 2, Nxb.Văn Học, 2001

[5]周月亮“誤解與反諷:略論《儒林外史》所揭示的文化與現狀的矛盾”《清華大學學報》 第三 期, 1996 (Chu Nguyệt Lượng, “Ngộ giải dữ phản phúng – lược luận Nho Lâm Ngoại Sử sở yết đích văn hóa dữ hiện trạng đích mâu thuẫn”, Thanh Hoa Đại học Học báo, quyển 1, kì 3, 1996).

Nguồn: Bản tác giả gửi Phê bình văn học

Leave a Reply